Ngoài cửa, trong sân sẩm tối, tuyết rơi. Tiếng môi hôn trên kính. Rồi sẽ tan ngay vì mới tháng Mười một, nhưng vẫn coi như đầu mùa. Không biết làm sao tôi lại thấy hưng phấn thế. Tôi biết tiếp sẽ là gì: tuyết bùn, bóng tối, cảm cúm, băng trong, gió hút, muối bết trên ủng[1]. Nhưng vẫn có cảm giác trông chờ: gồng mình bước vào trận đánh. Mùa đông là một thứ người ta có thể mở cửa bước vào, khiêu chiến, rồi lừa lẩn lại vào nhà. Tuy thế tôi vẫn ước giá nhà có lò sưởi.
Nhà tôi ở cùng Richard có lò sưởi. Có bốn cái là khác. Một cái trong phòng ngủ chúng tôi, như tôi nhớ. Lửa liếm trên da thịt.
Tôi thả ống tay áo len đang xắn, kéo cổ tay áo trùm qua bàn tay. Như loại găng không ngón người ta dùng hồi trước - chủ tiệm rau quả hay đại loại thế - để làm việc trong trời lạnh. Từ đầu thu đến giờ vẫn ấm, nhưng tôi không thể bị lừa mất cảnh giác mà chểnh mảng. Tôi cần gọi người đến bảo dưỡng cái lò sưởi. Lục ra áo ngủ dày. Trữ sẵn ít đậu nướng đóng hộp, ít nến, ít diêm. Một trận bão băng như năm ngoái là các cửa hàng sẽ đóng cửa sạch, và rồi người ta sẽ bị bỏ mặc trong cái nhà mất điện toa lét hỏng, không có gì để uống trừ băng đun chảy.
Trong vườn không còn gì ngoài lá khô và cọng cây giòn rụm, cùng mấy bông cúc sống dai. Mặt trời đã mất độ cao; bây giờ trời tối rất sớm. Tôi ngồi viết bên bàn bếp, trong nhà. Tôi nhớ tiếng nước qua ghềnh. Đôi lúc có gió, thổi qua những cành trơ, vẫn nguyên như trước dù không còn đáng tin như xưa.
Sau ngày đính hôn một tuần tôi được phái tới dùng bữa trưa với em gái Richard, Winifred Griffen Prior. Lời mời từ phía chị ta, nhưng Richard mới là người thực sự phái tôi đi, tôi cảm thấy thế. Cũng có thể là tôi nhầm, bởi Winifred giật dây khá nhiều chuyện, và có thể đã giật dây Richard cả vụ này. Nhiều phần chắc là cả hai người họ đồng mưu.
Bữa trưa dự định ở Vườn Arcadia. Đây là địa điểm hẹn ăn trưa của mọi quý bà, ngự tít trên đỉnh trung tâm bách hóa Simpsons ở phố Queen - một căn phòng cao rộng rãi, thiết kế theo kiểu được cho là “Byzantium” (có nghĩa là dãy cửa vòm và cọ ngồi chậu), màu chủ đạo là hoa cà và bạc, những đường cong nhịp nhàng trên đèn chùm và ghế. Bao lơn chạy quanh phòng kiểu gác lửng, lan can sắt uốn - dành riêng cho đàn ông, cho giới doanh nhân. Cho họ ngồi trên đó nhìn xuống các bà, lông cắm đầu, miệng ríu rít, như một sân chim.
Tôi chọn bộ váy ban ngày diện nhất của mình, bộ duy nhất nhìn được cho dịp đó: vét xanh thủy quân đi với váy xếp li, sơ mi trắng thắt nơ ở cổ, mũ xanh thủy quân trông như mũ nan bơi thuyền. Cái tổ hợp này khiến tôi nhìn có vẻ nữ sinh, hay đang đi quyên tiền cho Đội quân Cứu thế. Còn giày đừng nhắc đến thì hơn; tới tận bây giờ nghĩ lại thôi cũng đủ rầu. Chiếc nhẫn đính hôn mới toanh tôi nắm chặt trong bàn tay găng vải bông, hiểu rằng đi với áo quần mình, cái nhẫn một là trông như gắn thủy tinh, hai là như đồ ăn trộm.
Ông quản lý nhìn xéo qua như tin chắc tôi đã đến nhầm nơi, hoặc ít nhất cũng đi nhầm cửa - chắc hẳn tôi đến xin việc làm? Trông tôi quả có xơ xác, và chưa đủ tuổi tham dự bữa trưa giữa các quý bà. Nhưng rồi tôi nói tên Winifred và được qua xuôi lọt, vì Winifred tuyệt đối sống ở Vườn Arcadia. (Tuyệt đối sống ở là nguyên văn chị ta phát ngôn.)
Ít nhất tôi cũng không phải đợi, vừa ngồi vừa uống nước đá một mình giữa những bà chải chuốt đang ngó nhìn trân trân tự hỏi làm thế nào con bé này lọt vào đây, bởi Winifred đã ở trong rồi, bên một chiếc trong dãy bàn màu nhạt. Chị ta cao hơn tôi còn nhớ - mảnh dẻ, hoặc thậm chí là lả lướt, có thể nói vậy, dù một phần là nhờ coóc xê bó mình. Chị ta vận một tổ hợp màu xanh lá - không phải xanh nhạt mà là xanh rỡ, gần như hợm hĩnh. (Khi kẹo cao su tạo màu bằng diệp lục trở thành mốt hai thập kỷ sau, nó đúng là cái màu đó.) Chị ta mang đôi giày da cá sấu xanh cho đồng bộ. Đôi giày nhìn bóng, dẻo như cao su, lại hơi loáng ướt, như lá súng trên hồ, và tôi nghĩ chưa bao giờ thấy thứ giày gì điển nhã, tân kỳ đến thế. Mũ chị ta cũng cùng màu ấy - một cơn lốc vải xanh cuộn quanh đầu, ngất ngưởng như bánh kem tẩm độc.
Tôi nhìn ra đúng lúc chị ta đang làm một việc tôi đã được dạy phải tránh xa vì thế là hạ tiện: chị ta đang soi mặt trong gương con cầm tay, giữa chỗ đông người. Tệ hơn nữa: chị ta đang dặm lại phấn mũi. Trong lúc tôi còn lưỡng lự, không muốn để lộ mình đã bắt gặp chị ta giữa chừng cái cử chỉ thô tục kia, chị ta đã đóng nắp gương bỏ tọt vào cái ví da cá sấu xanh bóng loáng như chuyện bình thường nhất trần đời. Rồi chị ta ngỏng cổ chầm chậm ngoảnh bộ mặt đánh phấn lại nhìn quanh, ánh mắt trắng dã như đèn xe hơi. Rồi chị ta thấy tôi, mỉm cười, và chìa ra một bàn tay uể oải, chào đón. Cổ tay đeo cái xuyến bạc, nhìn tôi đã thèm tức khắc.
“Cứ gọi tôi là Freddie,” chị ta nói khi tôi ngồi xong. “Đám bồ ruột đều gọi thế, mà tôi muốn chúng mình cũng sẽ thành bồ ruột.” Hồi đó những phụ nữ như Winifred đang có mốt chọn tên thân mật nghe như trẻ giai: Billie, Bobbie, Willie, Charlie. Tôi không có biệt danh nào như thế, nên không thể đáp lại bằng cử chỉ tương tự.
“Ồ, cái nhẫn đấy hở?” chị ta nói. “Nó đẹp mê hồn nhỉ? Tôi giúp Richard chọn đấy - anh ấy vẫn thích tôi đi mua sắm hộ. Đàn ông dễ nhức đầu chuyện đó, nhỉ, mua sắm ấy? Anh ấy nghĩ có lẽ chọn ngọc lục bảo, nhưng chẳng có gì sánh được với kim cương, hở?”
Trong lúc nói, chị ta soi xét tôi vẻ tò mò pha lẫn thích thú lạnh lùng, để xem tôi tiếp nhận ra sao cái chuyện chị ta biến chiếc nhẫn đính hôn thành một cú chạy vặt. Mắt chị ta linh lợi và to kỳ lạ, trên mí đánh bóng mắt xanh. Đôi mày vẽ chì tỉa thành một vòm cung rất đều, khiến mặt chị ta có cái vẻ buồn chán mà đồng thời lại sửng sốt không tin, vẻ mặt đã được hoàn thiện nhờ các minh tinh màn bạc thời ấy, dù tôi rất ngờ Winifred có bao giờ thực sự ngạc nhiên. Son môi chị ta màu cam đậm ngả hồng, vừa mới trình làng - vỏ tôm là cái tên chính xác, như tôi đọc trong các tạp chí giờ chiều. Giọng chị ta thuộc loại vẫn được gọi là giọng uýt ky - rất trầm, gần như giọng đàn ông, bọc trong một lớp ráp, thô, như lưỡi mèo - như nhung làm từ da thuộc.
(Chị ta ưa chơi bài, như sau này tôi biết. Bridge thôi, không phải poker - chị ta chắc sẽ giỏi poker, giỏi tháu cáy, nhưng trò ấy liều lĩnh quá, độ rủi ro lớn quá; chị ta ưa cược vào những cửa đã cầm chắc. Chị ta cũng chơi gôn, nhưng chủ yếu là để tạo quan hệ; chị ta không chơi giỏi như vẫn tỏ vẻ. Quần vợt thì quá tốn sức; chị ta không muốn ai thấy mình mồ hôi nhễ nhại. Chị ta còn “bơi thuyền”, nghĩa là, theo chị ta hiểu, ngồi trên nệm đặt trong thuyền, đội mũ, đồ uống bên cạnh.)
Winifred hỏi tôi muốn ăn gì. Tôi nói ăn gì cũng được. Chị ta gọi tôi là “cưng”, và nói món xa lát Waldorf thật đến mê hồn. Tôi nói vâng.
Tôi không thấy chút triển vọng nào sẽ có lúc cả gan gọi chị ta là Freddie - như thế có vẻ suồng sã quá, bất kính là khác. Chị ta suy cho cùng là một người lớn - ba chục, hay ít nhất cũng hăm chín. Chị ta kém Richard chừng sáu bảy tuổi, nhưng họ là chiến hữu: “Richard với tôi là chiến hữu ruột,” chị ta nói với tôi giọng tin cậy, lần đầu tiên nhưng không phải cuối cùng. Đấy là lời hăm dọa, tất nhiên, cũng như phần lớn những gì chị ta rồi sẽ nói với tôi bằng cái giọng thoải mái và tin cẩn kia. Câu đó không chỉ nghĩa là chị ta có những quyền lợi xưa hơn nhiều quyền lợi của tôi, và những mối ràng buộc đừng hòng tôi hiểu được, mà còn nghĩa là nếu tôi có đời nào dám chọc giận Richard thì giờ hồn: sẽ phải đối phó với cả hai bọn họ.
Chị ta là người đứng ra lo liệu mọi sự cho Richard, chị ta bảo tôi - các sự kiện giao tế, tiệc cốc tai và tiệc tối vân vân - bởi anh ấy là trai chưa vợ, và, như chị ta nói (và rồi nói đi nói lại, năm này qua năm khác): “Bạn gái chúng mình quản về mặt đó.” Rồi chị ta nói mình thật đẹp lòng vì Richard cuối cùng cũng yên bề gia thất, mà lại là một cô gái trẻ đáng yêu như tôi. Đã có một hai lần hụt - vài vụ mắc míu. (Winifred luôn nói về đàn bà có quan hệ với Richard theo cách ấy - mắc míu, như lưới, hay mạng nhện, hay bẫy thừng, hay chỉ xoàng như là dây nhựa dẻo vứt vương vãi quanh sàn, dễ dính phải giày nếu không để ý.)
May mắn là Richard đã thoát khỏi những mắc míu đó, dù không phải đàn bà không đuổi theo anh ấy. Chúng đuổi theo anh ấy hàng đàn, Winifred nói, giọng uýt ki hạ xuống, và đầu tôi thoáng hiện ra hình ảnh Richard, áo quần tơi tả, mái tóc mượt rối tung, cuống cuồng bỏ chạy trong khi một bầy giống cái vừa rượt theo vừa hú đằng sau. Nhưng tôi không tin được hình ảnh đó. Tôi không thể hình dung Richard có bao giờ chạy, hay vội vã, hay thậm chí tỏ ra sợ hãi. Tôi không thể hình dung ông ta gặp nguy hiểm.
Tôi hết gật lại cười, không biết mình được coi là thuộc loại nào. Tôi có nằm trong đám mắc míu dính như kẹo không? Có thể lắm. Nhưng bề ngoài thì tôi đang được khai thông cho hiểu rằng Richard có giá trị nội tại rất cao, và rằng tôi liệu đường xử sự nếu muốn xứng đáng với giá trị đó. “Nhưng tôi chắc là cô sẽ lo liệu được thôi,” Winifred nói, hơi mỉm cười. “Cô còn trẻ thế cơ mà.” Thực ra thì, chính tuổi trẻ là thứ sẽ khiến tôi càng ít khả năng lo liệu, đó cũng là điều Winifred trông mong. Chị ta thì không hề có ý định sẽ bớt quyền lo liệu trong tay mình.
Món xa lát Waldorf dọn ra. Winifred nhìn tôi cầm dao nĩa lên - ít nhất tôi cũng không dùng tay mà bốc, vẻ mặt chị ta nói thế - và khẽ thở dài. Tôi là một ca khó nhọc cho chị ta, bây giờ tôi hiểu. Hẳn là chị ta đã nghĩ tôi dằn dỗi, hoặc ù lì: tôi không biết bắt chuyện, tôi ngu độn quá, nhà quê quá. Hoặc có thể đấy là tiếng thở dài khi nghĩ tới tương lai - đến công việc trong tương lai, bởi tôi là một cục đất sét không hình thù, và bây giờ chị ta sẽ phải xắn tay áo mà bắt tay vào nhào nặn.
Việc hôm nay chớ để ngày mai. Chị ta tiến hành lập tức. Phương pháp của chị ta là ám chỉ, là gợi ý. (Chị ta còn một phương pháp nữa - phương pháp roi vọt - nhưng tôi chưa gặp ngay bữa này.) Chị ta nói có biết bà tôi ngày xưa, hoặc ít ra là biết tiếng bà. Các phu nhân họ Montfort ở Montreal vẫn nổi tiếng là thanh lịch, chị ta nói, nhưng tất nhiên Adelia Montfort đã qua đời trước khi tôi sinh. Đấy là cách chị ta biểu lộ rằng bất chấp dòng dõi nhà tôi, chúng tôi thực tế đang bắt đầu từ số không.
Quần áo của tôi còn là chuyện nhỏ, chị ta ngụ ý. Quần áo mua lúc nào cũng được, tất nhiên, nhưng tôi phải biết mặc cho đúng cách. “Như là lớp da thứ hai, cưng ạ,” chị ta nói. Tóc tôi không còn gì để nói - đã dài lại không uốn, chải lật ra đằng sau, lấy cặp cặp lại. Đã thấy cần cây kéo và bàn cuốn lô. Rồi lại còn mười móng tay tôi nữa. Không nên màu mè quá, nhớ cho; tuổi tôi chưa đến lúc màu mè. “Cô có thể trở nên duyên dáng,” Winifred nói. “Tuyệt đối đấy. Chỉ cần cố gắng chút thôi.”
Tôi lắng nghe, nhũn nhặn và căm tức. Tôi biết mình chẳng có duyên. Cả Laura lẫn tôi đều không. Khó mà duyên nổi: chúng tôi đã quen thói kín lời, hoặc lúc khác thì lại lỗ mãng. Chúng tôi chưa bao giờ được học cách làm duyên, bởi Reenie nuông chiều chúng tôi quá mức. Chị nghĩ bản thân chúng tôi là đủ cho bất cứ kẻ nào rồi. Chúng tôi không phải tỉa tót vì kẻ khác, nhử họ bằng lời ngọt ngào hay mè nheo hay đá lông nheo điệu nghệ. Tôi nghĩ cha thì có thể thấy duyên cũng có ích ở một hai điểm đấy, nhưng ông chẳng bao giờ truyền giảng lại cho chúng tôi. Ông muốn chúng tôi giống con trai, và chúng tôi đã thành ra thế. Không ai dạy tụi con trai phải biết duyên. Người ta sẽ nghĩ chúng lệch lạc.
Winifred ngắm tôi ăn, trên môi nụ cười khó hiểu. Chưa gì tôi đã biến thành một chuỗi tính từ chạy qua đầu chị ta - một chuỗi giai thoại nực cười để thuật lại cho đám bồ ruột, Billie và Bobbie và Charlie. Mặc như xin ở từ thiện. Ăn như bị bỏ đói lâu nay. Còn giày nữa chứ!
“Nào,” chị ta nói, sau khi đã gẩy xong miếng xa lát - Winifred không bữa nào ăn hết đồ ăn - “bây giờ chúng ta sẽ phải chụm đầu lại bàn bạc.”
Tôi không hiểu chị ta nói gì. Chị ta lại thở dài khe khẽ. “Lên kế hoạch cho lễ cưới,” chị ta nói. “Chúng ta không còn nhiều thời gian đâu. Tôi đang tính, Thánh tông đồ Simon, rồi phòng khiêu vũ ở Hoàng gia York, phòng chính ấy, cho buổi chiêu đãi.”
Chắc tôi đã nghĩ mình sẽ được trao gọn tênh cho Richard, như trao gói đồ; nhưng không phải, sẽ cần có lễ lạt - mà không chỉ một buổi. Tiệc cốc tai, tiệc trà, tiệc tặng quà cô dâu, ngày chụp ảnh chân dung, còn đăng báo. Sẽ y như đám cưới của mẹ tôi, trong những chuyện Reenie vẫn kể, nhưng có vẻ như chạy ngược dòng và thiếu đi vài mảnh. Khúc dạo đầu lãng mạn đâu rồi, đâu rồi chàng trai trẻ quỳ dưới chân tôi? Tôi cảm thấy một luồng thất vọng dâng từ đầu gối tràn lên mặt. Winifred nhìn thấy, nhưng không có lấy một cử chỉ trấn an. Chị ta không muốn tôi an tâm.
“Đừng lo cưng ơi,” chị ta nói, giọng điệu có vẻ chẳng mấy hy vọng. Chị ta vỗ vỗ tay tôi. “Tôi sẽ chỉ cô đường đi nước bước.” Tôi cảm thấy ý chí đang chảy cạn khỏi người - chảy nốt chút sức lực nào còn lại để quyết định hành động của chính mình. (Quả tình! Giờ tôi hiểu. Quả tình chị ta là một thứ má mì. Quả tình chị ta là kẻ dắt gái.)
“Lạy trời, nhìn đồng hồ xem,” chị ta nói. Chị ta đeo đồng hồ bằng bạc mềm mại, như sợi ruy băng bằng kim loại chảy, mặt có những chấm nhỏ thay chữ số. “Tôi phải chạy thôi. Chúng nó sẽ mang trà lại, cả bánh caramel hay gì đó nếu cô thích. Các cô gái trẻ hay háo ngọt. Hay là hảo ngọt nhỉ?” Chị ta cười, rồi đứng dậy, tặng tôi một cái hôn màu vỏ tôm, không phải lên má mà lên trán. Đấy là để nhắc tôi nhớ vị trí mình - một đứa trẻ, chẳng nghi ngờ gì nữa.
Tôi nhìn chị ta chuyển động qua không gian màu nhạt lượn sóng Vườn Arcadia như đang lướt, phân phát những cái gật đầu khó nhận thấy và những bàn tay vẫy chính xác từng li. Không khí rẽ đường trước chị ta như cỏ rậm; đôi chân hình như không gắn vào hông, mà gắn thẳng vào thắt lưng; không thấy gì lắc lư. Tôi cảm thấy thân thể mình phình ra từng chỗ, hai bên dây quai, bên trên nịt tất. Tôi khao khát có thể sao lại bước chân kia, trơn tuột không thịt xương và không gì đe dọa nổi.
Tôi không được rước dâu từ Avilion, mà từ cái nhà khung gỗ nhái Tudor của Winifred ở Rosedale. Địa điểm đó được coi là tiện hơn, bởi phần lớn khách khứa đều ở Toronto. Hơn nữa như thế cha tôi sẽ đỡ phải ngượng ngập vì không lo nổi lễ cưới hoành tráng cỡ Winifred muốn.
Cha còn không đủ tiền may áo quần: Winifred lo hết. Lèn chặt trong hành lý của tôi - trong một trong số vài cái rương mới toanh cho tôi - là chiếc váy quần vợt dù tôi không biết chơi, một bộ đồ bơi dù tôi không biết bơi, và vài chiếc váy xòe khiêu vũ nữa, dù tôi không biết nhảy. Từ đâu mà tôi học những món ấy được? Avilion thì không rồi, cả bơi cũng không, bởi Reenie cấm chúng tôi xuống nước. Nhưng Winifred cương quyết phải có những đồ này. Chị ta nói tôi cần ăn mặc cho đúng dịp, dù có khiếm khuyết điểm nào, và những điểm đó tôi không bao giờ được lộ ra. “Cứ nói cô nhức đầu,” chị ta bảo tôi. “Đấy là lý do dùng được cho mọi dịp.”
Chị ta còn bảo tôi nhiều thứ nữa. “Tỏ vẻ buồn chán thì được,” chị ta nói. “Nhưng đừng bao giờ tỏ ra sợ hãi. Chúng nó sẽ đánh hơi thấy nỗi sợ của cô, như cá mập, và xông đến giết. Cô có thể nhìn mép bàn - như thế sẽ làm mi mắt hạ xuống - nhưng không được nhìn xuống sàn, như thế trông cô sẽ yếu ớt. Đừng đứng thẳng lưng, cô không phải là lính. Đừng bao giờ rúm người. Nếu có ai nói gì có ý xúc phạm, cô đáp lại Xin lỗi? như chưa nghe thấy, chín phần mười là chúng nó không đủ gan nhắc lại. Đừng cao giọng khi nói với bồi bàn, như thế là thô tục. Cứ để chúng cúi xuống, đấy là bổn phận của chúng. Đừng nghịch tóc hay găng tay. Lúc nào cũng giữ vẻ mặt như là cô có chuyện khác đáng làm hơn, nhưng không được tỏ ra sốt ruột. Khi nào cần thì vào phòng trang điểm, nhưng phải bước chậm rãi. Duyên dáng là nhờ dửng dưng.” Nội dung thuyết giảng của chị ta là thế. Phải công nhận, dù tôi có ghét chị ta đến mấy, những bài giảng này đã có giá trị lớn trong đời tôi.
Đêm trước lễ cưới tôi ngủ ở một trong những phòng ngủ đẹp nhất của Winifred. “Hãy biến mình thành xinh đẹp,” Winifred hớn hở nói, ám chỉ tôi vốn không xinh đẹp. Chị ta đã cho tôi kem dưỡng ẩm và găng tay vải bông - tôi cần phải bôi kem lên tay, rồi đi găng trùm lên trên. Mục đích là chăm sóc cho tay thật trắng và mềm mại - trắng và mềm như mỡ lợn chưa nấu. Tôi đứng trong buồng tắm liền phòng, nghe tiếng nước rọc rạch đổ xuống bồn sứ và ấn ấn lên mặt mình trong gương. Cái mặt kia trông như bị tẩy sạch, không đường nét, như thỏi xà phòng dùng dở, hay mặt trăng bắt đầu khuyết.
Laura đi vào từ phòng ngủ của nó qua cửa thông và ngồi xuống nắp bồn cầu đóng. Nó không bao giờ tập thói quen gõ cửa, nếu là tôi ở trong. Nó mặc áo ngủ vải bông trắng suông, trước là của tôi; tóc tết lại, như sợi thừng màu lúa mạch vắt qua vai. Nó đi chân trần.
“Dép em đâu?” tôi hỏi. Mặt nó tràn ngập buồn rầu. Vẻ mặt ấy, cộng thêm áo trắng và chân đất, khiến nó trông như hiện thân nỗi sám hối - như kẻ tà đạo trong tranh cổ, trên đường ra pháp trường. Nó đan hai bàn tay trước mặt, ngón tay cong lại thành khoảng trống hình chữ O, như cầm một cây nến đang cháy.
“Em quên.” Khi đóng bộ vào, trông nó già hơn tuổi nhờ chiều cao, nhưng giờ nó trông nhỏ hơn - trông chỉ như mười hai tuổi, và tỏa mùi như trẻ sơ sinh. Đấy là mùi nước gội đầu - nó dùng dầu gội trẻ em cho rẻ. Nó dè sẻn bằng những con tính vụn vặt vô ích. Nó nhìn quanh phòng tắm, rồi nhìn xuống sàn gạch bông. “Em không muốn chị lấy chồng,” nó nói.
“Em đã bày tỏ khá rõ rồi,” tôi nói. Nó đã lầm lì suốt thời gian chuẩn bị - các buổi tiếp khách, buổi thử áo, buổi tổng duyệt - suýt soát hỗn hào với Richard, với Winifred vâng lời không một phản ứng, như đứa tớ gái. Với tôi thì tức tối, như chuyện cưới xin này giỏi lắm thì cũng là thói ngông cuồng độc địa, còn tệ hơn thì là ngoảnh lưng lại nó. Đầu tiên tôi nghĩ có thể vì nó ghen tị với tôi, nhưng không hẳn là thế. “Tại sao chị lại không nên lấy chồng?”
“Chị còn trẻ quá,” nó nói.
“Mẹ kết hôn năm mười tám. Đằng nào chị cũng sắp mười chín rồi.”
“Nhưng mẹ lấy người mẹ yêu. Mẹ muốn thế.”
“Làm sao em biết chị không muốn?” tôi tức giận đáp.
Nghe thế nó chựng lại một lát. “Không thể là chị muốn được,” nó nói, ngẩng lên nhìn tôi. Mắt nó ướt và đỏ: nó vừa khóc. Điều đó làm tôi cáu: nó có quyền gì mà khóc? Nếu có ai cần khóc, đấy phải là tôi.
“Điều chị muốn không liên quan ở đây,” tôi gay gắt nói. “Đấy là việc khôn ngoan duy nhất. Nhà mình không còn tiền nữa, hay là em chưa nhận ra? Em muốn chúng mình bị quẳng ra đường à?”
“Chúng mình có thể đi làm,” nó nói. Lọ nước hoa của tôi đặt trên bệ cửa sổ cạnh nó; nó cầm lấy xịt vào mình, lơ đãng. Đấy là lọ Liù của Guerlain, quà của Richard. (Người chọn, như chị ta cho tôi biết, là Winifred. Đàn ông dễ lúng túng ở quầy nước hoa, hở? Mùi hương làm họ rối trí.)
“Đừng dở hơi,” tôi nói. “Chúng mình thì làm được gì? Đánh vỡ cái đó là em đi đời đấy.”
“Ồ chúng mình làm được nhiều việc chứ,” nó đáp chung chung, bỏ lọ nước hoa xuống. “Chúng mình có thể làm hầu bàn.”
“Chúng mình không sống nhờ cái đó được. Các cô hầu bàn gần như không kiếm được gì. Họ phải năn nỉ từng xu tiền boa. Họ đều mắc bệnh bàn chân bẹt cả. Em có biết giá cả mọi thứ ra sao đâu,” tôi nói. Cứ như giảng toán cho con chim trên cây. “Nhà máy đóng cửa hết rồi, Avilion đang tan thành từng mảnh, chúng nó sẽ đem rao bán; các nhà băng chỉ chực ăn tươi nuốt sống. Em không nhìn cha à? Em không thấy cha sao? Cha đã trông như một ông già rồi.”
“Vậy là vì cha, phải không?” nó nói. “Cái việc chị đang làm ấy. Em nghĩ như thế cũng giải thích được vài điều. Em nghĩ như thế là can đảm.”
“Chị đang làm điều chị cho là phải,” tôi nói. Tôi thấy mình thật cao cả, cùng lúc thấy đời thật bất công, gần khiến tôi phát khóc. Nhưng thế sẽ là chấm hết.
“Như thế không phải,” nó nói. “Không phải một chút nào. Chị có thể cắt đứt mà, vẫn còn chưa muộn. Chị có thể bỏ trốn ngay đêm nay và để lại thư nhắn. Em sẽ đi cùng chị.”
“Đừng quấy nữa, Laura. Chị lớn rồi, chị biết mình đang làm gì.”
“Nhưng chị sẽ phải cho ông ta động vào mình, chị hiểu không. Không phải chỉ là ôm hôn. Chị sẽ phải cho ông ta…”
“Không phải lo cho chị,” tôi nói. “Để cho chị yên. Mắt chị vẫn mở.”
“Như người mộng du,” nó nói. Nó cầm một lọ phấn thơm của tôi lên, mở ra, ngửi thử, và đã kịp đánh đổ một vốc ra sàn. “Ít ra thì chị cũng sẽ có quần áo đẹp,” nó nói.
Tôi những muốn giơ tay đánh nó. Đấy, tất nhiên, là nguồn an ủi bí mật cho tôi.
Sau khi nó đi, bỏ lại đằng sau vệt dấu chân trắng lấm tấm, tôi ngồi lên mép giường, chăm chăm nhìn cái rương đi biển để mở. Cái rương thuộc kiểu đang thịnh hành, ngoài màu vàng sáng nhưng ruột xanh lam đậm, đóng đai thép, những đầu đinh lấp lánh như sao kim loại nặng. Trong rương đồ xếp gọn gàng, đầy đủ mọi thứ cho chuyến đi trăng mật, nhưng tôi thấy hình như nó đựng đầy bóng tối - đựng đầy trống rỗng, không gian trống.
Của hồi môn của mình, tôi nghĩ. Trousseau. Bỗng nhiên chữ ấy trở thành đe dọa - thật xa lạ, thật tận cùng. Tiếng ấy gợi đến tiếng trói gô, đến thân gà tây chưa nấu, đến dây và những cái xiên.
Bàn chải đánh răng, tôi nghĩ. Mình cần bàn chải nữa. Thân thể tôi vẫn ngồi, đờ đẫn.
Trousseau mượn từ tiếng Pháp, nghĩa là cái hòm. Trousseau. Nghĩa chữ đó chỉ thế thôi: tổng cộng các món trong hòm. Thế nên không có gì phải buồn lòng, bởi nó chỉ có nghĩa là hành lý thôi. Nghĩa là mọi thứ tôi sẽ mang theo, đã gói sẵn.
[1] Ở xứ lạnh, người ta thường rải muối lên đường đi trong mùa đông giá để hạn chế đóng băng.