Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BUỔI PICNIC NHÀ MÁY CÚC

❊ ❊ ❊

Kỳ nghỉ lễ Lao động đến rồi đi, để lại một vệt dài cốc nhựa, bình thủy tinh và bóng bay đang chầm chậm xẹp trong luồng nước ngược từ những xoáy sông. Tháng Chín đang dần ngự trị. Sức nóng chính ngọ vẫn không giảm, nhưng mặt trời mỗi sáng lại mọc muộn hơn, kéo lết thết đằng sau một vệt hơi nước, và các buổi chiều muộn dịu mát dế rỉ rả khắp nơi. Thạch thảo dại trổ từng cụm trong vườn, sau khi đậu rễ từ một buổi không tên nào đó - những bông hoa trắng tí xíu, vài bông rậm cánh hơn màu da trời, lại có loại mọc trên cành ram ráp, màu hoa cà đậm. Một thời, cái hồi còn lấy vườn tược cho nguôi thời giờ, tôi sẽ xếp hạng thứ này là cỏ và nhổ bằng sạch. Giờ tôi không còn phân biệt nữa.

Thời tiết này đi bộ đã thú hơn, mắt không còn bị lóa hay lấp loáng. Du khách đã vãn dần, và số còn sót lại ít nhất cũng kín cổng cao tường: không còn quần soóc thùng thình và kính mát ốp mặt, không còn những cẳng chân hun đỏ.

Hôm nay tôi lên đường nhắm hướng Bãi Trại. Tôi lên đường, nhưng được nửa đường thì gặp Myra đi ngang hỏi tôi có cần ngồi nhờ xe không, và phải xấu hổ mà nói rằng tôi ưng thuận: tôi hụt hơi rồi, và đã nhận ra đường xa quá sức mình. Myra hỏi tôi đang đi đâu, mà vì sao - cô nàng chắc đã thừa hưởng được bản năng chăn dắt, từ Reenie. Tôi nói địa điểm; còn lý do, tôi nói chỉ muốn nhìn lại nơi đó lần nữa, ôn lại chuyện xưa. Nguy hiểm lắm, cô nói: ai mà biết được có những của gì bò dưới tầng cây thấp. Cô bắt tôi hứa ngồi yên trên ghế đá công viên, chỗ nào dễ nhìn, đợi cô ở đó. Cô nói sau một giờ sẽ quay lại nhặt tôi.

Càng lúc tôi càng thấy mình giống một lá thư - bỏ chỗ này, nhặt chỗ khác. Nhưng là một lá thư không đề người nhận.

Bãi Trại chẳng có gì nhiều nhặn mà nhìn. Đấy là một dải đất giữa đường cái và sông Jogues - một hai mẫu gì đó - có cây cối và những lùm bụi thấp, khi vào xuân thì cộng thêm muỗi bay lại từ mảng đầm lầy chính giữa. Đấy là khu săn mồi của diệc, đôi khi nghe giọng chúng khàn khàn rền rĩ, như tiếng gậy gỗ cọ vào thiếc ráp. Thảng hoặc vài kẻ ngắm chim dò dẫm quanh đó với vẻ rầu rĩ đặc trưng, như tìm kiếm thứ gì đánh mất.

Trong bóng cây những vệt màu bạc lóe lên, vỏ bao thuốc lá, bao cao su vứt đi trông như rẻo khoai nhợt nhạt xẹp lép, những vuông khăn giấy dùng rồi nhũn nhẽo vì mưa. Chó mèo đánh dấu lãnh thổ, tình nhân ham hố lẻn vào giữa các gốc cây, dù so với hồi xưa thì ít hơn - thời nay có nhiều lựa chọn. Dân nhậu xỉn ngủ dưới các bụi rậm rạp khi hè đến, và trẻ con mới lớn đôi khi tới đây hút hít những thứ chúng vẫn hút hít. Có thể thấy những đốt nến vụn, hay thìa sạm đen, thi thoảng thấy cả kim tiêm dùng một lần. Những chuyện này tôi nghe từ Myra, cô nghĩ đúng là ô nhục. Cô biết đốt nến hay thìa dùng để làm gì: chúng là trang thiết bị xì ke. Tội lỗi ở khắp nơi, xem ra là thế. Et in Arcadia ego[1].

Một hay hai chục năm trước đã có kế hoạch dọn sạch khu này. Một tấm biển dựng lên - Công viên Đại tá Parkman, nghe khá nhạt nhẽo - và ba cái bàn ăn ngoài trời quê kiểng cùng một thùng rác nhựa và vài nhà vệ sinh di động được đưa vào, nghe nói là để phục vụ khách từ ngoài thị trấn, dù khách loại đó thường ưa nốc bia và xả rác ở nơi nào tiện ngắm sông hơn. Rồi vài cậu hiếu sát bắt đầu dùng cái biển để luyện tay súng, còn bàn và toa lét bị dời đi theo lệnh chính quyền tỉnh - lý do ngân sách gì đó - và thùng rác không ai dọn bao giờ, mà lại thường xuyên bị chồn raccoon phá phách, nên cuối cùng cũng bị dời nốt, và bây giờ khu này lại trở về trạng thái nguyên thủy.

Tên Bãi Trại đặt vì đây là địa điểm các buổi họp trại nghe giảng đạo ngày xưa, những cái lều lớn quây quần như đoàn xiếc và các giáo sĩ ngoại nhập khí thế bừng bừng. Hồi ấy nơi này được chăm sóc kỹ hơn, hoặc nếu không cũng bị giẫm đạp nhiều hơn. Các hội chợ rong lấy chỗ dựng rạp bán hàng hay đu quay và buộc lừa ngựa, các đoàn diễu hành nghỉ chân ở đây, rồi tản ra thành từng nhóm picnic. Đây là nơi dành cho mọi dạng tụ tập ngoài trời.

Đây cũng là nơi thường tổ chức Lễ kỷ niệm ngày Lao động Chase và Con trai. Đấy là tên chính thức, dù mọi người thường chỉ gọi là buổi picnic nhà máy cúc. Bao giờ cũng là thứ Bảy trước ngày lễ chính thức vào thứ Hai, đi với bài hùng biện thành khẩn và ban nhạc quân hành cùng băng rôn tự vẽ. Có cả bóng bay và vòng ngựa gỗ, và những trò chơi ngốc nghếch nhưng vô hại: thi nhảy bao bố, cầm thìa trứng chạy đua, chạy tiếp sức dùng cà rốt thay gậy. Các nhóm a cappella lên hát, không đến nỗi dở quá; các đội kèn Hướng đạo tò te một hai bài; từng tốp trẻ con nhảy điệu Tô Cách Lan hay rập giày kiểu Ái Nhĩ Lan trên bục gỗ mới dựng nhìn như khán đài quyền Anh, theo nhạc từ máy hát vặn dây cót. Có một cuộc thi Trang Phục Đẹp cho thú cảnh, và một cuộc tương tự cho trẻ sơ sinh. Đồ ăn dọn ra là ngô nướng, xa lát khoai tây và bánh kẹp xúc xích. Hội phụ nữ tương trợ mở quầy bánh ủng hộ quỹ này quỹ nọ, bày ra nào bánh nướng, bánh quy, bánh ngọt, nào những lọ mứt hay tương và dưa muối, lọ nào cũng đề tên riêng: Mứt Thập Cẩm của Rhoda, Mận Ướp của Pearl.

Có những trò đùa nghịch - những trò cợt nhả. Các quầy không bán gì nặng hơn nước chanh, nhưng đám đàn ông mang theo phích và chai bỏ túi, và đến chập tối sẽ có cảnh ẩu đả, hay tiếng la ó và cười hô hố qua những hàng cây, tiếp đó là tiếng nước đánh ủm quanh bờ khi một gã hay một cậu trai nào đó bị quăng xuống với đủ quần áo, hoặc có khi thiếu quần. Dòng Jogues khúc đó vừa đủ nông nên hầu như không ai chết đuối. Khi đêm xuống hẳn sẽ có bắn pháo hoa. Vào thời đại hoàng kim của buổi picnic này, hoặc thời đại theo tôi nhớ là hoàng kim, còn có cả nhảy dân vũ kiểu Mỹ, với đàn vĩ cầm. Nhưng tới cái năm tôi đang nhớ đến đây, tức là 1934, cảnh hội hè đình đám ấy đã xuội nhiều rồi.

Quãng ba giờ chiều cha tôi sẽ phát biểu, đứng trên bục người ta vừa nhảy điệu Ái Nhĩ Lan. Lúc nào cũng chỉ là một bài nói ngắn, nhưng vẫn thu hút sự chú ý theo dõi của các ông già; cả giới đàn bà nữa, vì họ hoặc là làm việc cho công ty hoặc có chồng làm đó. Khi thời buổi dần khó khăn, ngay cả đám trai trẻ cũng bắt đầu lắng nghe; cả những cô gái mặc váy mùa hè, cánh tay để trần một nửa. Bài phát biểu không bao giờ nhiều lời, nhưng phải biết cách đọc ra ẩn ý. “Có lý do vui mừng” thì tốt, “có cơ sở lạc quan” thì không.

Năm đó trời nóng và khô, cũng đã vậy khá lâu rồi. Bóng bay không nhiều như mọi năm, đu quay cũng không có. Ngô đã già, hột nhăn như da khớp ngón tay; nước chanh lễnh loãng, bánh kẹp nháy mắt đã hết. Tuy thế, vẫn không có vụ sa thải nào ở Công ty Chase, chưa có. Có cắt giảm sản xuất, nhưng sa thải nhân công thì không.

Cha nói “cơ sở lạc quan” bốn lần, nhưng “lý do vui mừng” không lần nào. Mắt tìm nhau lo ngại.

Ngày bé Laura và tôi thích cuộc picnic này lắm; bây giờ thì không, nhưng việc có mặt đã thành bổn phận. Chúng tôi phải nêu gương. Điều này đã được nhồi vào đầu chúng tôi từ nhỏ: mẹ lúc nào cũng cương quyết phải dự hội, bất kể mẹ có đau yếu đến đâu.

Sau khi mẹ qua đời và Reenie tiếp quản việc cai trị chúng tôi, chị luôn dành thời gian lựa chọn tỉ mỉ trang phục chúng tôi mặc trong dịp này: không được xoàng xĩnh quá, vì sẽ có vẻ khinh thường thiên hạ, như là chúng tôi bất cần biết dân thị trấn nghĩ gì về mình; nhưng cũng không được choáng lộn quá, thế sẽ là giương vây. Đến năm ấy chúng tôi đã đủ lớn tự chọn lấy quần áo cho mình - tôi vừa mười tám, Laura mười bốn rưỡi - dù không còn nhiều lựa chọn như trước. Chưng diện xa xỉ vốn không được tán thưởng trong nhà, dù chúng tôi cũng có những món Reenie gọi là đồ đẹp, nhưng gần đây cái từ xa xỉ đã thu lại chỉ bất kỳ đồ gì mới. Buổi picnic này cả hai đều mặc váy yếm xanh da trời và sơ mi trắng có từ hè trước. Laura đội mũ của tôi từ ba mùa trước, còn tôi đội mũ năm ngoái, riêng dải nơ mới thay.

Laura có vẻ không để tâm. Tôi thì có. Tôi nói vậy, và Laura bảo tôi là đứa trần tục.

Chúng tôi lắng nghe bài nói. (Hoặc ít ra là tôi. Laura tỏ điệu bộ lắng nghe - mắt mở to, đầu nghiêng sang bên chăm chú - nhưng chẳng bao giờ ai biết được nó đang nghe cái gì.) Trước cha lúc nào cũng hoàn thành được bài nói, dù đã uống nhiều đến đâu, nhưng lần này ông vừa đọc vừa ngập ngừng. Cha đưa tờ giấy đánh máy lại sát con mắt lành, rồi kéo lùi ra xa, chăm chú nhìn hoang mang, như nhìn hóa đơn một món hàng ông không nhớ có đặt. Áo quần ông ngày xưa lịch thiệp, rồi sau đó lịch thiệp nhưng dãi dầu, nhưng đến hôm ấy chúng đã gần thành cũ nát. Tóc ông lởm chởm hai bên tai, lâu chưa cắt; trông ông có vẻ phờ phạc - dữ tợn nữa là khác, như một gã cướp đường ở thế cùng.

Sau bài nói, chỉ thấy vài tiếng vỗ tay lấy lệ, mấy người trong số đàn ông tụ lại thành nhóm nhỏ, trao đổi thì thầm. Những người khác ngồi dưới bóng cây, trên áo khoác hay chăn trải ra đất, hoặc nằm xuống phủ khăn lên mặt ngủ gà. Chỉ là đàn ông thôi - đàn bà ai nấy đều tỉnh táo, canh chừng. Các bà mẹ đẩy trẻ con ra sông, cho chúng bì bõm ở bãi lổn nhổn sỏi. Bên vệ đường một ván bóng chày bụi bặm đã bắt đầu; một luồng xoáy khán giả vạ vật đứng xem cạnh.

Tôi ra quầy bánh giúp Reenie. Lần này là gây quỹ gì? Tôi không nhớ được. Nhưng năm nào cũng vậy tôi ra giúp - cái đó đã thành lệ. Tôi bảo Laura cũng nên tới, nhưng nó làm như không nghe thấy và bỏ đi, vành mũ mềm cầm trên tay thõng thượt.

Tôi để nó đi. Đáng ra tôi phải trông chừng nó: Reenie chẳng đời nào mất ngủ vì tôi, nhưng Laura theo chị quá cả tin, quá thân mật với kẻ lạ. Bọn buôn người lúc nào cũng rập rình, và Laura là con mồi dễ dụ. Nó sẵn sàng ngồi vào xe lạ, mở cửa không quen, qua đường không biết, và thế là hết, vì nó không biết vạch giới hạn, hoặc ít ra cũng không ở chỗ những người khác vạch, và chẳng thể cảnh cáo nó vì nó không hiểu được lời cảnh cáo. Không phải là nó coi thường luật lệ - chỉ là nó quên.

Tôi đã chán phải trông chừng Laura, mà đằng nào nó cũng chẳng biết ơn. Tôi đã chán phải hứng lấy trách nhiệm từ những cú vấp, những lần thiếu vâng lời của nó. Tôi đã chán hứng trách nhiệm rồi, chấm hết. Tôi muốn đến châu Âu, hay New York, hay là Montreal cũng được - đến hộp đêm, đến dạ hội, đến mọi nơi hấp dẫn kể tên trong tạp chí giao tế của Reenie - nhưng người ta cần tôi ở nhà. Cần ở nhà, cần ở nhà - nghe không khác gì án chung thân. Tệ hơn nữa, như nhạc cầu hồn. Tôi bị cầm tù ở Cảng Ticonderoga, thành trì kiêu hãnh của cúc áo cây nhà lá vườn và quần nịt giá rẻ cho những khách hàng chặt túi. Tôi sẽ lên meo ở đây, sẽ không đời nào gặp chuyện gì đáng kể, sẽ thành bà gái già như cô Hung Dữ cho người đời thương hại và giễu cợt. Tận đáy lòng đây là nỗi sợ của tôi. Tôi muốn đi thật xa, nhưng không nhìn ra cách nào đi được. Thỉnh thoảng tôi bắt quả tang mình đang ước bị bọn buôn người bắt cóc, dù không tin chúng có thật. Ít nhất cũng là thay đổi.

Bàn bán bánh nằm dưới tán dù, phủ khăn bàn hay giấy sáp để chặn ruồi vào thức ăn. Reenie đóng góp phần mình bằng bánh nướng, dù chị với cái lò chưa bao giờ hợp ý nhau về món này. Bánh chị làm nhân dính như keo, lại chưa chín, cùi vừa dai vừa dẻo, như bánh đa màu be hay nấm da bò khổng lồ. Thời buổi tươi sáng thì cũng bán được đấy - mọi người hiểu chúng là đồ tế lễ, không phải đồ ăn - nhưng hôm nay mãi không vơi đi. Tiền thành của hiếm, và nếu bỏ ra người ta muốn thứ gì thực sự ăn được.

Trong lúc tôi đứng bàn, Reenie thì thầm thuật lại những tin mới nhất. Đã có bốn người bị quẳng xuống sông, trong khi trời còn sáng trắng, mà không phải đều là đùa nghịch. Đã có lời qua tiếng lại, chuyện chính trị chính em, Reenie nói; người ta đã găng giọng. Ngoài trò đẩy sông lếu láo lệ thường, đã thấy có xô xát. Elwood Murray bị quật ngã. Ông ta là chủ nhiệm tờ tuần san, thừa hưởng từ hai thế hệ Murray làm báo: ông ta viết gần hết nội dung, kiêm luôn cả chân chụp ảnh. Đấy là may ông ta không bị nhấn nước, nếu không máy ảnh cũng đi luôn, mà nó đã ngốn khá nhiều tiền dù chỉ là đồ mua lại, như Reenie tình cờ biết. Ông ta bị đổ máu mũi, giờ đang ngồi trong bóng râm ôm cốc nước chanh có hai bà xoắn xuýt xung quanh, cầm khăn tay ướt; từ chỗ tôi đứng cũng thấy.

Có phải do chính trị không, cú quật ấy? Reenie không biết, nhưng không ai ưa ông ta nghe ngóng câu chuyện giữa họ. Trong thời buổi sung túc Elwood Murray được coi là thằng khờ, có thể còn là loại Reenie gọi là tám vía - chẳng gì ông ta cũng chưa có vợ, mà ở tuổi ấy thì phải có nguyên nhân chứ - nhưng vẫn được dung thứ và thậm chí cần đến nữa, trong phạm vi nhất định, miễn là ông ta in đủ các tên trong các sự kiện xã giao và không viết sai tên nào. Nhưng giờ không phải thời buổi sung túc, và Elwood Murray tọc mạch quá hóa hại. Người ta không muốn từng điều nhỏ nhặt về mình trưng ra trên giấy trắng mực đen, Reenie nói. Chẳng ai đầu óc bình thường lại đi muốn thế cả.

Mắt tôi bắt gặp cha, đi giữa đám thợ đang vui chơi với bước chân cà nhắc quen thuộc. Đầu ông gật giật cục về phía người này người kia, kiểu gật nhìn như đầu hất về sau gáy hơn là về trước. Miếng băng đen trên mắt hết ngoắt trái lại phải, nhìn từ xa như lỗ xuyên qua đầu. Ria mép ông cong thành vệt đen duy nhất như chiếc ngà vắt lệch trên miệng, đôi lúc mím vào thành một thứ có lẽ là nụ cười theo ý ông. Hai tay ông lấp trong túi áo.

Bên cạnh cha là một người trẻ hơn, cao hơn một chút, dù khác với ông người này không nếp nhăn cũng chẳng góc cạnh. Nhẵn nhụi là từ đến trong đầu. Người đó đội mũ nan khá diện và bộ vét lanh nhìn như phát sáng, vì mới sạch tinh tươm. Nhìn là biết ông ta người ngoài thị trấn.

“Ai đi với cha kia?” tôi hỏi Reenie.

Reenie nhìn mà không có vẻ đang nhìn, rồi cười gằn một tiếng. “Đấy là Ngài cao cấp hoàng gia, bằng xương bằng thịt đấy. Hắn ta quả là to gan.”

“Em cũng đoán là người đó,” tôi nói.

Ngài cao cấp hoàng gia là Richard Griffen, giám đốc Hàng dệt kim cao cấp hoàng gia ở Toronto. Thợ của chúng tôi - của cha - nhạo báng gọi là Cạo cứt hoàng gia, bởi ông Griffen không chỉ là đối thủ cạnh tranh chính của cha, mà còn gần như là địch thủ. Ông ta đã lên mặt báo chỉ trích cha nào là quá dễ dãi với dân thất nghiệp, với công cuộc cứu trợ, với bọn cọng nói chung. Lại còn với công đoàn nữa, thật ba vạ hết sức bởi Cảng Ticonderoga có công đoàn bao giờ đâu và ai chẳng biết cha không ưa giới đó thế nào. Nhưng giờ không biết vì sao, cha đã mời Richard Griffen dùng bữa tối ở Avilion, sau buổi picnic, và lại rất đột ngột nữa. Chỉ báo trước bốn ngày.

Reenie cảm thấy ông Griffen đùng một cái đã bị tống vào tay chị. Ai cũng hiểu là với kẻ thù thì phải thết đãi linh đình hơn cả với bạn bè, mà bốn ngày không đủ cho chị chuẩn bị kịp một sự kiện tầm cỡ ấy, nhất là nếu nhớ rằng Avilion đã không có tiệc cho ra tiệc từ thời bà nội Adelia rồi. Ừ thì đúng là Callie Fitzsimmons thỉnh thoảng cũng kéo bạn bè đến chơi cuối tuần đấy, nhưng họ khác, vì đám nghệ sĩ bọn họ có được cái gì thì cũng nên cố mà biết ơn. Thỉnh thoảng có thể bắt được họ trong bếp lúc nửa đêm, tấn công tủ chạn, vét thức ăn thừa nhồi hết vào xăng uých. Thùng không đáy, Reenie gọi họ như thế.

“Tiền hắn là tiền mới, phải nói thế,” Reenie khinh bỉ nói, mắt săm soi Richard Griffen. “Nhìn cái quần điệu chưa kìa.” Chị không đời nào tha thứ những kẻ dám chỉ trích cha (nghĩa là những kẻ nào ngoài chị), và rất khinh những kẻ mọc mũi sủi tăm rồi thì bắt đầu chòi mâm son, hay là chòi hơn mức chị cho phép; và ai cũng biết rằng nhà Griffen vốn hạng cùng đinh, hoặc ít ra là đời ông hắn. Ông ta ăn nên làm ra nhờ lường gạt tụi Do Thái, Reenie nói với thái độ khó đoán - liệu đấy có phải là chiến tích không, trong mắt chị? - nhưng chính xác là bằng cách nào chị không nói được. (Nói cho công bằng, rất có thể Reenie đã nghĩ ra những vết nhơ ấy cho nhà Griffen. Chị đôi khi gán cho người khác những quá khứ theo chị nghĩ là xứng với họ.)

Đi sau cha và ông Griffen, sóng bước với Callie Fitzsimmons, là một phụ nữ tôi đoán là vợ Richard Griffen: tre trẻ, dong dỏng, thanh lịch, đuôi áo muslin mỏng tang ánh da cam kéo quết đất như hơi nước từ bát xúp cà chua lõng bõng. Cái mũ rộng vành của chị ta màu lá cây, cùng tông với đôi giày quai cao gót và khăn choàng mỏng như khói quấn quanh cổ. Chị ta ăn mặc quá đỏm dáng so với buổi picnic. Trong lúc tôi nhìn, chị ta đứng lại nhấc một chân lên, ngoái nhìn qua vai xem có phải có gì dính gót giày không. Tôi mong là có. Tuy thế, tôi nghĩ cũng thật dễ chịu nếu có quần áo đẹp nhường kia, có quần áo thất đức mua bằng tiền mới nhường kia, thay vì thứ quần áo đức hạnh, tồi tàn, xơ chỉ thuộc chế độ kham khổ của chúng tôi thời kỳ này.

“Laura đâu?” Reenie nói, thình lình cảnh giác.

“Em biết đâu,” tôi đáp. Tôi đã nhiễm thói quen quặc lại Reenie, nhất là những khi bị chị sai phái. Chị không phải mẹ em đã trở thành miếng đòn hiểm nhất của tôi.

“Cô phải đủ khôn đừng có để cô ấy ra khỏi tầm mắt chứ,” Reenie nói. “Kẻ nào cũng có thể đến đây.” Kẻ nào là một trong số ba bị chín quai của chị. Không bao giờ biết được có vụ đột nhập nào, vụ chôm chỉa hay mưu mô nào kẻ nào đó đang toan tính.

Tôi tìm thấy Laura ngồi trên cỏ dưới tán cây, nói chuyện với một người trẻ tuổi - người lớn, không phải thiếu niên - một người ngăm đen, đội cái mũ màu sáng. Kiểu cách của anh ta khó nắm bắt - không phải thợ ở nhà máy thì đúng rồi, nhưng cũng chẳng phải ai, hoặc chẳng phải cái gì xác định. Không đeo cà vạt, nhưng dù sao hôm nay cũng chỉ là picnic. Áo sơ mi xanh, hơi sờn ở vạt. Có vẻ tùy hứng, theo lối vô sản. Hồi đó khá nhiều trai trẻ đang theo mốt này - khá nhiều sinh viên đại học. Mùa đông họ mặc áo len gi lê, kẻ sọc ngang.

“Hê lô,” Laura nói. “Chị vừa đi đâu thế? Đây là Iris chị tôi, đây là Alex.”

“Chào anh…?” tôi nói. Làm sao mà Laura đã đến lúc gọi tên riêng nhanh vậy?

“Alex Thomas,” người kia nói. Anh ta lễ độ nhưng dè dặt. Anh ta nhổm đứng dậy và chìa tay, tôi bắt tay. Rồi tôi thấy mình đang ngồi xuống cạnh hai người. Xem ra đấy là cách tốt nhất, để bảo vệ Laura.

“Anh từ ngoài thị trấn lại à, thưa anh Thomas?”

“Vâng. Tôi đến thăm người quen ở đây.” Anh ta có vẻ thuộc loại Reenie sẽ gọi là chàng trai đứng đắn, nghĩa là không nghèo. Nhưng cũng không giàu.

“Anh ấy là bạn Callie đấy,” Laura nói. “Chị ấy vừa ở đây, giới thiệu chúng em với nhau. Anh ấy đi cùng chuyến tàu với Callie.” Nó giải thích hơi nhiều quá mức.

“Em đã gặp Richard Griffen chưa?” tôi hỏi Laura. “Ông ta đi với cha. Cái ông sẽ đến ăn tối ấy?”

“Richard Griffen, tay trùm hút máu mủ công nhân ấy à?” người kia hỏi.

“Alex - anh Thomas biết về Ai Cập cổ đại nhé,” Laura nói. “Anh ấy đang kể cho em về chữ tượng hình.” Nó ngước nhìn anh ta. Tôi chưa bao giờ thấy nó nhìn ai theo kiểu ấy. Giật mình, choáng váng? Cái nhìn ấy khó gọi tên.

“Nghe có vẻ thú vị nhỉ,” tôi nói. Tôi nghe thấy giọng mình phát âm chữ thú vị theo kiểu cười mỉa như người ta vẫn làm. Tôi cần tìm cách bảo cho tay Alex Thomas này là Laura mới mười bốn, nhưng không nghĩ ra cách nào khỏi khiến nó phật lòng.

Alex Thomas rút bao thuốc lá trong túi sơ mi - Craven A, như tôi nhớ. Anh ta ấn ra một điếu cho mình. Tôi hơi bất ngờ thấy anh ta hút thuốc cuốn sẵn - nó không đi với cái sơ mi. Thuốc lá hộp thuộc loại hàng xa xỉ: thợ ở nhà máy vẫn tự cuốn thuốc lấy, nhiều người bằng một tay.

“Cám ơn, tôi xin nhận,” tôi nói. Trước nay tôi mới hút có vài điếu, tất cả đều lén lút, nhón trộm trong hộp bạc để trên nắp dương cầm. Anh ta nhìn tôi hồi lâu, có lẽ đúng là điều tôi dự định, rồi đưa bao thuốc mời. Anh ta đánh lửa bằng ngón cái, giữ que diêm cho tôi.

“Anh không nên làm thế,” Laura nói. “Anh sẽ tự đốt cháy mình mất thôi.”

Elwood Murray xuất hiện trước mặt chúng tôi, đã lại thẳng lưng và hớn hở. Ngực áo vẫn còn ẩm và phớt những vệt hồng, chỗ nào các bà dấp khăn ướt tìm cách lau sạch máu; vành trong cánh mũi ông ta viền màu đỏ thẫm.

“Chào ông, ông Murray,” Laura nói. “Ông không sao chứ?”

“Mấy cậu trai hơi quá đà một chút ấy mà,” Elwood Murray đáp, như ngượng ngùng thú nhận mình vừa trúng giải thưởng nào đó. “Chỉ là đùa cho vui thôi. Xin phép?” Rồi ông ta chụp một cú bằng cái máy ảnh có flash. Ông ta luôn nói Xin phép trước khi chụp ảnh đăng báo nhưng không bao giờ đợi nghe trả lời. Alex Thomas giơ tay lên như định chặn ông ta lại.

“Tôi có quen hai cô nương xinh đẹp này, tất nhiên,” Elwood Murray nói với anh, “nhưng xin hỏi tên anh?”

Reenie đã thình lình đứng bên. Mũ chị đội lệch, mặt đỏ phừng và thở dốc. “Cha các cô đi tìm khắp nơi,” chị nói.

Tôi biết là không phải thế. Mặc lòng, Laura và tôi vẫn phải đứng lên khỏi bóng cây và vuốt phẳng váy mà đi theo chị, như đôi vịt con bị lùa.

Alex Thomas vẫy tay chào. Theo kiểu nhạo báng, hoặc là tôi nghĩ thế.

“Các cô không khôn được à?” Reenie nói. “Ngả ngốn trên cỏ với một gã Chúa biết được là ai. Mà lạy Chúa, Iris, cô vứt ngay điếu thuốc ấy đi cho, cô không phải dân lang thang. Cha cô nhìn thấy thì sao?”

“Cha hút thuốc như đầu máy xe lửa,” tôi nói, hy vọng giọng mình đủ hỗn xược.

“Cha cô khác,” Reenie nói.

“Anh Thomas,” Laura nói. “Anh Alex Thomas. Anh ấy là sinh viên thần học đấy. Hoặc là cho tới gần đây,” nó tỉ mỉ đính chính. “Anh ấy đã đánh mất đức tin. Lương tâm không cho phép anh ấy tiếp tục.”

Lương tâm của Alex Thomas hẳn nhiên đã gây ấn tượng ghê gớm với Laura, nhưng không nước non gì với Reenie. “Thế bây giờ hắn ta làm cái gì, hừ?” chị hỏi. “Một trò mờ ám nào đấy, nếu không cứ chặt cổ tôi đi. Nhìn đã thấy hắn gian giảo.”

“Anh ta có gì xấu?” tôi hỏi Reenie. Không phải tôi ưa người đó, nhưng rõ ràng anh ta đang bị tuyên án mà không được quyền bào chữa.

“Hắn ta có gì tốt thì đúng hơn,” Reenie đáp. “Lăn lê bò toài trên cỏ cho cả thiên hạ cùng nhìn.” Chị đang nói với tôi hơn là với Laura. “May mà cô cũng đã giắt kỹ váy.” Reenie thường nói con gái ngồi một mình với đàn ông phải kẹp được đồng xu giữa hai gối. Chị luôn sợ người ta - đàn ông - sẽ nhìn được chân chúng tôi, bên trên đầu gối. Những cô nào để điều đó xảy ra, chị sẽ bảo: Màn kéo rồi, bao giờ diễn đây? Hoặc, Chả khác đang treo biển. Hoặc, độc địa hơn nữa, Cô ta cố tình mời gọi, cô ta đáng nhận được thứ sắp đến, hoặc tệ nhất, Cô ta là một tai họa đang chờ xảy ra.

“Chúng em đâu có lăn,” Laura nói. “Làm gì có đồi.”

“Lăn hay không lăn, cô cũng hiểu tôi nói gì,” Reenie nói.

“Chúng em không làm gì cả,” tôi nói. “Chúng em chỉ nói chuyện thôi.”

“Vấn đề không phải ở đó,” Reenie nói. “Người ta sẽ nhìn.”

“Lần sau có không làm gì chúng em cũng sẽ rúc trong bụi,” tôi nói.

“Mà hắn ta là ai chứ?” Reenie hỏi, như chị vẫn thường mặc kệ mỗi khi tôi ngỗ ngược trực diện, bởi đến lúc này chị không còn làm gì được nữa. Hắn ta là ai nghĩa là Cha mẹ hắn là ai.

“Anh ấy mồ côi,” Laura nói. “Anh ấy được nhận làm con nuôi, từ trại trẻ. Vợ chồng một giám mục Trưởng lão nhận anh ấy về.” Từng ấy thời gian mà nó đã moi được thông tin đó từ Alex Thomas thì đúng là nhanh kỷ lục, nhưng đấy là một trong những biệt tài của nó, nếu có thể dùng từ ấy - nó cứ hỏi liên hỏi tiếp, những câu hỏi riêng tư chúng tôi đã được dặn là rất bất lịch sự, cho đến lúc người kia, vì ngượng hay tức giận, sẽ buộc phải ngừng trả lời.

“Mồ côi!” Reenie kêu lên. “Vậy hắn ta có thể là bất kỳ ai!”

“Mồ côi thì có gì xấu?” tôi nói. Tôi biết họ có gì xấu trong mắt Reenie: họ không biết cha mình là ai, nghĩa là họ không đáng tin cậy, nếu không muốn nói thẳng thừng là sa đọa. Đẻ trong cống rãnh là cách Reenie miêu tả. Đẻ trong cống rãnh, vứt lại bậc cửa.

“Không thể tin được chúng,” Reenie nói. “Chúng luồn lách tìm đường vào. Chúng không biết giới hạn.”

“Được rồi, đằng nào,” Laura nói, “em cũng đã mời anh ta đến ăn tối.”

“Giờ thì sẽ cần bánh quy mạ vàng đây,” Reenie đáp.

[1] Tiếng La tinh: Ngay giữa Arcadia cũng có ta, thường dùng theo nghĩa ngay giữa chốn thần tiên cũng có dấu vết của cái chết.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.