Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CÁI GẠT TÀN

❊ ❊ ❊

Tôi lại vừa đi khám bệnh. Myra chở tôi đi: có băng trong, do băng vừa tan đã lại đóng băng, đường trơn lắm tôi không đi bộ được đâu, cô nói.

Viên bác sĩ gõ vào xương sườn rồi ghé tai nghe trộm tim tôi, rồi cau mày rồi xóa bỏ cái cau mày, và rồi - khi đã kết luận xong - hỏi tôi thấy thế nào. Tôi đoan chắc anh ta đã làm gì tóc mình rồi; rõ ràng lúc trước trên đỉnh có mỏng hơn. Anh ta đã cho phép mình chơi trò dán tóc ngang sọ chăng? Hay tệ hơn nữa là cấy tóc? A ha, tôi nghĩ. Cứ chạy bộ, cứ phô chân lông lá đi, tuổi tác đã gõ cửa vào rồi nhé. Chẳng mấy chốc cậu sẽ hối những giờ tắm nắng cho mà xem. Mặt cậu sẽ nhăn nheo như da dái.

Nhưng anh ta vẫn đùa bỡn đến khó chịu. May ít nhất anh ta cũng không bảo, Hôm nay chúng ta thấy sao? Anh ta không bao giờ gọi tôi là chúng ta, như vài tay bác sĩ khác: anh ta hiểu giá trị của ngôi thứ nhất số ít.

“Tôi không ngủ được,” tôi bảo anh ta. “Tôi nằm mơ quá nhiều.”

“Thế nếu bác đang mơ thì rõ là bác đang ngủ rồi,” anh ta nói, nghĩ thế là dí dỏm.

“Anh hiểu ý tôi mà,” tôi đanh giọng đáp. “Không giống nhau. Mơ làm tôi thức giấc.”

“Bác vẫn uống cà phê à?”

“Không,” tôi nói dối.

“Vậy chắc là lương tâm cắn rứt rồi.” Anh ta đang viết đơn thuốc, hẳn lại viên đường chứ gì. Anh ta cười khùng khục một mình, chắc nghĩ mình hài hước lắm. Đến một lúc nhất định, những tàn phá do tuổi tác chạy ngược chiều kim đồng hồ; chúng ta trở lại ngây thơ khi già đi, ít nhất trước mắt người ngoài. Cậu bác sĩ nhìn tôi là thấy một bà già vô dụng và vì thế mà vô tội.

Myra ngồi đọc tạp chí từ nửa năm trước ở phòng chờ trong lúc tôi ở trong mật cung. Cô ả xé ra một bài báo về phòng tránh sức ép tâm lý, một bài nữa về tác dụng khi ăn bắp cải sống. Đấy là cho tôi, cô nói, hài lòng với những của rơi hữu ích vừa bắt được. Cô ả không ngừng chẩn đoán tôi. Sức khỏe trần tục của tôi cũng khiến cô bận tâm gần ngang sức khỏe tâm linh của tôi: bộ đồ lòng được cô đặc biệt sâu sát.

Tôi bảo cô khó có thể nói tôi đang phải chịu sức ép, vì lấy đâu ra sức ép trong chân không. Còn bắp cải sống sẽ làm tôi sình lên như xác bò chết, nên thôi xin kiếu các tác dụng. Tôi nói mình không muốn sống cả đời, hoặc ít nhất là cả phần đời còn lại, mà thum thủm như thùng dưa cải muối và kêu pành pạch như còi xe tải.

Cứ thô lỗ nói về các chức năng cơ thể là sẽ bịt được miệng Myra. Cô lái nốt đường về trong im lặng, nụ cười đông lại trên môi như thạch cao.

Đôi khi tôi làm mình thấy xấu hổ.

Thôi trở lại nhiệm vụ trong tay. Trong tay là một từ thích hợp: đôi khi tôi cảm giác chỉ có bàn tay mình đang viết, chứ không phải phần người còn lại; như bàn tay tôi đã nhiễm lấy sự sống riêng, và sẽ tiếp tục ngay cả khi bị cắt rời khỏi phần người còn lại, như một món thần vật ướp quấn băng, yểm bùa Ai Cập, hay bàn chân thỏ khô người ta hay treo dưới gương xe lấy khước. Mặc các ngón tay cứ viêm khớp tùy ý, bàn tay gần đây tỏ ra hoạt bát một cách bất thường, như muốn quăng dè dặt ra ngoài cửa sổ. Chắc hẳn nó đã viết ra lắm điều không được phép viết nếu có chịu sự giám sát của lý trí tôi.

Lật trang nào, lật trang nào. Tôi đến đâu rồi? Tháng Tư năm 1936.

Đến tháng Tư chúng tôi có điện thoại của hiệu trưởng trường Thánh Cecilia, nơi Laura đang học. Có vấn đề về nề nếp cư xử của Laura, bà ta nói. Chuyện này tốt nhất không bàn qua điện thoại.

Richard đang bù đầu vì công việc kinh doanh. Ông ta đề xuất cho Winifred tháp tùng tôi, nhưng tôi nói mình tin chắc không có gì đâu; tự tôi sẽ giải quyết mọi việc, và sẽ báo ông ta nếu có gì quan trọng. Tôi đặt hẹn gặp bà hiệu trưởng, tên bà ta tôi quên rồi. Tôi ăn mặc theo lối hy vọng sẽ dọa được bà ta, hoặc ít nhất cũng nhắc bà ta nhớ địa vị và ảnh hưởng của Richard: tôi nghĩ mình đã mặc áo cashmere viền lông sói - hơi quá ấm so với thời tiết, nhưng ấn tượng - và cái mũ đội con gà tây chết, hoặc vài bộ phận của con gà. Đôi cánh, cái đuôi, cái đầu, đầu lắp mắt thủy tinh đỏ nhỏ tròn vo.

Bà hiệu trưởng là một thực thể giống cái đang héo dần, hình thù như cái cọc gỗ treo áo - bộ xương thủy tinh trùm thứ vải trông âm ẩm. Bà ta ngồi trong văn phòng, cố thủ sau cái bàn gỗ sồi, vai so đến mang tai vì khiếp nhược. Một năm về trước chắc tôi cũng khiếp bà ngang với bà khiếp tôi, hoặc đúng hơn khiếp thứ mà tôi đại diện: một tệp tiền dày bự. Nhưng bây giờ tôi đã rèn được vẻ tự tin. Tôi đã quan sát Winifred hành động, tôi đã luyện tập. Bây giờ tôi có thể nhướn mày riêng một bên.

Bà ta cười lúng túng, chìa ra hàng răng vàng lùn như hạt trên bắp ngô gặm dở. Tôi tự hỏi Laura đã làm gì: hẳn phải có gì ghê gớm lắm, mới kích động nó đến mức đối đầu với Richard vắng mặt cùng quyền lực vô hình của ông ta. “Tôi e rằng chúng tôi không thể tiếp tục nhận Laura được nữa,” bà ta nói. “Chúng tôi đã cố gắng hết sức, và chúng tôi cũng hiểu có những tình tiết giảm nhẹ, nhưng xét trên tổng thể chúng tôi còn phải lo cho những em khác nữa, và tôi e rằng Laura gây nên một ảnh hưởng có tính phá hoại.”

Tới lúc này tôi đã học được giá trị của việc bắt người khác giải thích phân trần. “Xin lỗi, nhưng tôi không hiểu bà nói gì,” tôi nói, gần như không động đậy môi. “Tình tiết giảm nhẹ nào? Ảnh hưởng phá hoại gì?” Tôi để tay nằm yên trong lòng, đầu cất cao và hơi nghiêng sang bên, góc thích hợp nhất để trưng cái mũ gà tây. Tôi hy vọng bà ta sẽ cảm thấy bị bốn mắt chĩa vào chứ không phải hai mắt. Dù tôi có thế mạnh là tiền bạc, bà ta lại có tuổi tác và địa vị. Trong văn phòng rất nóng. Tôi đã vắt áo khoác qua thành ghế, nhưng vẫn đổ mồ hôi như một gã phu tàu.

“Em ấy đưa Chúa ra chất vấn,” bà ta nói, “trong giờ Giáo Sự, mà tôi cần nói thêm đấy là môn duy nhất em ấy tỏ ra có chút quan tâm nào đó. Em ấy thậm chí còn viết một bài luận nhan đề, ‘Chúa Có Nói Dối Không?’ Sự việc này gây phản ứng rất không tốt trong cả lớp.”

“Vậy cô ấy đã đi đến kết luận nào?” tôi hỏi. “Về Chúa ấy?” Tôi kinh ngạc, dù không biểu lộ ra ngoài: tôi cứ nghĩ Laura đã lơ là vấn đề Chúa, nhưng rõ ràng không phải.

“Kết luận khẳng định.” Bà nhìn xuống mặt bàn, bài luận của Laura đang mở ra trên đó. “Em ấy trích - ngay đây thôi - Các Vua I, chương 22 - tích Chúa lừa dối vua Ahab. ‘Này Đức Chúa đã đặt thần khí dối trá trên môi miệng tất cả những ngôn sứ này của vua’. Laura tiếp tục lý luận rằng nếu Chúa đã làm thế một lần, làm sao ta biết được người không làm thế những lần khác, và làm sao chúng ta phân biệt được các tiên đoán giả với những tiên đoán thực?”

“Sao, đấy là một kết luận hợp lý, dù sao đi nữa,” tôi nói. “Laura rõ ràng thuộc Kinh Thánh.”

“Chứ sao nữa,” bà hiệu trưởng tức tối đáp. “Quỷ cũng có thể trích Thánh Kinh để bênh ý hắn. Em ấy quả cũng nói tiếp rằng tuy Chúa có nói dối, nhưng người không gian lận - người lúc nào cũng phái cả ngôn sứ chân chính nữa, nhưng con người không lắng nghe. Theo ý em ấy Chúa như là một trạm phát sóng còn chúng ta là những máy thu bị lỗi, một cách ví von theo tôi là bất kính, đấy là nói nhẹ nhất.”

“Laura không có ý bất kính,” tôi nói. “Không phải với Chúa, dù gì đi nữa.”

Bà hiệu trưởng lờ đi. “Vấn đề không phải ở những lập luận lộng ngôn của em ấy, mà là ở chỗ làm sao em ấy lại nghĩ mình được phép đặt câu hỏi.”

“Laura muốn được trả lời,” tôi nói. “Cô ấy muốn được trả lời về những vấn đề thiết yếu. Tôi nghĩ bà cũng đồng ý rằng Chúa là một vấn đề thiết yếu. Tôi không hiểu sao như thế lại bị coi là phá hoại.”

“Những nữ sinh khác thấy thế. Các em nghĩ rằng em ấy… em ấy phô trương, thế đấy. Thách thức uy quyền được thừa nhận.”

“Cũng như đức Ki tô đã làm,” tôi nói, “hoặc một số người thời đó đã nghĩ vậy.”

Bà ta không chỉ ra điều hiển nhiên là những việc kiểu đó có thể rất hay ho khi là đức Ki tô nhưng không phải lối với một con bé mười sáu. “Bà không hiểu sự việc,” bà nói. Bà còn vặn vẹo đôi tay thực sự, khiến tôi nghiên cứu rất tò mò, vì lần đầu tiên nhìn thấy động tác này. “Những em khác nghĩ… chúng nghĩ em ấy bỡn cợt. Hoặc một vài em nghĩ thế. Một vài em khác nghĩ em ấy nuôi tư tưởng Bôn sê vích. Còn lại chỉ nghĩ em ấy kỳ quặc. Nói thế nào thì em ấy cũng thu hút chú ý một cách không lành mạnh lắm.”

Tôi bắt đầu hiểu ra vấn đề. “Tôi không cho là Laura muốn tỏ ra bỡn cợt,” tôi nói.

“Nhưng rất khó phân biệt!” Chúng tôi nhìn nhau qua bàn một lúc trong im lặng. “Em ấy tạo ra cả làn sóng học tập theo, bà biết không,” bà hiệu trưởng nói, có thoáng ganh tị. Bà đợi tôi thẩm thấu xong tin này, rồi tiếp. “Còn chuyện nghỉ học nữa. Tôi hiểu là có những vấn đề về sức khỏe, nhưng…”

“Vấn đề sức khỏe gì?” tôi hỏi. “Sức khỏe Laura không có gì bất thường cả.”

“Ờ, tôi chỉ đoán, vì bao nhiêu cuộc khám bác sĩ…”

“Cuộc khám bác sĩ nào?”

“Không phải là bà chấp thuận à?” Bà đưa ra một cặp thư từ. Tôi nhận ra giấy viết, giấy của tôi. Tôi lật qua: không phải do tôi viết, nhưng tất cả đều ký tên tôi.

“Tôi hiểu rồi,” tôi nói, nhặt lấy áo khoác lông sói và xắc tay. “Tôi cần nói chuyện với Laura. Cảm ơn bà đã tiếp tôi.” Tôi bắt mấy đầu ngón tay của bà ta. Chẳng phải nói thêm cũng hiểu, rằng Laura sẽ phải rời khỏi trường.

“Chúng tôi đã cố gắng lắm,” người đàn bà tội nghiệp nói. Bà ta gần như khóc đến nơi. Lại một cô Hung Dữ nữa trước mắt tôi. Một con ở đi thuê, đầy thiện ý nhưng vô tích sự. Sao đương đầu được với Laura.

Tối đó khi Richard hỏi cuộc đàm đạo diễn ra thế nào, tôi kể với ông ta về ảnh hưởng phá hoại của Laura với các bạn cùng lớp. Thay vì tức giận ông ta có vẻ thích thú, gần như kính nể. Ông ta nói Laura có khí khái. Ông ta nói tinh thần nổi loạn ở một mức độ nhất định cho thấy tính năng động. Bản thân ông ta cũng không ưa trường lớp và cũng đã khiến các giáo viên phải khốn đốn nhiều phen, ông ta bảo thế. Tôi không nghĩ đấy là động cơ của Laura, nhưng không nói ra.

Tôi không đề cập đến giấy khám bệnh giả mạo: như thế chẳng khác nào đẩy người trước miệng cọp. Quấy phá giáo viên là một chuyện, trốn học lại là một chuyện tương đối khác. Nó phảng phất mùi phi pháp.

“Em không nên giả chữ chị mới phải,” tôi nói riêng với Laura.

“Em không giả được chữ Richard. Khác chúng mình nhiều quá. Chữ chị dễ hơn nhiều.”

“Chữ viết là thứ riêng tư. Thế cũng như ăn cắp ấy.”

Nó quả cũng có vẻ hối lỗi, trong thoáng chốc. “Em xin lỗi. Em chỉ định mượn thôi. Em không nghĩ chị sẽ bực mình.”

“Chị nghĩ có hỏi vì sao thì cũng không ích gì phải không?”

“Em đâu có đòi được đến trường đó,” Laura nói. “Họ cũng chẳng ưa em hơn em ưa họ. Họ không coi em là nghiêm túc. Họ cũng chẳng phải loại người nghiêm túc. Nếu cứ phải ở đó suốt, thế nào em cũng lăn ra ốm thật.”

“Thế em làm gì,” tôi hỏi, “khi không đến trường? Em đi đâu?” Tôi chỉ lo nó có thể đang lén gặp gỡ ai - lén gặp gỡ người đàn ông nào. Nó đang dần đến tuổi đó.

“Ô, đi loăng quăng,” Laura nói. “Em lên phố, em ngồi trong công viên đâu đó. Hoặc đi lang thang thôi. Em có thấy chị, hai ba lần, nhưng chị không thấy em. Chắc là chị đi mua đồ.” Tôi cảm thấy máu dồn lên tim, rồi thắt lại: nỗi sợ, như một bàn tay, bóp vào khiến tôi câm bặt. Chắc mặt tôi đã tái đi.

“Sao thế?” Laura hỏi. “Chị ốm đấy à?”

Tháng Năm năm đó chúng tôi vượt bể qua Anh trên tàu Berengeria, rồi quay lại New York trên chuyến xuất hành đầu đời của Hoàng hậu Mary. Hoàng hậu Mary là con tàu viễn dương chạy tuyến lớn nhất và sang trọng nhất trong lịch sử, hoặc ít ra là khắp các tờ rơi đều viết như vậy. Một sự kiện đánh dấu kỷ nguyên mới, Richard bảo.

Winifred cũng đi cùng. Cả Laura nữa. Một chuyến hải hành như thế sẽ rất tốt cho nó, Richard bảo: gần đây trông nó héo hon gầy rộc, nó đã lông bông từ lúc thình lình nghỉ học rồi. Chuyến đi sẽ bổ ích cho nó về nhiều mặt, những mặt một cô gái như nó sẽ rất cần đến. Dù sao thì chúng tôi cũng đâu thể bỏ nó lại nhà.

Công chúng thiếu điều ăn tươi nuốt sống Hoàng hậu Mary. Từng phân từng tấc được tả lại và chụp ảnh, và quả là từng phân từng tấc cũng được trang hoàng, dải đèn màu, sàn ván ép, cột có gờ sống, gỗ phong mài, đụng đâu cũng thấy bề mặt choáng lộn đắt đỏ. Nhưng nó bơi bì bạch như lợn, và boong hạng hai lại nhìn thẳng xuống boong hạng nhất, nên chẳng thể dạo chơi mà không có một lan can những con mắt hau háu chòng chọc nhìn mình.

Hôm mới lên tàu tôi bị say sóng, nhưng sau đó thì khỏe. Nhảy nhót rất nhiều. Đến lúc đó tôi đã biết khiêu vũ; cũng tàm tạm, nhưng không quá giỏi. (Đừng có làm cái gì giỏi quá, Winifred nói, như thế lại tỏ ra mình cố.) Tôi nhảy với nhiều người, không chỉ Richard - những người ông ta quen biết qua làm ăn, những người ông ta đưa tôi đến giới thiệu. Trông chừng Iris giúp tôi, ông ta sẽ nói với những người đó, cười mỉm và vỗ vào tay họ. Đôi lúc ông ta nhảy với các phụ nữ khác, vợ những người ông ta quen. Đôi lúc ông ta ra ngoài châm điếu thuốc hay dạo một vòng quanh boong, hay ít nhất ông ta bảo mình làm thế. Tôi nghĩ lý do thực là ông ta đang ủ ê, hay đang tư lự. Có những lúc tôi mất hút ông ta cả giờ liền. Rồi ông ta đã ngồi đấy, ở bàn chúng tôi, ngắm tôi đang nhảy tàm tạm, khiến tôi băn khoăn không biết ông ta ở đó từ lúc nào.

Ông ta nhăn nhó, tôi kết luận, bởi chuyến đi không trơn tru như dự kiến. Ông ta không đặt được bàn ăn tối ở Quán Nướng Ngoài Hiên, ông ta không gặp được những người định gặp. Ông ta là con cá lớn trong vùng nước của mình, nhưng trên tàu Hoàng hậu Mary ông ta là một con cá bé thật là bé. Winifred cũng là một con cá bé: vẻ xăng xái của chị ta đâm phí hoài. Không chỉ một lần tôi thấy chị ta bị bơ đi coi như không quen, khi ghé đến bên một bà nào đó. Thế là chị ta lại lủi về cái gọi là “đám chúng mình”, hy vọng không ai thấy chuyện vừa xảy ra.

Laura không nhảy. Nó không biết nhảy, nó không thích nhảy, mà dù sao nó cũng chưa đến tuổi. Ăn tối xong nó thường giam mình trong cabin; nó nói đang đọc sách. Cuộc hải trình đến ngày thứ ba, trong bữa sáng, mắt nó sưng to và đỏ.

Cuối giờ sáng tôi đi tìm nó. Tôi thấy nó nằm ghế võng kéo thảm ca rô trùm lên tận cằm, xuôi xị xem trận ném vòng. Tôi ngồi xuống bên cạnh. Một cô gái trẻ thân hình rắn rỏi đi qua dắt theo bảy con chó, mỗi con một dây riêng; cô ta mặc quần soọc dù trời đang lạnh cóng, khoe đôi chân nâu rám nắng.

“Em có thể kiếm việc làm như thế,” Laura nói.

“Thế nào?”

“Dắt chó đi dạo,” Laura nói. “Chó của người khác. Em thích chó.”

“Em không thích chủ chó đâu.”

“Em có dắt chủ chó đâu.” Nó đeo kính râm, nhưng vẫn run bần bật.

“Có chuyện gì không?” tôi hỏi.

“Không.”

“Trông em lạnh. Chị nghĩ em sắp ốm rồi.”

“Em chẳng làm sao cả. Đừng nói nhiều.”

“Chị lo cho em là đương nhiên.”

“Chị khỏi lo. Em mười sáu rồi. Ốm em khắc biết.”

“Chị đã hứa với cha sẽ chăm sóc em,” tôi cứng nhắc nói. “Cả với mẹ nữa.”

“Hứa ngu.”

“Rõ ràng. Nhưng hồi đó chị còn nhỏ, chị không khôn như bây giờ. Nhỏ là dại mà lại.”

Laura bỏ kính ra, nhưng không nhìn tôi. “Người khác hứa gì không phải lỗi tại em,” nó nói. “Cha bịp chị bắt nhận em. Cha chả bao giờ biết nên làm gì với em - với hai đứa mình. Nhưng bây giờ cha chết rồi, cả hai đều chết rồi, nên thế là xong. Em miễn trách cho chị. Chị được rảnh tay.”

“Laura, có chuyện gì thế?”

“Chẳng có gì cả,” nó nói. “Nhưng mỗi lần em đang cần nghĩ - nghĩ cho ra lẽ - chị lại cho là em ốm và bắt đầu hỏi han nọ kia. Chị làm em phát rồ.”

“Thật không công bằng,” tôi nói. “Chị đã cố lên cố xuống, chị lúc nào cũng muốn lắng nghe em, chị đã dành cho em bao nhiêu…”

“Thôi quên đi,” nó nói. “Nhìn kìa, trò chơi gì dở hơi thế! Sao người Anh lại gọi cái vòng là quoit?”

Tôi cho đấy chỉ là do những phiền muộn cũ - do tiếc thương, tiếc thương Avilion và mọi chuyện đã diễn ra ở đó. Hay có thể nó vẫn còn ôm ấp hình bóng Alex Thomas? Lẽ ra tôi phải hỏi thêm, phải gặng cho ra, nhưng có lẽ ngay cả thế nó cũng chẳng cho tôi biết điều đang thực sự khiến nó lo phiền.

Điều tôi nhớ nhất về chuyến đi, ngoài Laura, là chuyện lột đồ đã xảy ra, khắp trên tàu, ngày cuối cùng khi cập cảng. Mọi thứ mang tên hay chữ tắt của Hoàng hậu Mary đều tìm đường vào xắc tay hay va li ai đó - giấy viết, thìa nĩa bạc, khăn tắm, đĩa đựng xà phòng, mọi thứ - bất cứ gì không xích xuống sàn. Vài người thậm chí còn tháo rời tay vặn vòi nước, cả gương nhỏ và nắm đấm cửa. Hành khách khoang hạng nhất còn bạo tay hơn số còn lại; nhưng người giàu mê xoáy vặt đã thành lệ rồi.

Lý do biện minh cho màn cướp bóc ấy là gì? Lưu niệm. Những người này cần có thứ gì đó để nhắc mình nhớ. Thật buồn cười, trò săn lưu niệm ấy: bây giờ biến thành ngày đó ngay giữa lúc vẫn bây giờ. Người ta không thực sự tin mình đang ở đây, nên cần đánh thó một vật làm bằng, hay vật gì người ta tưởng có thể làm bằng.

Riêng tôi đút túi cái gạt tàn thuốc.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.