Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 313 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần VII - RƯƠNG ĐI BIỂN

❊ ❊ ❊

Muốn viết sự thật chỉ có một đường: tin những gì mình ghi lại sẽ không ai đọc tới. Không phải người khác, cũng không phải cả mình một ngày trong tương lai. Nếu không ta sẽ bắt đầu biện hộ. Cần phải thấy dòng chữ tuôn ra như cuộn mực dài từ ngón trỏ bàn tay phải; cần phải thấy bàn tay trái chùi nó đi.

Tất nhiên điều này là bất khả.

Tôi tháo dòng này, tôi tháo dòng này, sợi tơ đen tôi đang nhả ngang trang giấy.

Hôm qua tôi có bưu phẩm: một ấn bản mới tinh của Tay sát thủ mù. Đây hoàn toàn là cử chỉ đẹp, còn thì không có đồng nào, hoặc không có đồng nào cho tôi. Cuốn sách đã hết bản quyền từ lâu và giờ ai muốn xuất bản cũng được, đại diện tác quyền của Laura sẽ không được dự vào chút lợi nhuận nào. Đấy là điều xảy ra sau một số năm X quy ước từ khi tác giả qua đời: mất quyền kiểm soát. Tác phẩm thành ra trôi nổi giữa dòng đời, tự nhân mình lên trong những dạng nào có trời mới biết, mà tôi không có tiếng nói gì.

Artemesia tùng thư, nhóm này tên như vậy; dân Anh. Tôi nghĩ đấy chính là đội đã nhờ tôi viết cho bài giới thiệu, và bị tôi từ chối, dĩ nhiên. Hẳn là một đám đàn bà lập ra, nghe tên đủ biết. Tôi vơ vẩn đoán họ nghĩ đến Artemesia nào - bà nữ tướng Ba Tư trong sử Herodotus đã cắp đuôi chạy khi chiến cuộc đến hồi gió đổi chiều, hay mệnh phụ La Mã nuốt tro xương ông chồng để biến mình thành đài táng sống của ông? Nhiều khả năng là nữ họa sĩ bị hiếp thời Phục hưng: đấy là bà duy nhất mang tên đó còn được người ta nhớ đến.

Cuốn sách để trên bàn trong bếp. Tủ sách tuyệt phẩm bị quên lãng thế kỷ hai mươi là dòng chữ in nghiêng dưới nhan đề. Laura là một tác giả “hiện đại chủ nghĩa”, như mép gấp bên trong giảng giải. Nữ nhà văn “chịu ảnh hưởng” của những tác giả như Djuna Barnes, Elizabeth Smart, Carson McCullers - những người tôi biết chắc Laura chẳng đời nào đọc. Nhưng bìa sách thì không xấu lắm. Những tông màu tía ngả nâu đã phai, như tấm ảnh xưa: người đàn bà mặc áo lót, bên cửa sổ, đứng sau rèm mỏng, mặt khuất trong bóng tối. Đằng sau, một mành cắt của người đàn ông: cánh tay, bàn tay, mảng sau đầu. Cũng thích hợp lắm, tôi nghĩ vậy.

Tôi quyết định đã đến lúc gọi luật sư của mình. Cũng không hẳn là luật sư của mình. Cái người tôi vẫn coi là “của mình”, cái người đã đảm nhận vụ thu xếp với Richard, đã chiến đấu như sư tử với Winifred, dù uổng công - cái người ấy đã mất vài thập kỷ trước. Từ đó trở đi tôi liên tục bị sang tay trong hãng luật, như bình trà bạc chạm trổ bị đẩy cho mỗi thế hệ con cháu làm quà cưới, mà chẳng có ai dùng đến.

“Cô cho gặp ông Sykes,” tôi nói với giọng con gái trả lời máy. Một ả lễ tân nào đó, tôi nghĩ. Tôi tưởng tượng những móng tay của cô nàng, dài và nhọn, màu hạt dẻ. Nhưng có thể các cô lễ tân ngày nay không chơi loại móng tay đó nữa. Có thể là màu xanh như băng.

“Tôi xin lỗi, nhưng ông Sykes đang bận họp. Tôi sẽ báo lại là ai đang gọi đây ạ?”

Chẳng khác gì cho người máy nghe điện. “Bà Iris Griffen,” tôi nói, bằng cái giọng lạnh xương sống hết cỡ còn làm được. “Tôi thuộc số khách hàng lâu năm nhất của ông ấy.”

Cũng không vì thế mà có tiến triển. Ông Sykes vẫn cứ bận họp. Có vẻ là một anh chàng bận rộn. Nhưng sao tôi lại nghĩ là một anh chàng? Ông ta có khi đã năm mươi mấy - có thể còn sinh đúng năm Laura ra đi. Nó đã chết được lâu thế ư, đủ thời gian cho một gã luật sư lớn lên rồi chín rục? Lại thêm một điều chắc phải đúng vì tất cả mọi người đều coi là đúng, dù đối với bản thân tôi thì hình như không.

“Tôi có thể trình bày lại yêu cầu cho ông Sykes được không?” cô lễ tân hỏi.

“Di chúc,” tôi nói. “Tôi đang tính lập di chúc. Ông Sykes vẫn thường bảo tôi nên lập đi.” (Đây là nói dối, nhưng tôi muốn cái bộ não mất tập trung của cô nàng lưu ý rằng ông Sykes và tôi là đôi bạn cánh hẩu.) “Cộng thêm một vài việc khác nữa. Tôi đang chuẩn bị đến Toronto nhờ ông Sykes tư vấn. Có lẽ ông có thể dành một cú điện thoại cho tôi, khi nào có chút thời giờ.”

Tôi hình dung ông Sykes nhận tin; tôi hình dung cơn rùng mình nho nhỏ chạy dọc sống lưng ông ta khi cố định vị tên tôi, rồi cũng nhớ ra. Bàn chân vịt bước qua mộ. Đấy là điều người ta vẫn cảm thấy - ngay cả tôi - khi đọc báo thấy những tin vô thưởng vô phạt về các nhân vật có thời nổi tiếng, hào nhoáng hay tai tiếng, và ai cũng tưởng chết lâu rồi. Rồi té ra họ vẫn sống tiếp, trong một hình hài quắt queo đen đúa, phủ đầy gỉ sét tháng năm, như bọ cánh cứng sống dưới hòn đá.

“Vâng, dĩ nhiên, thưa bà Griffen,” cô thư ký nói. “Tôi hứa sẽ nhắc ông gọi lại cho bà.” Những cô này chắc đã được đào tạo bài bản thuật diễn cảm, để đạt được cái độ cân bằng chuẩn xác giữa ân cần và khinh miệt. Nhưng tôi phàn nàn gì? Năng khiếu ấy tôi cũng từng thành thục, một thời, chính tôi đây.

Tôi bỏ máy. Đảm bảo thế nào cũng có liếc mắt nhướng mày giữa ông Sykes và đám bằng hữu trẻ trung sói trán bụng bia ngồi Mẹc: Mụ khọm này liệu còn gì mà để lại?

Nghĩa là, còn gì đáng kể ra?

Trong một góc bếp có cái rương đi biển, dán đầy những nhãn tả tơi. Nó thuộc về bộ hành lý đồng màu ngày xưa thuộc số hồi môn của tôi - da bê vàng sáng một thời, giờ đã xỉn, đai thép đã sứt mẻ và cáu bẩn. Rương vẫn khóa luôn, chìa nằm lút giữa lớp cám ngũ cốc đáy lọ nút kín. Hộp thiếc đựng cà phê hay đường thì dễ đoán quá.

Tôi đánh vật với cái nắp lọ - đến phải nghĩ xem có chỗ giấu nào tốt hơn, dễ lấy hơn - cuối cùng cũng bật được nắp, lấy chìa ra. Tôi quỳ xuống có chút khó khăn, vặn chìa trong ổ, nhấc nắp rương.

Tôi không mở rương này từ lâu lăm rồi. Mùi cháy sém như lá thu từ giấy cũ tỏa lên đón tôi. Tập vở còn nguyên, bày ra trước mắt lớp bìa vở rẻ tiền, như mạt cưa ép. Cả tập bản thảo đánh máy, quấn ngang dọc thứ chỉ bếp từ đời tám hoánh nào. Cả thư gửi các nhà xuất bản - do tôi viết, dĩ nhiên, không phải Laura, lúc ấy nó chết rồi - và những bản bông đã sửa. Cả thư chửi rủa, đến khi tôi thôi không lưu nữa.

Còn có cả năm cuốn bản in đầu tiên, bìa áo vẫn mới như khi xuất xưởng - lòe loẹt thật, nhưng bìa áo nào cũng thế, vào những năm ngay sau chiến tranh. Màu sắc dùng là màu cam rợ, màu tía tẻ, màu lá mạ chua lè, in trên giấy mỏng run rẩy, tranh minh họa xấu phát gớm - một nữ tử giả Cleopatra, vú xanh lá tròn ung ủng, mắt viền phấn côn đen sì, dây chuyền tía dài từ rốn lên cằm và cái miệng bĩu khổng lồ màu cam, đang trồi lên như thần đèn từ đám khói uốn éo đầu điếu thuốc lá tía. A xít đang ăn dần các trang, cái bìa nhiễm độc phai dần như bộ lông con chim nhiệt đới nhồi bông.

(Tôi nhận được sáu cuốn miễn phí - sách biếu cho tác giả, ấy là gọi thế - nhưng đã gửi một cho Richard. Tôi không biết số phận nó ra sao. Tôi đồ rằng ông ta đã xé vụn nó ra, cũng như mọi giấy tờ ông ta không muốn. Không phải - tôi nhớ ra rồi. Cuốn sách ở với ông ta trên thuyền, trên bàn bếp, bỏ cạnh đầu. Winifred gửi lại cho tôi kèm lời nhắn: Xem xem cô đã làm gì! Tôi quăng nó đi. Tôi không muốn quanh mình có bất cứ vật gì từng đụng vào Richard.)

Tôi vẫn thường tự hỏi nên làm gì với nó - với kho tàng đầu mẩu, bộ sưu tập tí hon này. Tôi không đành lòng bán, nhưng cũng không đành lòng bỏ. Nếu tôi không làm gì cả, lựa chọn sẽ về tay Myra, người sẽ dọn dẹp khi tôi đi. Sau vài giây kinh hãi ban đầu - giả thử cô có đọc - chắc chắn tiếp đó sẽ có màn cắt xé. Rồi một que diêm đánh lên và không ai còn biết đấy là đâu. Cô sẽ coi đó là nghĩa vụ trung thành - nếu là Reenie sẽ làm như vậy. Những ngày xưa mọi chuyện xấu đều được giữ kín trong gia đình, dù gì thì đấy vẫn là nơi thích hợp nhất, mặc dù cũng khó nói chuyện xấu có ở đâu được coi là thích hợp. Việc gì phải xới tung mọi thứ sau bao nhiêu năm, khi mọi người trong cuộc đã nằm yên, như trẻ chơi đã mệt, dém kỹ trong mỗi nấm mồ?

Có lẽ tôi nên di chúc lại cái rương cùng mọi thứ bên trong cho một trường đại học, hoặc không thì cho thư viện. Ít nhất nó cũng sẽ lọt mắt xanh những nơi ấy, dù là con mắt dân đào mả. Số học giả thèm được sục móng vuốt vào đống giấy lộn này cũng không thiếu. Tư liệu, họ gọi thế - thuật ngữ nội bộ chỉ của ăn cướp. Họ chắc phải coi tôi là một mụ rồng mốc meo ngồi xổm trên kho báu cướp được - một con chó già giữ xương khẳng kheo, một mụ quản giáo khô quắt chỉ chăm chăm kiểm duyệt, một tay giám ngục mặt sắt đen sì, giữ chặt chìa hầm ngục giam Laura chết đói bị xích vào tường.

Đã hàng năm nay họ dội xuống tôi hết thư lại từ, đòi hỏi thư từ của Laura - đòi bản thảo, kỷ vật, đòi gặp gỡ phỏng vấn, đòi hồi ức - càng chi tiết rùng rợn càng hay. Đáp lại những công văn dai dẳng ấy tôi từng soạn những phúc đáp cụt lủn thế này:

“Gửi cô W., Theo ý tôi ‘Lễ Tưởng Niệm’ tại cây cầu nơi Laura Chase tử nạn là một kế hoạch vừa vô duyên vừa bệnh hoạn. Cô nên xem lại thần kinh của mình. Tôi tin chắc cô đang mắc chứng nhiễm độc nội sinh đường ruột. Cô nên thử dùng thuốc xổ.”

“Gửi bà X., Tôi thông báo đã nhận được thư cho biết đề cương luận văn của bà, dù tôi không thấy cái nhan đề có nghĩa gì ra đầu ra đũa. Hẳn nhiên với bà thì có, nếu không bà đã chẳng nghĩ ra làm gì. Tôi không giúp được gì hết. Hơn nữa bà cũng không đáng được giúp đỡ. ‘Giải cấu trúc’ gợi liên tưởng tới cái giải rút, còn ‘lạ hóa’ không có trong từ điển.”

“Gửi tiến sĩ Y, Về công trình nghiên cứu những hàm nghĩa thần học trong Tay sát thủ mù: em gái tôi có những xác tín tôn giáo sâu sắc nhưng khó có thể coi là truyền thống. Cô ấy không ưa Chúa hay tán đồng Chúa hay tuyên xưng là mình hiểu Chúa. Cô ấy nói mình yêu Chúa, và cũng như giữa con người, đấy là một điều khác hẳn. Không, cô ấy không theo đạo Phật. Đừng có đần. Tôi đề nghị ông đi học cách đọc.”

“Gửi giáo sư Z: Tôi ghi nhận ý kiến của ông cho rằng viết tiểu sử Laura Chase là một việc đáng phải làm từ lâu. Cô ấy rất có thể, như ông nói, là ‘một trong những tác giả nữ quan trọng nhất của ta giai đoạn giữa thế kỷ’. Cái này tôi không biết. Nhưng việc tôi cộng tác với cái mà ông gọi là ‘dự án của ông’ thì không phải bàn. Tôi không có nhu cầu thỏa mãn nỗi thèm thuồng những ống máu khô và ngón tay thánh nhân chặt đứt của ông.

Laura Chase không phải là ‘dự án’ của ông. Cô ấy là em gái tôi. Cô ấy chắc chắn không muốn bị sờ mó nắn bóp sau khi chết, dù cái trò sờ mó có được đặt cho uyển ngữ đẹp đẽ gì nữa. Những gì viết ra có thể gây rất nhiều hậu họa. Tiếc là nói chung, người ta không nghĩ đến chuyện đó.”

“Gửi cô W: Đây là thư thứ tư của cô nói mãi một chuyện. Đừng quấy rầy tôi nữa. Đồ ký sinh trùng.”

Suốt nhiều thập kỷ tôi nhấm nháp nỗi hài lòng tăm tối khi ngoáy những dòng nọc độc. Tôi rất thú được liếm con tem, rồi quăng những lá thư lộp bộp như lựu đạn vào cái hộp đỏ bóng nhoáng, như đã bịt được mồm một gã rình mò tham lam và khẩn khoản. Nhưng gần đây tôi không trả lời thư nữa. Châm chọc bầy lạ mặt làm gì? Họ đâu có thèm biết tôi nghĩ gì về họ. Với họ tôi chỉ là một món đính kèm, là bàn tay thừa lạc lõng của Laura, không gắn với thân người nào cả - bàn tay đã đưa nó đến, đến với thế giới, với họ. Họ coi tôi như một cái kho - một cái lăng sống, một nguồn, như họ gọi. Việc gì tôi phải gia ơn? Cứ theo tôi thấy họ chỉ là quân bới xác - linh cẩu, cả lũ bọn họ; chó rừng đánh hơi thây rữa, quạ săn tìm thú chết bên đường, ruồi bu xác thối. Họ muốn bới tôi như bới một đống xương, tìm kim loại vụn và đồ sứ vỡ, tìm mảnh chữ hình nêm và giấy cói, tìm của hiếm, đồ chơi đánh mất, răng vàng. Nếu có bao giờ ngờ ngợ đoán được trong này tôi giấu những gì, họ sẽ bẩy khóa, sẽ phá cửa chui vào, sẽ nện vào đầu tôi và ôm chiến quả chuồn mất, mà chẳng hề thấy cần biện bạch.

Không. Dẹp trường đại học đi. Tội gì cho họ thỏa lòng?

Có lẽ cái rương đi biển nên gửi cho Sabrina, bất kể nó quyết tâm cắt mọi đường liên lạc, bất kể - cái đau âm ỉ là đây - nó kiên định tảng lờ tôi. Dù thế, máu đào vẫn hơn nước lã, đấy là điều ai cũng biết nếu đã nếm cả hai. Những vật này thuộc quyền của nó. Thậm chí có thể nói đây là của thừa kế: dù sao nó cũng là cháu ruột tôi. Nó cũng còn là cháu họ của Laura. Dĩ nhiên nó sẽ muốn tìm hiểu nguồn gốc mình, một khi đến lúc.

Nhưng hiển nhiên Sabrina sẽ từ chối món quà. Nó đã là người lớn rồi, tôi vẫn phải tự nhắc mình. Nếu nó có gì cần hỏi, có bất cứ gì cần nói với tôi, nó sẽ tự đến với tôi.

Nhưng sao nó chưa đến? Cái gì giữ chân nó qua từng ấy năm? Có phải im lặng là cách nó trả thù, vì một việc hoặc một người nào đó? Không phải vì Richard, hẳn rồi. Nó chưa bao giờ biết Richard. Cũng không phải vì Winifred, nó đã chạy trốn mụ ta. Vậy là vì mẹ nó - vì Aimee tội nghiệp?

Liệu nó nhớ được gì? Lúc ấy nó mới lên bốn.

Aimee chết không phải lỗi ở tôi.

Sabrina bây giờ ở đâu, và đang tìm kiếm cái gì? Tôi hình dung nó là một cô gái dong dỏng, có nụ cười ngập ngừng, một thanh nữ khổ hạnh; nhưng rất đáng yêu, đôi mắt nghiêm nghị cũng xanh như mắt Laura, mái tóc đen dài xoăn lọn như mãng xà đang ngủ quanh đầu nó. Nó sẽ không trùm khăn, đương nhiên; nó sẽ hợp lý mà xỏ xăng đan, hoặc có khi dận bốt, gót mòn vẹt cả. Hoặc có khi nó lại quấn sari cũng nên? Những cô gái như nó thường làm thế.

Nó đang theo đuổi một sứ mệnh nào đó - nuôi sống dân nghèo thế giới thứ ba, an ủi kẻ sắp chết; đền lại tội lỗi cho những kẻ còn lại trong chúng ta. Một nhiệm vụ không tưởng - tội lỗi chúng ta là một cái vực không đáy, và vẫn không ngừng sản sinh thêm nữa. Nhưng đấy là dụng ý của Chúa, hẳn nó sẽ cãi lại như vậy - cái không tưởng ấy. Ngài lúc nào cũng thích cái vô dụng lợi. Ngài ta nghĩ như thế là cao quý.

Nó giống Laura ở cái tính ấy, cái thiên hướng làm gì cũng tuyệt đối, cái thói khước từ thỏa hiệp, cái khinh bỉ những thiếu sót trầm trọng của con người. Để làm được thế mà suôn sẻ, người ta phải đẹp. Nếu không sẽ chỉ là đứa lắm điều.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.