Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 325 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MÁY QUAY ĐĨA

❊ ❊ ❊

Đêm qua tôi vừa xem kênh thời tiết, thói quen thường ngày. Ở đâu đó ngoài thế giới kia đang lụt: nước nâu cuồn cuộn, xác bò trương trôi lềnh phềnh, mái nhà túm tụm những người sống sót. Hàng nghìn người bị nhấn chìm. Trái đất nóng lên được bêu danh là thủ phạm chính: con người, thông điệp nói, phải thôi đừng đốt gì thêm nữa. Đốt dầu, đốt khí, đốt trọn những cánh rừng. Nhưng con người không chịu dừng. Tham lam đói khát dồn đuổi họ, bao giờ cũng vậy.

Tôi đến đâu rồi nhỉ? Tôi giở lại trang trước: chiến tranh vẫn đang hoành hành. Hoành hành là chữ người ta hay dùng ngày trước, đi với chiến tranh; vẫn còn dùng, theo tôi biết. Nhưng trên trang giấy này, một trang mới tinh sạch sẽ, tôi sẽ bắt chiến tranh kết thúc - một mình tôi, chỉ bằng một nét bút bi đen. Chỉ cần tôi viết đúng một câu: 1918. 11 tháng 11. Ngày đình chiến.

Đấy. Thế là hết. Súng đã im tiếng. Những người sống còn sót lại ngước nhìn trời, gương mặt lấm lem, áo quần sũng nước; họ trèo lên khỏi những hang cáo và hào chuột chũi bẩn thỉu. Cả hai phe đều thấy mình bại trận. Nơi thành phố, chốn nông thôn, ở đây cũng như bên kia bờ đại dương, chuông nhà thờ đồng loạt đổ. (Tôi vẫn còn nhớ, tiếng chuông vang vang. Đấy là một trong những ký ức đầu tiên của tôi. Cảm giác thật kỳ lạ - không trung bỗng nhiên ngập thanh âm, mà cũng đồng thời vắng lặng. Reenie đưa tôi ra sân nghe. Nước mắt lăn trên mặt chị. Ơn trời, chị nói. Ngày hôm đó lạnh buốt, sương giá đọng trên lá rụng, lớp băng mỏng phủ mặt ao hoa súng. Tôi cầm que chọc cho vỡ. Còn mẹ ở đâu?)

Cha tôi bị thương ở trận sông Somme, rồi lành lại và được thăng lên thiếu úy. Ông lại bị thương lần nữa ở dãy Vimy, nhưng không nặng lắm, và lên đại úy. Ông bị thương lần thứ ba ở rừng Bourlon, lần này nặng hơn. Và giữa lúc ông dưỡng thương ở Anh thì chiến tranh kết thúc.

Cha tôi đã lỡ cuộc đón tiếp đoàn quân trở về hân hoan náo nức ở Halifax, cuộc diễu binh khải hoàn và vân vân, nhưng Cảng Ticonderoga đã mở tiệc riêng chào đón một mình ông. Xe lửa ngừng bánh. Tiếng hoan hô vỡ òa. Một rừng tay giơ lên định đỡ ông, rồi do dự. Ông hiện ra cửa toa. Ông còn một mắt lành và một chân lành. Khuôn mặt xương xẩu, vá víu, hoang dại.

Từ biệt có thể nát lòng, nhưng gặp lại chắc chắn còn tệ hơn nữa. Thịt xương không bao giờ bằng được cái bong bóng lung linh choán chỗ trong khoảng trống. Thời gian và khoảng cách vuốt mịn mọi đường nét; rồi bỗng nhiên người thương xuất hiện, chính giữa ánh mặt trời ban trưa soi mói, mỗi nốt ruồi với lỗ chân lông và nếp nhăn hay râu cứng đều phơi rành rành.

Và ấy là mẹ và cha tôi. Làm sao mỗi người đền lại cho người kia cái tội thay đổi nhiều đến thế? Tội không thể giống như hình bóng đợi chờ. Làm sao có thể vứt bỏ bao nhiêu oán trách? Oán trách không lời và rất bất công, bởi chẳng có ai mà đổ lỗi, chẳng có ai mà quy tội. Chiến tranh không phải một con người. Làm sao trách tội cơn bão được?

Họ đứng đó, trên sân ga. Ban nhạc thị trấn chơi nhạc, chủ yếu là kèn. Cha mặc quân phục; các huy chương trông như lỗ đạn xuyên thủng vải, lộ ra ánh kim đùng đục của cơ thể thép bên trong. Hai bên ông, vô hình ảnh, là hai người em - hai chàng trai đã mất, hai người ông cảm thấy mình để mất. Mẹ tôi đứng đó trong chiếc váy đẹp nhất, thắt đai và cổ áo bẻ rộng, mũ trên đầu buộc dải nơ hồ cứng. Mẹ cười run rẩy. Cả hai đều không biết phải làm gì. Máy ảnh nhà báo chộp được họ trong ánh flash chói lòa; cả hai giương mắt, như bị bắt quả tang phạm tội. Cha tôi đeo mảnh băng đen che mắt phải. Mắt trái rực lên hiểm độc. Dưới mảnh băng, lúc này chưa ai biết, sẹo nhằng nhịt như mạng nhện, do con mắt mất tích dệt nên.

“Người hùng thừa kế nhà Chase trở về,” tờ báo tung hô ầm ĩ. Lại thêm một mối phiền: cha tôi giờ là người thừa kế, nói cách khác ông đã trở thành không cha đồng thời không anh em. Cả vương quốc đặt vào tay ông. Như nắm bùn.

Mẹ tôi có khóc không? Cũng có thể. Chắc họ đã vụng về hôn nhau, như thể cha tôi chọn nhầm hộp ăn trưa của người đàn bà lạ trong cuộc lạc quyên. Đây không phải người ông còn nhớ, cái người đàn bà tháo vát, mệt mỏi này, có cặp kính mũi gái già lóe lên đầu sợi dây chuyền bạc trên cổ. Bây giờ họ là người lạ, và - cả hai hẳn phải nhận ra - trước đây họ vẫn luôn là người lạ. Ánh nắng chói gắt làm sao. Họ đã già thêm biết mấy. Chẳng còn đâu dấu vết chàng trai trẻ từng hào hoa quỳ gối trên băng thắt dây giày trượt cho bạn gái, hay cô gái trẻ yêu kiều nhận cử chỉ lịch thiệp này.

Lại còn một điều nữa sắt lại như thanh gươm đặt giữa hai người. Hiển nhiên ông từng gặp những đàn bà khác, loại người vẫn mon men quanh các chiến trường tìm cơ hội. Gái đĩ - ta sẽ không lảng tránh cái chữ mẹ tôi sẽ không đời nào thốt qua miệng. Ắt hẳn mẹ đã nhận ra, ngay lần đầu ông lại đặt tay lên người mẹ: sự nhút nhát, vẻ cung kính, đã không còn. Chắc hẳn ông đã cưỡng lại cám dỗ suốt thời kỳ Bermuda, rồi hết đất Anh, cho tới tận lúc Eddie và Percy mất mạng và bản thân bị thương. Sau lúc đó hẳn ông đã tóm ghì lấy sự sống, lấy bất kỳ mảnh sự sống nào tay còn quơ được. Sao mẹ lại không hiểu nổi ông cần điều đó, trong hoàn cảnh ấy?

Mẹ hiểu, hay ít ra mẹ hiểu rằng mình cần phải hiểu. Mẹ hiểu, và không nhắc đến điều đó, và cầu nguyện có đủ sức mạnh mà tha thứ, và tha thứ. Nhưng còn ông, ắt hẳn sống chung với sự tha thứ ấy không phải dễ dàng. Bữa sáng diễn ra giữa màn sương tha thứ: cà phê bỏ tha thứ, cháo củ nêm tha thứ, bánh mì quết tha thứ và bơ. Trước sự tha thứ ấy ông bất lực, làm sao phủ nhận lời kết tội không bao giờ đưa ra? Mẹ cũng căm ghét cả người y tá, rất nhiều y tá, đã chăm sóc cha trong rất nhiều bệnh viện khác nhau. Mẹ ước gì sự hồi phục của cha chỉ là nhờ mình mẹ - nhờ sự chăm sóc, tận tụy không mệt mỏi của mẹ. Sự xả thân có mặt trái ấy: thói độc tài.

Thế nhưng cha tôi cũng không khỏe mạnh đến mức ấy. Ngược lại ông là một mớ tơi tả thảm hại, là phép tổng những tiếng thét trong đêm, những cơn ác mộng, những trận thịnh nộ thình lình, những bát hay ly quăng vào tường hoặc sàn, dù không bao giờ vào mẹ. Ông đã tan vỡ, ông cần hàn gắn: như thế mẹ vẫn còn cơ có ích. Mẹ sẽ bọc lấy ông trong bầu không khí an hòa, mẹ sẽ chiều chuộng ông, mẹ sẽ nuông ông từng li từng tí, sẽ cắm hoa trên bàn ông ăn sáng và nấu cho ông những bữa tối ngon lành. Ít nhất thì ông cũng không rước thứ bệnh tai hại nào vào thân.

Tuy thế, ông đã rước về thứ tai ác hơn nữa: cha tới giờ là một kẻ vô thần. Bên trên những chiến hào Chúa đã nổ tung như bong bóng, chẳng để lại gì ngoài những mảnh xác bẩn thỉu của thói đạo đức giả. Tôn giáo là thêm một cây roi nữa thúc vào mông người lính, và bất kỳ ai dám nói khác chỉ là thuyết giáo mộ đạo rởm mà thôi. Có gì được lợi nhờ lòng quả cảm của Percy và Eddie - cuộc đời dũng cảm của họ, cái chết tang thương của họ? Tất cả để đạt được gì? Họ đã bị giết bởi những kém cỏi của một bầy ó già nua bất lực, bầy hung phạm chính, chẳng khác gì đám kia đã cắt cổ họ lẳng qua thành chiến hạm SS Caledonian. Chiến đấu vì Đức Chúa và Nền Văn Minh, những lời lẽ ấy làm ông lộn mửa.

Mẹ tôi nghe mà hoàng kinh. Nghĩa là ông bảo Percy và Eddie chết chẳng vì mục đích cao cả nào? Nghĩa là bao nhiêu kẻ đáng thương ấy chết chẳng vì gì cả? Còn về Chúa, nếu không phải Người thì ai đã phò trợ họ qua quãng thời gian thử thách và gian khổ kia? Mẹ van xin ông ít nhất hãy cất cái vô thần đi cho riêng mình. Rồi sau đó lại hổ thẹn chín người vì nói ra câu đó - cứ như với mẹ quan trọng hơn cả là sợ hàng xóm bàn ra tán vào, chứ không phải linh hồn sống của cha tôi quan hệ ra sao với Chúa.

Nhưng ông cũng tôn trọng ý bà. Ông hiểu đấy là điều cần thiết. Đằng nào thì ông cũng chỉ nói ra miệng như vậy khi uống vào. Trước chiến tranh ông chưa bao giờ uống rượu, hoặc ít ra không phải thường xuyên chủ động, nhưng giờ thì có. Ông uống say rồi đi đi lại lại, cẳng chân tàn phế lết trên sàn. Được một lúc ông bắt đầu run lẩy bẩy. Mẹ tôi sẽ tìm cách vỗ về ông, nhưng ông không muốn vỗ về. Ông sẽ trèo lên cái tháp bè bè trên đỉnh Avilion, nói muốn lên hút thuốc. Chẳng qua là ông tìm cớ ngồi riêng. Trên đó ông sẽ nói chuyện một mình và dộng bình bình vào tường, và uống đến say mèm đờ đẫn. Ông lánh mặt mẹ tôi mỗi lần làm thế, bởi ông vẫn tự coi mình là người lịch thiệp, hoặc ít nhất vẫn bám lấy những mụn vải lịch thiệp còn lại. Ông không muốn làm mẹ khiếp hãi. Ngoài ra còn vì ông cảm thấy tức thở, tôi đoán vậy, khi những săn sóc thiện ý của mẹ thít vào ông quá chặt.

Bước nhẹ, bước nặng, bước nhẹ, bước nặng, như con thú dính bẫy một chân. Tiếng rên và tiếng thét nghèn nghẹt. Tiếng thủy tinh vỡ. Những tiếng động sẽ làm tôi tỉnh giấc: sàn tháp ở ngay trên nóc phòng tôi.

Tiếp đó là tiếng chân đi xuống; rồi là im lặng, hình thù đen sì hắt bóng ngoài ô cửa phòng ngủ đóng chặt. Tôi không nhìn thấy, nhưng cảm thấy được ông, con quái vật độc nhãn lê một cẳng, buồn xo. Tôi đã quen với các tiếng động, và không nghĩ ông sẽ làm gì hại mình, nhưng vẫn đối xử với ông thật cảnh giác.

Đừng hiểu nhầm ý tôi là đêm nào cũng y như thế này. Mà những lần như thế - những đợt lên cơn, chắc vậy - cũng ngày càng ít hơn và thưa hơn, về sau. Nhưng có thể đánh hơi thấy một cơn đang đến khi thấy miệng mẹ tôi mím lại. Mẹ có một thứ ra đa ngầm, có thể dò được sóng phát từ cơn thịnh nộ đang tích lại trong ông.

Tôi muốn nói rằng ông không yêu mẹ nữa chăng? Không phải. Ông vẫn yêu mẹ; về một số khía cạnh ông tôn sùng mẹ. Nhưng ông không đến được với mẹ, và mẹ thì cũng thế. Cứ như cả hai đã uống phải một thứ độc dược trí mạng khiến họ phải đời đời xa lìa nhau, cho dù sống trong cùng một nhà, ăn cùng một mâm, ngủ cùng một chiếu.

Không hiểu cảm giác ấy ra sao - khát khao, mong mỏi người đang ở ngay trước mắt mình, ngày nào cũng vậy? Sẽ không bao giờ tôi biết.

Vài tháng sau cha tôi bắt đầu những chuyến đi chơi tai tiếng. Không phải trong thị trấn chúng tôi, hay ít ra ban đầu thì không. Ông bắt tàu tới Toronto, để “lo việc làm ăn”, và đi chè chén, và đi săn mèo, như người ta gọi hồi đó. Tiếng dữ đồn xa, nhanh lạ lùng, các vụ bê bối vẫn thường như thế. Kỳ quái là cả mẹ lẫn cha tôi đều được dân thị trấn kính trọng hơn vì chuyện này. Ai trách được ông, trong hoàn cảnh ấy? Còn về mẹ, bất chấp mọi điều phải đương đầu, chưa ai nghe thấy một lời kêu than thốt trên miệng bà. Đúng như cần phải thế.

(Làm sao tôi biết được mọi chuyện này? Tôi không biết, không phải theo như lối biết thông thường. Nhưng trong những nhà như nhà tôi, người ta nghe được từ im lặng nhiều hơn từ lời nói ra - từ đôi môi mím lại, đầu quay đi, những cái liếc xéo. Đôi vai gù lên như đỡ một gánh rất nặng. Hèn nào chúng tôi đã học được thói nghe lén qua cửa, Laura và tôi.)

Cha tôi có một dãy ba toong, cán thửa riêng - bằng ngà, bằng bạc, bằng mun. Ông rất coi trọng việc đóng bộ đàng hoàng. Ông chưa bao giờ nghĩ kết cuộc mình sẽ nắm lấy các nhà máy gia đình, nhưng giờ đã đảm nhận ông quyết tâm sẽ làm tử tế. Ông cũng vẫn có thể bán đứt, nhưng sự thể là không tìm được người mua, vào lúc ấy, với cái giá ông đặt ra. Hơn nữa ông còn cảm thấy có bổn phận, nếu không phải với mồ ma người cha, thì cũng với hai người em đã mất. Giấy tờ in tên hãng ông đổi hết thành Chase và Con trai, dù chỉ còn lại một người. Ông muốn đến lượt mình cũng có con trai, hai đứa là tốt nhất, thay thế những người đã mất. Ông muốn duy trì.

Cánh thợ ở nhà máy ban đầu sùng bái ông. Không phải chỉ vì mớ huy chương. Ngay khi chiến tranh kết thúc, đám đàn bà đã lùi về hoặc bị dẹp về nhà, công việc lúc trước họ làm thì nay đàn ông trở về chiếm lấy - những người vẫn còn khả năng làm được việc, tất nhiên. Nhưng không còn quá nhiều việc cần người nữa, nhu cầu khổng lồ thời chiến đã hết rồi. Khắp đất nước chỉ thấy đóng cửa thải hồi, trừ các nhà máy của cha tôi. Ông mướn nữa, ông mướn tràn lan. Ông mướn các cựu chiến binh. Ông nói mình thấy tởm thói vô ơn của đất nước này, và nói đám nhà buôn cần trả lại một phần món nợ. Tuy thế rất ít người làm điều đó. Họ nhắm mắt làm ngơ; nhưng cha tôi, một bên mắt đã hỏng hẳn, không thể nhắm nốt mắt còn lại. Và từ đó ông bắt đầu có tiếng là một kẻ nổi loạn, và hơi khờ.

Xét theo bề ngoài tôi là đứa con đích thực của cha tôi. Tôi trông giống ông hơn mẹ; tôi đã thừa hưởng được cái cau mày, thói đa nghi dai dẳng. (Và cả các huy chương nữa, sau này sẽ thấy. Ông di chúc lại cho tôi.) Reenie thường nói, mỗi lần tôi giở trò ương bướng, rằng tôi là đứa cứng đầu và chị biết cái đó ở đâu ra. Laura ngược lại là con của mẹ. Nó được lòng sùng đạo, ở một dạng nào đó; nó được cái trán cao thanh khiết.

Nhưng bề ngoài thường lừa dối. Tôi sẽ không bao giờ có thể lái xe lao qua cầu. Cha tôi thì có. Mẹ thì không.

Chúng tôi đang ở vào mùa thu năm 1919, cả ba người chúng tôi - cha tôi, mẹ, và tôi - cùng đang cố gắng. Đang tháng Mười một, sắp đến giờ đi ngủ. Chúng tôi ngồi trong phòng khách sáng ở Avilion. Trong phòng có lò sưởi, trong lò đốt lửa, vì trời đã lạnh. Mẹ tôi vừa phục hồi sau một cơn bệnh bí ẩn mới đây, nghe bảo có liên quan gì đó đến thần kinh. Mẹ đang vá áo. Mẹ không cần phải làm việc đó - có thể thuê người - nhưng mẹ muốn làm, muốn có thứ gì cho đôi tay bận bịu. Mẹ đang đính một cái khuy, từ áo tôi đứt ra; nghe bảo tôi phá quần áo giỏi lắm. Trên mặt bàn tròn ngay khuỷu tay mẹ là giỏ đồ khâu viền cỏ hương, hàng đan tay da đỏ, đựng cái kéo và ống sợi cùng quả trứng gỗ để mạng tất; cả đôi kính mới mắt tròn, nằm canh. Mẹ không cần kính khi khâu vá gần.

Áo mẹ màu xanh da trời, cổ áo trắng rộng và cổ tay cũng trắng viền piquet. Tóc mẹ bắt đầu bạc trước tuổi. Mẹ không tính chuyện nhuộm lại, cũng như không đời nào cắt bỏ tay mình, nên khuôn mặt trẻ trung của mẹ lọt giữa một nệm bông kế trắng. Tóc rẽ giữa, những búp sóng to hai bên lượn ra sau thành một búi cuộn xoắn phức tạp sau đầu. (Năm năm sau, khi mẹ chết, tóc mẹ sẽ tém ngang vai, hợp thời trang hơn, bớt khắc khổ hơn.) Mí mắt nhìn xuống, đôi má bầu bầu, cũng tròn như bụng mẹ; khóe miệng hơi cười hiền dịu. Bóng đèn điện trong chụp đèn nửa vàng nửa hồng hắt ánh êm dịu lên mặt mẹ.

Đối diện mẹ là cha tôi, ngồi trên đi văng. Ông ngả người vào đống gối nệm, nhưng đang bứt rứt. Bàn tay ông đặt trên đầu gối cái chân hư; cái chân giần giật lên xuống. (Chân tốtchân hư - hai chữ ấy vẫn khiến tôi tò mò. Chân hư đã phạm lỗi gì, mà bị gọi là hư? Có phải nó bị giấu kín và què quật thế là vì bị phạt không?)

Tôi ngồi cạnh ông, tuy không sát quá. Tay ông vắt ngang thành đi văng sau lưng tôi, nhưng không ôm tôi. Tôi cầm quyển sách học vần, đang đọc thành tiếng cho ông nghe, để khoe là tôi biết đọc. Nhưng tôi không biết đọc, tôi mới chỉ thuộc mặt chữ cái, và thuộc các câu đi với từng bức tranh. Trên chiếc bàn con gần đó đặt máy quay đĩa, cần loa vươn cao như đóa hoa sắt khổng lồ. Tôi nghe giọng mình không khác giọng nói vẫn thỉnh thoảng phát ra từ đó: nhỏ, léo nhéo, xa lắc; chỉ cần gạt ngón tay là tắt.

Chữ A là chữ Anh,

Anh đưa em đi học,

Mua quà cho em ăn,

Dỗ dành khi em khóc.

Tôi ngước lên nhìn xem cha có để ý không. Có nhiều lúc ông không nghe thấy người khác nói với mình. Ông nhận thấy tôi nhìn, hơi mỉm cười với tôi.

Chữ B là Bé con,

Xinh xắn như cái kẹo,

Hai cái tay tí hon,

Hai cái chân tí tẹo.

Cha tôi đã lại nhìn ra cửa sổ. (Có phải ông tự thấy mình đang ở ngoài đó, nhìn vào bên trong? Một đứa cô nhi, suốt đời ở ngoài rìa, một kẻ lữ hành trong đêm. Đây chính là điều theo lý thuyết là mục đích chiến đấu của ông - khúc điền viên bên bếp lửa, êm ấm như trên tờ quảng cáo Bánh Bột Mì: bà vợ má hồng mũm mĩm, hết sức hiền từ, đứa con ngoan ngoãn sùng phục. Cảnh phẳng lặng và buồn tẻ. Liệu có phải lúc này ông đang nhung nhớ thời chiến, cùng cả mùi tanh hôi và những cuộc tàn sát vô nghĩa? Nhung nhớ cuộc đời bản năng, không thắc mắc?)

Chữ D là chữ Diêm,

Đánh lên là nhấp nháy,

Nhưng nếu đốt quá nhiều,

Sẽ cần xe chữa cháy.

Bức tranh trong sách miêu tả một người đang nhảy băng qua không trung, toàn thân bùng cháy - những đôi cánh lửa mọc ra bên vai và gót chân, từng chùm sừng đỏ phụt ra trên đầu. Người ấy đang nhìn xéo qua vai với một nụ cười tinh quái hút hồn, cả người không mặc gì cả. Lửa không phạm được tới anh ta, không gì phạm được tới anh ta. Tôi thích anh ta chỉ vì lẽ đó. Tôi còn lấy sáp màu bôi thêm lửa xung quanh.

Mẹ đâm cây kim xuyên qua lỗ cúc, cắt chỉ. Tôi đọc tiếp giọng càng lúc càng lo lắng, qua những chữ M và N mềm nuột, qua chữ Q quàng quạc và R rắn rỏi và những âm sin sít dọa dẫm của chữ S. Cha tôi ngó chăm chăm vào lửa, nhìn đồng lúa rừng cây nhà cửa thị trấn người và em trai hóa thành bụi khói, cái chân hư tự ý cử động như con chó chạy trong cơn mộng du. Nhà ông đây, cái lâu đài bị vây này; ông là con ma sói trong lòng nó. Ánh chiều màu vỏ chanh lạnh lẽo ngoài cửa sổ nguội dần thành xám. Tôi vẫn còn chưa biết, nhưng Laura đang chuẩn bị ra đời.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.