Trời se lạnh, mây bổng trên cao xiêu dạt. Những cành bắp da đỏ phơi khô xuất hiện từng bó trên cửa trước những nhà sang; trên các hàng hiên đã thấy đèn bí ngô đứng gác, miệng cười nhăn nhở. Thêm một tuần nữa là trẻ con thèm kẹo sẽ xuống phố, hóa trang thành vũ nữ ba lê hay xác sống hay quái vật vũ trụ hay xương khô hay mụ thầy bói di gan và ca sĩ rock quá cố, và như mọi năm tôi sẽ tắt đèn vờ không có nhà. Không hẳn là tôi không ưa chúng, là tự vệ thôi - nhỡ trong đám tí hon này có nhóc nào biến mất, tôi không muốn bị buộc tội đã dụ chúng vào nhà ăn thịt.
Tôi bảo Myra như thế, giữa lúc cô đang nhoay nhoáy bán nến lùn màu cam và mèo đen bằng gốm và dơi vải giả xa tanh, cả phù thủy nhồi bông trang trí, quả táo phơi khô cắm làm đầu. Cô cười lớn. Cô nghĩ là tôi nói đùa.
Hôm qua với tôi là một ngày uể oải - tim cứ thắt trong ngực, tôi gần như không cất mình khỏi xô pha - nhưng sáng nay uống thuốc xong, tôi thấy hăng hái kỳ lạ. Tôi đi bộ, khá nhanh, đến tận cửa hàng bánh vòng. Đến đó tôi khảo sát tường nhà xí, lần này dòng mới nhất là: Nếu không nói được gì tử tế thì đừng có nói, ngay dưới là: Nếu không bú được gì ngon thì đừng có bú. Thật mát lòng được biết tự do ngôn luận vẫn rộn ràng trên đất nước này.
Tôi mua một cốc cà phê và bánh vòng nhúng sô cô la, rồi mang ra ngoài chọn một trong các băng ghế chủ hàng để sẵn, đặt ngay bên thùng rác khá tiện. Tôi ngồi đó, trong ánh nắng còn đủ ấm, hong mình như con rùa nước. Người người đi qua - hai mụ đàn bà thừa mỡ đẩy xe nôi, một cô ả trẻ hơn, gầy hơn mặc áo da đen đóng khuy bạc trông như đầu đinh và thêm một chiếc trên mũi, ba ông khọm trùm áo gió. Tôi cảm giác họ nhìn mình. Chẳng lẽ tôi vẫn còn khét tiếng đến cỡ này - hay hoang tưởng đến cỡ này? Hay chỉ vì nãy giờ tôi nói chuyện thành tiếng một mình. Cái này khó biết. Có phải giọng tôi cứ thế trôi ra khỏi thân, như không khí, khi tôi không để ý? Tiếng thì thào đã quắt lại, tiếng lá nho mùa đông sột soạt, tiếng xuỵt xuỵt gió thu luồn qua cỏ khô.
Ai cần biết người ta nghĩ gì, tôi tự bảo mình. Nếu họ thích nghe lỏm, đây sẵn sàng.
Ai cần biết, ai cần biết. Lời bật lại của tuổi thiếu niên muôn thuở. Tôi cần biết, dĩ nhiên. Tôi cần biết người ta nghĩ gì. Tôi vẫn luôn cần biết. Khác với Laura, tôi chưa bao giờ có được can đảm làm theo xác tín.
Có con chó lảng lại gần, tôi cho nó nửa cái bánh vòng. “Cứ tự nhiên,” tôi bảo nó. Reenie vẫn luôn nói thế nếu bắt gặp chúng tôi nghe trộm.
Suốt tháng Mười - ấy là năm 1934 - chỉ nghe bàn tán về những chuyện đang diễn ra ở nhà máy cúc. Những kẻ khiêu khích từ ngoài thị trấn đang lượn lờ quanh đây, nghe đồn thế; chúng đang khích động tình hình, nhất là trong đám trẻ dễ nóng mũi. Có nghe bàn tán về thương lượng tập thể, về quyền công nhân, về công đoàn. Công đoàn thì bất hợp pháp rồi, dĩ nhiên, hay là chỉ các hãng công đoàn - phải không nhỉ? Có vẻ không ai biết rõ. Đằng nào thì chúng cũng thoảng mùi lưu huỳnh.
Những kẻ tới khích động là quân vô lại hoặc tội phạm đánh thuê (theo lời bà Hillcoate). Chúng không chỉ là kẻ khiêu khích từ ngoài thị trấn, mà còn là kẻ khiêu khích từ nước ngoài, không hiểu sao thế có vẻ đáng sợ hơn. Những gã nhỏ thó da ngăm đen để ria, đã cắt máu ký tên thề trung thành đến chết, chúng chuyên gây bạo loạn không từ sự gì, lại còn đặt bom và mò vào nhà ban đêm cắt cổ chúng tôi trong lúc ngủ (theo lời Reenie). Đấy là phương cách hoạt động của chúng, quân Bôn sê vích và tổ chức công đoàn khát máu ấy, hai loại này lòng vả cũng như lòng sung (theo lời Elwood Murray). Chúng đòi Tự do Luyến ái, bãi bỏ gia đình, và đem xử bắn tất tần tật người nào có tiền - có tí tiền nào cũng thế - hay có đồng hồ, hay nhẫn cưới. Mọi điều này đã xảy ra ở Nga La Tư. Nghe đồn là thế.
Cũng lại nghe đồn là các nhà máy của cha đang lâm vào tình thế nguy ngập.
Cả hai tin đồn - những kẻ khiêu khích, tình thế nguy ngập - đều bị phủ nhận chính thức. Cả hai người ta đều tin.
Cha đã thải hồi một số thợ đợt tháng Chín - thuộc số những người trẻ hơn, có khả năng tự lo thân hơn, theo lý luận của ông - và đề nghị những người ở lại đồng ý làm việc bớt giờ. Không đủ đơn hàng, ông giải thích, không thể duy trì hoạt động sản xuất ở mức cao nhất cho tất cả các nhà máy. Khách hàng không mua cúc nữa, hoặc là không mua loại làm ở Chase và Con trai, loại phải làm với số lượng lớn mới có lãi. Họ cũng không còn mua đồ lót rẻ và bền nữa: họ sửa lại đồ cũ, họ giật gấu vá vai. Không phải khắp đất nước ai cũng thiếu việc làm, tất nhiên, nhưng những người đang có việc cũng không yên tâm về khả năng giữ việc. Dễ hiểu là họ đang dành dụm tiền bạc, không muốn tiêu. Chẳng trách họ được. Ở địa vị họ thì ai cũng thế.
Số học đã nhập cuộc, với vô số cẳng chân, vô số xương sống và vô số đầu, vô số mắt là những số 0 không biết thương xót. Hai với hai là bốn, nó tiết lộ. Nhưng nếu anh không có hai với hai thì sao? Thì sẽ không ra kết quả. Và đúng là chúng không chịu ra kết quả, tôi không thể ép chúng được, không thể bắt những con số màu đỏ trong sổ kiểm hàng biến thành màu đen. Chuyện đó khiến tôi lo âu ghê gớm, cứ như là lỗi của mình. Ban đêm khi nhắm mắt tôi thấy những con số trên giấy trước mặt, sắp từng hàng trên mặt bàn vuông gỗ sồi ở nhà máy cúc - những hàng số đỏ như đội quân sâu bướm máy, gặm dần mòn tí gì còn lại trong khoản tiền. Khi giá anh thương lượng mãi mới bán được hàng lại thấp hơn giá anh đã bỏ ra làm - điều xảy ra ở Chase và Con trai từ khá lâu nay - thì những con số sẽ cư xử như thế. Cư xử như thế rất không hay - không tình yêu, không công lý, không lòng thương - nhưng anh còn muốn gì? Những con số chỉ là con số. Chúng không có quyền lựa chọn.
Tuần đầu tháng Mười hai, cha tuyên bố đóng cửa các nhà máy. Chỉ tạm thời thôi, ông nói. Ông hy vọng sẽ chỉ là rất tạm thời. Ông nói đến chuyện thu quân và cắt giảm để tái tập hợp. Ông kêu gọi thông cảm và kiên nhẫn, và được đáp lại bằng sự im lặng dè chừng từ phía các công nhân có mặt. Thông báo xong cha quay về Avilion nhốt mình trên tháp và uống đến mờ mắt. Đồ đạc vỡ loảng xoảng - đồ thủy tinh. Chai lọ, hẳn rồi. Laura và tôi ngồi trong phòng tôi, trên giường tôi, nắm tay nhau thật chặt lắng nghe nỗi cuồng nộ thống khổ đang hoành hành trên ấy, ngay trên đầu chúng tôi, như giông bão nổ trong nhà. Đã lâu rồi cha không làm gì ở quy mô như thế.
Chắc ông cảm thấy mình đã phụ lòng lính của mình. Thấy mình thất bại. Thấy mình không thể làm được gì cho đủ.
“Em sẽ cầu nguyện cho cha,” Laura nói.
“Liệu Chúa có đoái hoài không?” tôi hỏi. “Chị không nghĩ ngài ta sẽ thí lấy một xu quan tâm, thật đấy. Đấy là nếu có Chúa.”
“Chị làm sao biết được,” Laura trả lời, “cho đến khi ấy.”
Khi nào? Tôi biết khá rõ, chúng tôi đã nói chuyện này trước đây. Khi chúng ta đã chết.
Sau khi cha đưa ra tuyên bố vài ngày, công đoàn chứng tỏ quyền năng. Đến lúc đó đã có một nhóm nòng cốt rồi, và giờ họ mời tất cả mọi người vào. Một buổi họp diễn ra bên ngoài nhà máy cúc đã khóa cửa và có lời hiệu triệu mọi công nhân tham gia, bởi khi nào cha mở cửa nhà máy trở lại, họ nói, ông sẽ vạc tận xương và tất cả họ rồi sẽ nhận đồng lương chết đói. Hắn ta cũng chỉ như tất cả những kẻ khác, hắn ta sẽ ních đầy tiền vào nhà băng trong thời khốn khó như lúc này, rồi ngồi chơi xơi nước đến khi con người ta bị đánh quỵ bò lê trên đất; rồi hắn ta sẽ nhân cơ hội đó mà béo mẫm ra trên lưng công nhân. Hắn ta với cái nhà to và hai đứa con gái chải chuốt - quân ăn bám phù phiếm sống nhờ mồ hôi nước mắt quần chúng.
Các cô thấy rõ những kẻ gọi là tổ chức công đoàn đó chẳng phải là người thị trấn, Reenie nói, sau khi kể xong mọi chuyện quanh bàn bếp. (Chúng tôi thôi không dùng bữa trong phòng ăn nữa, vì cha không còn ăn dưới nhà. Ông cố thủ trên tháp; Reenie mang khay đồ ăn lên.) Bọn côn đồ này không còn biết gì là đứng đắn, lôi cả chúng tôi vào như thế, dù ai cũng biết chúng tôi không dính dáng tí gì đến bất cứ chuyện gì. Chị bảo chúng tôi đừng có để tâm, nhưng điều này nói dễ hơn làm.
Vẫn còn lại vài người trung thành với cha. Trong buổi họp, chúng tôi nghe nói, đã có bất đồng, có cao giọng, có xô xát. Người ta không biết kiềm chế nữa. Một người bị đá vào đầu, được đẩy gấp tới viện vì chấn thương não. Đấy là một trong số thợ đình công - bây giờ thì họ đã tự gọi mình là thợ đình công - nhưng thương tích này được coi là lỗi của bản thân đám thợ đình công, bởi một khi đã khởi đầu cảnh hỗn loạn như thế, ai biết rồi sẽ dẫn đến đâu?
Tốt hơn là đừng khởi đầu. Tốt hơn là ngậm miệng lại. Tốt hơn nhiều.
Callie Fitzsimmons tới thăm cha. Chị ta rất lo lắng cho ông, chị ta bảo thế. Chị ta lo ông đang trên đường suy sụp. Về mặt đạo đức, ý chị ta là thế. Làm sao ông có thể đối xử với thợ của mình một cách tùy tiện và lại còn bần tiện dường này? Cha bảo chị ta mở mắt mà nhìn thực tế đi. Cha nói chị ta là đồ đem dầu chữa cháy. Cha còn nói, Ai bảo cô làm việc này, một trong đám chiến hữu cọng hả? Chị ta nói chị ta đến là vì tự ý, vì tình yêu, vì dù là chủ tư bản ông cũng vẫn luôn là một người tử tế, nhưng giờ chị ta thấy ông đã biến thành một gã tài phiệt nhẫn tâm. Cha nói người cháy túi thì không thể làm tài phiệt được. Chị ta nói ông có thể thanh lý tài sản. Ông nói tài sản của ông không đáng giá hơn vốn tự có của chị ta, mà cứ ông thấy thì chị ta đã phát không cho bất cứ ai mở miệng hỏi. Chị ta nói ông cũng đâu có từ chối quà cho không biếu không. Ông nói phải, nhưng các khoản chi phí ngầm cao quá mức - đầu tiên là đồ ăn thức uống trong nhà ông cho đám chiến hữu nghệ sĩ của chị ta, rồi đến máu của ông và giờ là linh hồn ông. Chị ta gọi ông là gã tư sản phản động. Ông gọi chị là ruồi bâu xác thối. Đến lúc ấy họ đã to tiếng quát tháo. Rồi là sập cửa, là bánh xe đánh xuống đường sỏi, và thế là chấm hết.
Reenie mừng hay không vui? Không vui. Chị không ưa Callie, nhưng đã đâm quen chị ta, và chị ta đã có ích với cha một thời. Ai sẽ thay thế chị ta đây? Lại một ả mèo nào khác, mà quỷ lạ không bằng ma quen.
Tuần sau đó phát động tổng bãi công, để tỏ tình đoàn kết với công nhân nhà máy Chase và Con trai. Mọi cửa hàng, mọi giao dịch buôn bán đều phải đóng cửa, lệnh ra là thế. Mọi dịch vụ công đều phải nghỉ. Cả điện thoại, cả thư tín. Không sữa, không bánh mì, không đá. (Ai đưa ra những lệnh này? Không ai nghĩ đấy là cái người trực tiếp đứng ra thông báo. Người này nhận mình là dân trong vùng, xuất thân ngay thị trấn, và trước kia mọi người cũng nghĩ vậy - hắn ta thuộc nhà Morton, nhà Morgan, hoặc cái gì đó tương tự - nhưng tất nhiên giờ thì ai cũng hiểu hắn ta không phải dân trong vùng, lòng dạ hắn không phải. Hắn không thể là dân trong vùng, nếu đi hành xử như thế. Ông nội hắn là ai, nói xem?)
Vậy là không phải người này. Hắn ta không phải đầu não của vụ này, Reenie nói, bởi trước hết hắn ta không có não. Có những thế lực đen tối đằng sau.
Laura rất lo lắng về Alex Thomas. Anh ấy có dính líu thế nào đấy, nó nói. Nó biết là thế. Anh chắc chắn phải dính, theo nhân sinh quan của anh.
Đầu giờ chiều hôm ấy, Richard Griffen tới Avilion bằng xe hơi, đằng sau có hai chiếc nữa đi kèm. Cả ba đều to, sàn thấp, bóng lộn. Ngoài ông ta có năm người tất cả, bốn người khá bự con, áo bành tô đen và mũ phớt xám. Richard Griffen cùng một trong số đó vào phòng làm việc của cha, cùng với cha. Còn lại hai người đứng chắn trước cửa nhà, một cửa sau một cửa trước, hai người kia lấy một trong bầy xe đắt tiền phóng đi đâu không rõ. Laura và tôi nhìn những chiếc xe hết đến rồi đi từ cửa sổ phòng ngủ nó. Chúng tôi đã nghe bảo đừng ngáng đường, cũng có nghĩa là đừng đến gần tầm nghe. Khi chúng tôi hỏi Reenie chuyện gì thế, trông chị có vẻ lo ngại, và nói chị cũng chỉ đoán mò như chúng tôi thôi, nhưng chị sẽ để ý theo dõi.
Richard Griffen không ở lại dùng bữa tối. Khi ông ta về, hai chiếc xe về theo. Chiếc thứ ba ở lại, ba trong số những người bự con cùng ở lại. Họ dọn một chỗ kín đáo ở khu nhà cho tài xế cũ, đằng ga ra.
Họ là thanh tra viên, Reenie đoán. Phải là thế. Vì thế họ lúc nào cũng mặc áo bành tô: vậy mới che được súng, họ kẹp trong nách. Súng họ dùng là súng lục. Chị biết là nhờ đọc tạp chí. Chị nói họ ở lại để bảo vệ cả nhà, và nếu có thấy ai bất thường lảng vảng quanh vườn ban đêm - ngoài ba người đó, tất nhiên - chúng tôi phải hét thật to.
Ngày hôm sau có bạo động, trên những phố chính của thị trấn. Xuất hiện nhiều người chưa ai từng thấy trước đây, hoặc nếu có thấy thì cũng không ai nhớ. Ai mà nhớ được đám lang thang? Nhưng trong đó có những kẻ không phải lang thang, chúng là những kẻ khiêu khích quốc tế giấu mặt. Chúng đã ở đây do thám, từ rất lâu rồi. Làm sao chúng đến đây nhanh thế được? Trên nóc xe lửa, nghe bảo thế. Những kẻ như chúng bằng cách đó mà đi khắp nơi.
Vụ bạo loạn bắt đầu từ một cuộc mít tinh ngoài tòa thị chính. Đầu tiên là những bài phát biểu nói về côn đồ được thuê khủng bố tinh thần công nhân; tiếp đến hình nộm cha, cắt bằng bìa, đội mũ quả dưa và hút xì gà - những việc ông chưa bao giờ làm trong đời - bị đem ra đốt, trong tiếng hoan hô rầm rĩ. Hai con rối vải mặc váy hồng lòe xòe cũng bị tẩm xăng quăng vào lửa. Đấy là biểu thị chúng tôi - Laura và tôi, Reenie nói. Người ta đùa nhả là hai ả búp bê bốc lửa. (Những cuộc dạo chơi của Laura với Alex quanh thị trấn cũng không được bỏ qua.) Chính Ron Hincks đã kể lại những chuyện đó, Reenie bảo, vì nghĩ chị cần biết. Anh ta nói hai chúng tôi không nên đi vào thị trấn lúc này vì nhiệt đang lên cao và ai biết được chuyện gì. Anh ta nói chúng tôi nên ở yên trong Avilion, ở đó còn được an toàn. Anh ta nói chuyện hai con rối thật đáng xấu hổ hết mức, và anh ta sẵn sàng vặn cổ kẻ nào nghĩ ra trò đó.
Trên phố chính cửa hàng công sở nào không chịu đóng cửa đều bị đập vỡ cửa sổ. Rồi những chỗ đã đóng cũng bị đập theo. Sau đó bắt đầu nạn hôi của, và tình hình thành ra mất kiểm soát nghiêm trọng. Tòa báo bị đột nhập, các phòng đều bị phá phách; Elwood Murray bị dần nhừ tử và máy móc trong xưởng in sau nhà bị đập nát. Buồng tối thoát nạn, nhưng máy ảnh thì không. Đấy là những thời khắc khổ sở của ông ta, rồi chúng tôi sẽ được nghe tường tận, hết lần này đến lần khác, về sau.
Đêm đó nhà máy cúc phát hỏa. Lửa phụt ra từ các cửa sổ tầng một - tôi không nhìn được từ phòng mình, nhưng xe cứu hỏa lanh canh chạy qua, đến cứu nạn. Tôi buồn phiền và hoảng sợ, dĩ nhiên rồi, nhưng phải thừa nhận chuyện này cũng có gì đó khá kích động. Trong lúc đứng nghe tiếng leng keng, cùng những tiếng thét từ phía nhà máy xa xa vọng lại, tôi nghe có người đi lên từ cầu thang phụ. Tôi nghĩ có lẽ là Reenie, nhưng không phải. Đấy là Laura; nó đang mặc áo gió.
“Em đi đâu thế?” tôi hỏi nó. “Chúng mình phải ở yên một chỗ. Không cần em đi lang thang thì cha cũng đủ chuyện lo rồi.”
“Em chỉ vào nhà kính thôi,” nó nói. “Em vào cầu nguyện. Em cần một nơi yên tĩnh.”
Rồi người ta cũng dập được lửa, nhưng tòa nhà đã bị tàn phá nặng nề. Đấy là thông tin đầu tiên. Rồi bà Hillcoate chạy tới, hụt hơi, bê theo quần áo vừa giặt, và được người gác cho qua. Có kẻ đốt nhà, bà nói: người ta tìm thấy nhiều can xăng. Người trực đêm nằm chết trên sàn. Có vết bầm trên trán.
Người ta thấy hai kẻ bỏ chạy khỏi đó. Nhận dạng được không? Không chắc chắn, nhưng nghe đồn một trong hai là cậu bô của cô Laura. Reenie nói đấy không phải cậu bô của nó, Laura không có cậu bô nào cả, anh ta chỉ là người quen thôi. Ồi, là gì cũng được, bà Hillcoate nói, nhiều phần chắc chắn là hắn ta đã thiêu rụi nhà máy cúc và choảng vào đầu Al Davidson tội nghiệp khiến ông ta chết thẳng cẳng, và nếu hắn còn khôn hồn thì nên biết đường lánh cho xa khỏi thị trấn.
Đến bữa tối Laura nói mình không đói. Nó nói lúc này nó không ăn được: nó sẽ dọn một khay riêng, để ăn sau. Tôi nhìn nó mang khay theo cầu thang phụ về phòng. Trên khay cái gì cũng suất đúp - thịt thỏ, bí, khoai luộc. Bình thường nó coi ăn uống là một lối loay hoay - cho tay có việc để làm bên bàn ăn, trong lúc mọi người nói chuyện - hoặc không thì là một nhiệm vụ chán ngắt phải làm cho xong, như là đánh bóng đồ bạc. Một thứ quy trình bảo dưỡng tẻ nhạt. Tôi tự hỏi từ đâu ra thái độ lạc quan thình lình với đồ ăn như thế.
Hôm sau nữa, lính ở Trung đoàn hoàng gia Canada tới vãn hồi trật tự. Đấy là trung đoàn cũ của cha hồi chiến tranh. Chuyện ấy làm cha cay đắng, khi thấy chính những người lính đó quay lại chống người của mình - người của ông, hoặc người ông từng nghĩ là của ông. Việc họ không còn nhìn nhận mình như ông thấy nữa thì chẳng cần thiên tài kiệt xuất cũng đoán được, nhưng cả điều đó cũng làm ông cay đắng. Họ yêu ông có phải - chẳng lẽ - chỉ vì tiền? Có vẻ là thế.
Sau khi Trung đoàn hoàng gia Canada đã lập lại trật tự, đội Cảnh sát Kỵ binh đến theo. Ba người xuất hiện trước cửa nhà tôi. Họ gõ cửa rất lịch thiệp, rồi đứng trong sảnh, ủng bóng loáng nghiến kèn kẹt trên ván sàn đánh sáp, mũ nâu cứng đờ cầm trong tay. Họ muốn nói chuyện với Laura.
“Đi cùng em, chị Iris,” Laura thầm thì khi nghe gọi. “Em không thể gặp họ một mình được.” Trông nó non nớt, trắng bệch.
Hai chúng tôi ngồi cạnh nhau trên đi văng trong phòng tiếp khách, bên máy quay đĩa cũ. Ba người Kỵ binh ngồi trên ghế bành. Họ không giống như tôi vẫn hình dung về các Kỵ binh, họ già quá, vòng bụng to quá mức. Một người trẻ hơn, nhưng anh ta không phải chỉ huy. Người ngồi giữa là người nói. Ông ta xin lỗi đã làm phiền chúng tôi vào thời điểm hẳn là khó khăn này, nhưng việc này tương đối khẩn. Họ muốn nói chuyện về người có tên Alex Thomas. Laura liệu có biết rằng người này đã được xác nhận là phần tử nổi loạn cực đoan, và đã từng ở trại cứu trợ, chuyên khiêu khích và gây rối loạn?
Laura nói theo những gì nó biết thì anh ta chỉ dạy cho trại viên biết đọc.
Đấy cũng là một cách nhìn, viên Kỵ binh nói. Và nếu ông Thomas vô tội, thì dĩ nhiên là ông ta không có gì phải giấu, và sẽ ra trình diện nếu được yêu cầu, Laura có đồng ý không? Liệu ông ta có thể trú ở đâu trong mấy hôm này?
Laura nói nó không trả lời được.
Câu hỏi được lật lại theo cách khác. Người này đang bị tình nghi: chẳng lẽ Laura không muốn giúp định vị tên tội phạm rất có khả năng đã phóng hỏa nhà máy của cha cô và có thể là nguyên nhân cái chết của một người làm trung thành ư? Nếu những người làm chứng đáng tin, ấy là thế.
Tôi nói những người làm chứng không đáng tin, vì dù kẻ bị bắt gặp giữa lúc chạy trốn là ai thì cũng chỉ thấy từ phía sau, mà chưa kể lúc đó trời tối.
“Cô Laura?” viên Kỵ binh nói, lờ tôi đi.
Laura nói cho dù nó nói được, thì nó cũng không nói. Nó nói một người được coi là vô tội đến khi chứng minh được anh ta có tội. Và làm thế là đi ngược lại những nguyên tắc Ki tô giáo của nó, ném người ra trước hàm sư tử. Nó nói nó rất buồn vì người trực đêm đã chết, nhưng đấy không phải lỗi của Alex Thomas, bởi Alex Thomas sẽ không bao giờ làm một việc như thế. Nhưng nó không thể nói gì thêm.
Nó đang nắm chặt tay tôi, gần cổ tay; tôi cảm thấy cơn run rẩy từ nó truyền sang, như đường ray rung lên dưới bánh tàu.
Viên trưởng toán Kỵ binh nhắc đến cụm từ cản trở công lý.
Đến lúc này tôi nói Laura mới mười lăm tuổi, và không thể buộc nó chịu trách nhiệm như một người thành niên. Tôi nói những gì nó đã nói với họ tất nhiên là thông tin mật, và nếu nó lọt ra ngoài phòng này - đến tai báo chí, chẳng hạn - thì cha tôi sẽ biết phải cảm ơn ai.
Ba người Kỵ binh mỉm cười, rồi đứng dậy, rồi cáo về; họ tỏ ra đàng hoàng và thân thiện. Có thể họ đã nhìn ra tính khiếm nhã của phương hướng điều tra này. Mặc dù đã đến chân tường, cha vẫn còn nhiều bạn.
“Được rồi,” tôi nói với Laura, khi họ đã đi. “Chị biết em giấu anh ta ở trong nhà này. Tốt hơn hết là em nói cho chị ở đâu.”
“Em cho anh ấy ở dưới hầm lạnh,” Laura nói, môi dưới run lên.
“Hầm lạnh!” tôi kêu lên. “Gì mà ngốc thế! Sao lại ở đấy?”
“Để anh ấy còn có cái ăn, trong trường hợp khẩn cấp,” Laura nói, rồi òa khóc. Tôi ôm lấy nó, nó khụt khịt vào vai tôi.
“Có cái ăn à?” tôi nói. “Có mứt và thạch và dưa góp hả? Laura ơi là Laura, em đúng là trần đời có một.” Rồi cả hai cùng cười phá lên, và sau khi đã cười chán và Laura đã quệt nước mắt, tôi nói, “Chúng mình phải đưa anh ấy ra thôi. Nhỡ Reenie xuống lấy lọ mứt gì đó và đụng nhầm phải anh ấy thì sao? Chị ấy sẽ nhồi máu cơ tim mất.”
Chúng tôi cười một chập nữa. Cả hai đều rất kích động. Rồi tôi nói gác mái là tốt nhất, vì chẳng ai lên đó bao giờ. Tôi sẽ sắp xếp hết, tôi nói. Nó thì đi ngủ đi là hơn: rõ ràng là cơn căng thẳng đã ảnh hưởng và nó đã kiệt sức rồi. Nó thở dài nho nhỏ, như một đứa bé đã mệt, rồi làm theo lời tôi. Nó đã sống trong lo sợ mấy hôm nay, oằn người dưới gánh nặng ghê gớm của bí mật này như dưới một cái bao tải dữ, và bây giờ đã trao lại cho tôi, nó có thể yên ổn mà ngủ.
Có phải tôi tin mình làm thế chỉ để giải phóng cho nó - để giúp nó, che chở nó, như tôi vẫn làm?
Phải. Lúc đó tôi tin vậy.
Tôi đợi đến khi Reenie đã dọn dẹp xong bếp về phòng nghỉ. Rồi tôi xuống cầu thang hầm, bước vào giá lạnh, vào bóng mờ tối, vào mùi ẩm mốc và mùi nhện. Tôi đi qua cửa hầm than, cửa hầm rượu khóa. Cửa hầm lạnh gài then. Tôi gõ cửa, mở then, đi vào. Có tiếng sột soạt. Xung quanh tối đen, tất nhiên; chỉ có ánh sáng từ hành lang hắt vào. Trên nóc thùng táo là tàn tích bữa tối của Laura - mấy khúc xương thỏ. Trông như bàn thờ của người nguyên thủy.
Đầu tiên tôi không thấy anh ta; anh ta đang nấp sau thùng táo. Rồi tôi cũng nhìn ra. Đầu gối, bàn chân. “Không sao đâu,” tôi thì thầm. “Là tôi đây.”
“À,” anh ta nói bằng giọng lúc thường. “Cô chị tận tụy.”
“Suỵt,” tôi nói. Công tắc đèn là một sợi xích thòng xuống từ bóng đèn. Tôi giật xích, đèn bật lên. Alex Thomas đang gỡ mình bò ra từ sau thùng táo. Anh ta gù người, chớp mắt, bẽn lẽn, như bị bắt quả tang chưa cài quần.
“Anh phải tự biết xấu hổ chứ,” tôi nói.
“Cô đến đuổi tôi đi, hoặc bắt tôi nộp cho giới chức có thẩm quyền, tôi đoán thế,” anh ta nói và mỉm cười.
“Đừng có ngớ ngẩn,” tôi nói. “Chắc chắn tôi không muốn anh bị phát hiện ở đây. Cha sẽ không chịu nổi vụ tai tiếng.”
“Con Gái Nhà Tư Bản Che Chở Tay Sát Nhân Bôn Sê Vích?” anh ta nói. “Ly Kỳ Tổ Ấm Tình Yêu Giữa Chồng Lọ Thạch? Kiểu như thế phải không?”
Tôi cau mày nhìn anh ta. Đây không phải chuyện đùa.
“Cô yên tâm. Laura và tôi không có gì đâu,” anh ta nói. “Đấy là một cô bé rất cừ, nhưng cô nhỏ là một bà thánh tập sự, còn tôi không phải kẻ dỗ trẻ con.” Giờ anh ta đã đứng thẳng lên và đang phủi bụi.
“Thế thì làm sao nó lại đi giấu anh?” tôi hỏi.
“Nguyên tắc là nguyên tắc. Khi tôi đã hỏi, cô bé buộc phải nhận lời. Tôi thuộc vào hạng người thích hợp.”
“Hạng gì?”
“ ‘Kẻ hèn mọn nhất’, tôi nghĩ thế,” anh ta nói. “Theo lời Giê su.” Tôi thấy câu đó khá cay độc. Rồi anh ta bảo gặp Laura là khá tình cờ. Anh ta vấp phải nó trong nhà kính. Anh ta làm gì trong đó? Ẩn nấp, dĩ nhiên. Anh ta cũng đã hy vọng, anh ta bảo, có thể nói chuyện với tôi.
“Tôi à?” tôi nói. “Vì sao cơ chứ, với tôi?”
“Tôi nghĩ cô sẽ biết phải làm gì. Cô có vẻ là mẫu người thực tế. Em cô thì thiếu…”
“Laura xem ra đã xoay xở khá tốt,” tôi nói cộc lốc. Tôi không thích người khác chê bai Laura - tính mơ hồ, tính đơn giản, tính tắc trách của nó. Chê Laura là quyền của riêng tôi. “Làm sao nó lại đưa anh qua những người canh cửa được?” Tôi hỏi. “Để vào nhà? Những người mặc áo bành tô ấy.”
“Ngay cả những người mặc áo bành tô cũng có lúc phải đi giải buồn,” anh ta đáp.
Tôi giật mình vì sự thô tục này - nó đi ngược lại thái độ lịch thiệp của anh ta bên bàn ăn tối - nhưng có lẽ đấy là một ví dụ về cái cười khẩy của trẻ mồ côi mà Reenie phỏng đoán. Tôi quyết định lờ đi. “Anh không phải kẻ phóng hỏa, tôi hiểu là thế,” tôi nói. Tôi cố ý mỉa mai, nhưng lại không được tiếp nhận như vậy.
“Tôi không ngu mà làm thế,” anh ta nói. “Tôi không đi phóng hỏa mà không có lý do.”
“Ai cũng nghĩ là anh.”
“Nhưng không phải,” anh ta nói. “Nhưng nghĩ như thế sẽ rất tiện cho một số người.”
“Một số người nào? Vì sao?” Lần này không phải muốn dồn anh ta, mà tôi thực sự bối rối.
“Cô có óc mà,” anh ta đáp. Nhưng không nói gì thêm.