Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGƯỜI LÍNH MỎI

❊ ❊ ❊

Hôm nay tôi đi bộ đến nhà băng - từ sớm, để tránh cái nóng dữ dội ban trưa, nhưng cũng để có mặt đúng lúc mở cửa. Như thế có thể đảm bảo lôi kéo được sự chú ý của ai đó, một điều tôi đặc biệt cần vì đã thêm lần nữa họ tính nhầm sao kê của tôi. Tôi vẫn còn biết cộng trừ đấy, tôi bảo họ, không phải như máy móc của các cô cậu đâu, và họ mỉm cười với tôi cái nụ cười bồi bàn, vẫn đi kèm bãi nước bọt nhổ vào chén xúp đằng sau bếp. Lần nào tôi cũng đòi gặp người quản lý, người quản lý lần nào cũng “đang bận họp”, lần nào tôi cũng được giao cho một con khỉ nhăn nhở, hống hách vừa sạch mùi sữa cứ tưởng mình là tài phiệt tương lai giải quyết.

Ở đó tôi cảm thấy nỗi khinh bỉ, nhằm vào cái sự tôi có ít tiền; mà lại cũng là cái sự ngày xưa có lắm tiền đến thế. Thực tế chưa bao giờ là tiền của tôi, đương nhiên. Đầu tiên là cha, sau là Richard. Nhưng mùi tiền đã vấy sang tôi, hệt như tội ác vẫn vấy sang những kẻ chỉ tình cờ có mặt ở hiện trường.

Nhà băng có những hàng cột kiểu La Mã, để nhắc chúng ta nên trao lại cho Caesar cái gì của Caesar, chẳng hạn như những khoản phí dịch vụ cứa cổ. Chẳng cần cho vàng tôi cũng muốn giấu tiền trong bít tất nhét dưới đệm chỉ cốt để bỉ mặt họ. Nhưng lời sẽ đồn đãi, tôi đoán thế - rằng tôi đã trở thành mụ già điên gàn dở, cái loại khi phát hiện thì đã chết tắc trong ổ chuột chất cứng hàng trăm hộp thức ăn mèo đã hết và tài sản vài triệu toàn những tờ năm đô la giấu kỹ giữa những trang báo vàng khè. Tôi không ham trở thành nam châm hút đội quân xì ke và đột vòm nghiệp dư cả vùng, có những con mắt đỏ sòng sọc và ngón tay ngứa ngáy.

Từ nhà băng về tôi đi vòng qua tòa thị chính, với tháp chuông Tân phục hưng và tường gạch hai màu kiểu Florence, với cột cờ đã đến hạn sơn lại, cỗ pháo dã chiến từng dự trận sông Somme. Với cả hai bức tượng đồng, đều do nhà Chase đặt làm. Bức bên phải, dưới thời bà nội Adelia, là tượng đại tá Parkman, người cựu chiến binh đã tham gia trận đánh quyết định cuối cùng trong Cách mạng Mỹ, là trận Pháo đài Ticonderoga, bây giờ thuộc tiểu bang New York. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp những người Đức hay Anh hay cả người Mỹ đi trong thị trấn vẻ mặt băn khoăn, cố tìm chiến trường Pháo đài Ticonderoga nổi tiếng. Nhầm thị trấn rồi, họ nghe bảo thế. Mà nói cho đúng, nhầm nước rồi. Anh hãy sang cái bên cạnh.

Chính đại tá Parkman là người đã nhổ trại, vượt biên giới, rồi đặt tên cho thị trấn chúng tôi, như một cử chỉ bệnh hoạn kỷ niệm trận đánh ông đã thua. (Dù thực ra cũng không có gì quá lạ lùng: khá nhiều người dành cho những vết sẹo của mình một sự quan tâm có tính bảo tàng học.) Tượng ông cưỡi trên lưng ngựa, vung kiếm trên đầu và chuẩn bị tế vào luống dã yên thảo ngay cạnh: một người vẻ mặt khắc khổ có đôi mắt trải đời và chòm râu nhọn, như hình dung của một trăm ông thợ điêu khắc về một trăm ông tướng kỵ binh. Không ai biết ngoài đời đại tá Parkman trông ra sao, bởi ông không để lại chứng tích hình ảnh nào và bức tượng thì mãi đến năm 1885 mới dựng, nhưng bây giờ thì trông ông như thế này. Nghệ Thuật chuyên chế như thế đấy.

Còn bên trái thảm cỏ, cạnh một luống dã yên thảo khác, là một nhân vật cũng không kém phần huyền thoại: Người Lính Mỏi, ba cúc áo trên cùng để mở, cổ gục xuống như đợi lưỡi búa đao phủ, binh phục nhàu nát, mũ sắt lệch một bên, tì vào cây súng trường Ross hỏng. Vĩnh viễn trẻ trung, vĩnh viễn kiệt sức, anh ta ngự trên Đài tưởng niệm chiến tranh, da cháy xanh dưới nắng, cứt chim chảy ròng trên mặt như lệ rơi.

Người Lính Mỏi là công trình của cha tôi. Nữ điêu khắc gia tên là Callista Fitzsimmons, tới đây theo sự tiến cử nồng nhiệt của Frances Loring, điều phối viên Ban phụ trách Đài tưởng niệm chiến tranh của Hội nghệ sĩ Ontario. Có vài lời kêu ca từ phía địa phương về cô Fitzsimmons - đàn bà không được coi là thích hợp cho nhiệm vụ này - nhưng cha tôi đã áp đảo cuộc họp những đối tượng mời tài trợ: không phải chính cô Loring cũng là phụ nữ ư, ông xin hỏi? Câu đó mở đường cho vài bình luận bất kính, Làm sao anh biết là câu trong sáng nhất. Sau hậu trường, ông nói tiền ai người nấy giảng và vì cả đám còn lại chỉ là một lũ vắt cổ chày ra nước nên họ bây giờ hoặc là lộn túi ra hoặc là ngậm mỏ lại.

Cô Callista Fitzsimmons không chỉ là đàn bà, mà còn là đàn bà hai mươi tám tuổi có mái tóc đỏ rực. Chị ta bắt đầu lui tới Avilion thường xuyên, bàn luận với cha tôi về mẫu thiết kế dự kiến. Những cuộc gặp này diễn ra trong thư viện, cánh cửa đầu tiên mở, sau rồi đóng. Chị ta được sắp xếp ở một trong những phòng ngủ dành cho khách, đầu tiên phòng đẹp nhì, sau đến đẹp nhất. Chẳng mấy chốc gần như cuối tuần nào chị ta cũng về đây, và phòng của chị ta bắt đầu trở thành phòng “của chị ta”.

Cha tôi có vẻ vui lên; chắc chắn là ông có uống ít hơn. Ông cho dọn dẹp sân vườn, ít nhất cũng đủ để trông được; lối xe vào được rải sỏi lại; chiếc Thủy Nữ Tinh cạo sơn rồi sơn lại và lắp đặt lại nội thất. Đôi lúc có những buổi đàn đúm thân mật cuối tuần, khách là bạn bè nghệ sĩ của Callista từ Toronto đến. Những nghệ sĩ ấy, trong số họ không cái tên nào còn lại đến ngày nay, không mặc áo vét mà cũng không có cả com lê dự tiệc tối, chỉ mặc áo len cổ tim; họ ăn những bữa vội vàng trên cỏ, đàm luận những khía cạnh vi tế trong Nghệ Thuật, hút thuốc uống rượu và cãi cọ. Các nghệ sĩ gái dùng quá nhiều khăn trong phòng tắm, hẳn nhiên vì đây là lần đầu tiên họ biết thế nào là bồn tắm hẳn hoi, theo giả thiết của Reenie. Chưa kể họ có bộ móng tay cáu bẩn, và lại cắn móng tay.

Khi nào không có tụ tập thì cha và Callista đi picnic, bằng ô tô - chiếc không mui hai chỗ, không phải chiếc bốn chỗ - cầm theo giỏ đồ ăn do Reenie vừa làu nhàu vừa soạn. Hoặc là đi bơi thuyền, Callista mặc quần vải hai tay cắm vào túi, như Coco Chanel, cùng một áo thun cổ tròn cha hay mặc ngày xưa. Đôi lúc hai người lái xe đến tận Windsor, dừng lại các quán ven đường có cốc tai và nhạc dương cầm gào rú và nhảy nhót thác loạn - địa chỉ quen thuộc của các băng đảng buôn lậu rượu mạnh, từ Chicago hay Detroit đến đây thỏa thuận với những nhà chưng cất yêu luật pháp trên đất Canada. (Đang là thời kỳ Cấm rượu ở nước Mỹ; rượu mạnh chảy qua biên giới như là nước bằng vàng; những xác chết đã xén mười đầu ngón tay và túi lộn trái bị quẳng xuống sông Detroit rồi dạt vào bờ hồ Erie, khiến nổ ra tranh cãi xem phía nào chịu phí tổn chôn cất.) Trong những chuyến ấy cha và Callista thường đi cả đêm, hoặc có khi vài đêm. Có lần họ đến tận thác Niagara, khiến Reenie phát ghen tị, và một lần đến Buffalo; nhưng họ đến Buffalo bằng xe lửa.

Những chi tiết này chúng tôi thu lượm được từ Callista, vốn không dè xẻn các chi tiết. Chị ta bảo chúng tôi cha cần được “truyền lửa”, và rằng cái việc truyền lửa này rất tốt cho ông. Chị ta nói cha cần biết cởi biết mở hơn, cần hòa nhập với đời nhiều hơn. Chị ta nói chị ta và cha là “chiến hữu cực thân”. Chị ta bắt đầu gọi chúng tôi là “hai nhóc”, và bảo chúng tôi có thể gọi chị ta là “Callie”.

(Laura hỏi cha có nhảy không, ở những quán ven đường ấy: khó tưởng tượng điều đó, vì chân ông đã hỏng. Callista nói không, nhưng ông đứng xem cũng vui. Tôi sau này có ngờ. Xem người khác nhảy chả có gì vui nếu mình không làm được.)

Tôi kính sợ Callista vì chị ta là nghệ sĩ, lại được hỏi ý kiến như một người đàn ông, lại sải bước dài và bắt tay người khác cũng như đàn ông, và hút thuốc bằng cái đót đen ngắn, và biết về Coco Chanel. Chị ta xỏ lỗ tai, mái tóc đỏ (nhuộm bằng henna, bây giờ tôi hiểu) trùm khăn túm lại. Chị ta mặc áo suôn chảy như váy thụng vẽ những đường xoáy táo tợn: hoa lồng đèn, hoa vòi voi, hoa nghệ tây, đấy là tên những màu trên ấy. Chị ta bảo tôi những mẫu ấy là của Paris đấy, lấy cảm hứng từ dân lưu vong Bạch Nga. Chị ta giải thích thế nghĩa là gì. Chị ta lúc nào cũng sẵn sàng giải thích.

“Một trong số lũ mèo của ông ấy thôi,” Reenie nói với bà Hillcoate. “Chẳng qua là xỏ thêm một đứa vào dây, mà Chúa cũng biết là dây dài bằng cả cánh tay rồi, nhưng ai cũng tưởng ông ta sẽ biết đứng đắn mà đừng đưa ả vào trong nhà này chứ, trong khi mồ bà chưa kịp xanh cỏ, mà mồ ấy có khác gì do chính tay ông ta đào.”

“Sao lại là mèo?” Laura hỏi.

“Đừng nhúng mỏ vào,” Reenie quặc. Phải giận dữ lắm thì chị mới nổ ra trong lúc tôi với Laura vẫn còn trong bếp. (Rồi sau tôi có giảng cho Laura hiểu: mèo là loại con gái thích nhai kẹo cao su. Nhưng Callie Fitzsimmons không có nhai kẹo.)

“Trẻ bé tai to đấy,” bà Hillcoate cảnh giác, nhưng Reenie bất cần.

“Còn về những đồ dị hợm vắt trên người ả, thật chẳng khác gì nhông nhông quần lót đến nhà thờ. Giơ lên ánh sáng có thể thấy cả mặt trời trăng sao và mọi thứ ở giữa bày ra. Cơ mà ả cũng chẳng có gì mà bày, ả là cái hạng gái flapper[1] phật phờ ấy, ả phẳng lì như trẻ giai.”

“Tôi thì chẳng đời nào có gan,” bà Hillcoate nói.

“Cái đấy không thể gọi là gan,” Reenie nói. “Ả chẳng để lấy một tâm.” (Khi Reenie đã sôi lên thì chị bất chấp ngôn ngữ.) “Ả bị khuyết cái gì đấy, cứ tin tôi đi; ả ta chập toàn bộ mạch. Ả ta đi bơi truồng trong ao súng, giữa đống ếch nhái cá vàng - tôi gặp ả ta từ bãi cỏ đi về, độc một cái khăn tắm quấn lên trang phục Chúa ban cho Eva. Ả ta chỉ cười gật đầu, không chớp lấy một mắt.”

“Tôi có nghe chuyện đó,” bà Hillcoate nói. “Tôi cứ nghĩ là đồn nhảm. Nghe có vẻ khó tin.”

“Ả ta chỉ nhằm đào mỏ,” Reenie nói. “Ả ta chỉ muốn cắm vuốt vào ông, rồi rút sạch ruột.”

“Đào mỏ là gì? Vuốt là gì?” Laura hỏi.

Phật phờ khiến tôi nghĩ đến quần áo vừa giặt, sũng nước trên dây phơi, trong gió. Callista không giống thế tí nào.

Có đôi chút chủng chẳng về cái Đài tưởng niệm chiến tranh, và không chỉ vì những đồn thổi quanh cha với Callista Fitzsimmons. Một số người trong thị trấn nghĩ Người Lính Mỏi trông tiều tụy quá, chưa kể còn nhếch nhác nữa: họ chỉ trích cái áo sơ mi bỏ khuy. Họ muốn có cái gì đó vinh vang, như Nữ Thần Chiến Thắng trên đài tưởng niệm cách đây hai thị trấn, giương cánh như thiên thần, áo choàng tung bay trong gió, cầm trong tay cái chạc ba răng trông như chĩa nướng. Họ cũng muốn có dòng chữ “Tặng Những Người Tự Nguyện Hy Sinh Vì Nghĩa Cả” ở đằng trước.

Cha tôi không nhượng bộ về mẫu tượng, ông nói họ nên lấy làm mừng vì Người Lính Mỏi vẫn còn đủ hai tay hai chân, chưa kể cái đầu, và nếu họ không coi chừng thì ông sẽ bỏ phiếu cho chủ nghĩa hiện thực trần trụi và bức tượng sẽ dựng từ những mảnh xác người thối rữa, mà ông đã giẫm lên khá đủ trong cái thời ấy. Còn về dòng chữ, những hy sinh này chẳng tự nguyện quái gì sất, những kẻ chết chẳng hề mong muốn được nổ tung lên về Nước Trời. Ông thì ưa hơn câu “Kẻo Chúng Ta Quên”, nó đặt trọng tâm vào đúng vấn đề: thói quên của chúng ta. Ông nói quá nhiều người đã quên đi quá nhiều thứ rồi, mẹ kiếp. Ông hiếm khi chửi thề giữa công chúng, nên lần này gây ảnh hưởng mạnh. Ông được làm theo ý mình, dĩ nhiên, bởi ông trả tiền.

Phòng thương nghiệp quyên tiền làm bốn tấm biển đồng, khắc bảng tên danh dự chiến sĩ trận vong và tên các trận đánh. Họ muốn đề tên mình ở cuối, nhưng cha tôi dè bỉu đến nỗi họ phải từ bỏ ý định. Tượng đài là dành cho người chết, ông nói - không phải cho những kẻ còn sống nhăn, đã thế còn gặt hái lợi nhuận từ họ. Lối nói năng này đem lại cho ông không ít kẻ thù.

Tượng đài được khánh thành tháng Mười một năm 1928, đúng Ngày tưởng niệm. Người đến dự khá đông, bất chấp mưa phùn lạnh cắt da. Người Lính Mỏi đứng trên bệ kim tự tháp bốn mặt ghép bằng đá cuội lấy từ sông, như đá xây Avilion, và bốn tấm biển đồng viền hoa huệ và anh túc, vấn vít giữa tràng lá thích. Cái này cũng mang lại nhiều cãi cọ. Callie Fitzsimmons nói kiểu dáng này vừa cũ vừa tầm thường, hoa tàn lá rủ các thứ - thứ thẩm mỹ Victoria, tức là câu lăng mạ thậm tệ nhất của họa sĩ thời ấy. Chị ta muốn trần trụi hơn, hiện đại hơn. Nhưng dân thị trấn ưa cái này, và cha bảo đôi lúc cũng phải nhượng bộ.

Trong buổi lễ, đội nhạc công chơi kèn túi. (“Ngoài trời còn hơn trong nhà,” Reenie bảo.) Rồi đến bài thuyết pháp chính, do mục sư phái Trưởng lão đứng giảng, nói về những người đã tự nguyện hy sinh vì Nghĩa Cả - đòn của thị trấn trả đũa lại cha, nhằm chứng tỏ ông không thể bỏ túi toàn bộ nghi thức và không phải có tiền là mua được mọi thứ, và họ vẫn nhét được câu đó vào dù ông không ưa. Rồi thêm nhiều bài diễn văn nữa, cùng với cầu nguyện - rất nhiều diễn văn và rất nhiều cầu nguyện, bởi mỗi giáo hội trong thị trấn đều phải được góp mặt. Hội đồng tổ chức không có ai theo Công giáo, nhưng cả linh mục Công giáo cũng được phép nói một bài. Cha tôi đã khăng khăng đòi, bởi theo ông lính Công giáo chết với lính Tin lành chết thì cũng đều chết như nhau.

Reenie nói đấy cũng là một cách nhìn.

“Thế còn cách khác là gì?” Laura hỏi.

Cha tôi đặt vòng hoa đầu tiên. Laura và tôi đứng nhìn, tay nắm tay; Reenie khóc một ít. Trung đoàn hoàng gia Canada có cử một phái đoàn, từ tận doanh trại Wolseley ở London, và thiếu tá M. K. Greene cũng đặt vòng hoa. Tiếp đó là vòng hoa của mọi hạng người có thể kể ra - các hội Cựu chiến binh, Lions, Kinsmen, Rotary, Oddfellows, Granger Order, Hiệp sĩ Columbus, Phòng thương nghiệp, I.O.D.E. Và nhiều người khác nữa, chốt lại bằng bà Wilmer Sullivan đại diện Hiệp hội Mẹ tử sĩ, đã mất ba người con trai. Bài “Chúa ở cùng con” cất lên, rồi đến “Đồn cuối”, hơi lẩy bẩy, do cậu lính kèn ở ban nhạc Hướng đạo sinh chơi, tiếp đó là hai phút mặc niệm và một loạt đạn của đội Dân quân. Rồi chúng tôi nghe “Kèn báo thức”.

Cha đứng cúi đầu, nhưng thấy rõ ông run bần bật, vì đau thương hay căm giận thì không biết được. Ông mặc quân phục bên trong áo đại cán, và tì cả hai bàn tay đi găng da lên ba toong.

Callie Fitzsimmons cũng có mặt, nhưng đứng lùi đằng sau. Đây không phải dịp cho nhà nghệ sĩ bước ra cúi chào, chị ta đã bảo chúng tôi thế. Thay vì váy thụng, chị ta mặc áo khoác đen rất đoan trang và váy dài, đội mũ che gần kín mặt, nhưng vẫn gây nên những tiếng xì xào.

Sau buổi lễ Reenie pha ca cao nóng, cho Laura và tôi, trong bếp, sưởi ấm chúng tôi sau khi rét cóng vì mưa lạnh. Một cốc nữa rót mời bà Hillcoate, bà này nói mình không từ chối đâu.

“Tại sao lại gọi là tưởng niệm?” Laura hỏi.

“Để chúng ta tưởng nhớ tới người chết,” Reenie đáp.

“Tại sao?” Laura hỏi. “Để làm gì? Người chết thích thế à?”

“Không phải là cho người chết, đúng hơn là cho chúng ta,” Reenie bảo. “Khi nào lớn lên cô sẽ hiểu.” Laura luôn phải nghe câu này, nên phớt lờ. Nó muốn hiểu bây giờ cơ. Nó nuốt ực cốc ca cao.

“Cho em cốc nữa được không? Hy sinh vì Nghĩa Cả là gì?”

“Những người lính đã hiến mạng sống cho tất cả chúng ta. Tôi hy vọng không phải cô no bụng đói con mắt, vì đã pha ra là tôi muốn cô uống cho hết.”

“Tại sao họ lại phải hiến mạng sống? Họ có muốn thế không?”

“Không, nhưng họ vẫn làm. Vì thế mới gọi là hy sinh,” Reenie nói. “Giờ thì đủ rồi đấy. Ca cao của cô đây.”

“Họ hiến cuộc đời cho Chúa, vì Chúa muốn vậy. Cũng như Giê su đã chết vì tội lỗi của toàn nhân loại,” bà Hillcoate nói; bà ta là người thuộc hội Báp tít, tự coi mình là chuyên gia tối cao về vấn đề này.

Một tuần sau Laura và tôi đi trên đường mòn dọc bờ sông Louveteau, đoạn dưới Hẻm. Hôm đó có sương mù, dâng lên từ mặt sông, cuồn cuộn như sữa tách bơ trong không trung, rỏ giọt trên cành những bụi cây trơ trụi. Đá trên đường rất trơn.

Trong chớp mắt Laura đã ở giữa sông. May phước chúng tôi không ở chỗ nước xiết, nên nó không bị cuốn đi ngay. Tôi kêu thét và chạy xuôi dòng xuống tóm được áo khoác nó; quần áo chưa bị sũng nước, nhưng đã khá nặng, suýt nữa kéo cả tôi lộn nhào. Tôi tìm cách nương theo dòng lôi nó đến một mũi đá phẳng, rồi xốc nó vào bờ. Nó ròng ròng nước như con cừu ướt, cả tôi cũng không khá hơn. Rồi tôi túm nó mà lắc. Lúc này nó đã vừa run vừa khóc.

“Mày cố tình làm thế!” tôi nói. “Tao nhìn thấy mà. Suýt nữa thì mày chết đuối rồi!” Laura nấc lên rồi thút thít. Tôi ôm lấy nó. “Sao em lại làm thế?”

“Để Chúa cho mẹ sống lại,” nó rền rĩ.

“Chúa không muốn em chết đâu,” tôi nói. “Em mà thế Chúa sẽ tức lắm! Nếu Chúa muốn mẹ sống lại thì ngài đã tự làm rồi, chẳng cần em đi chết chìm.” Đấy là cách duy nhất khiến Laura nghe lời một khi nó ở tình trạng này: phải giả vờ mình biết về Chúa điều gì đó nó không biết.

Nó quệt mũi vào mu bàn tay. “Làm sao chị biết?”

“Thì nhìn đây này - ngài để cho chị cứu em! Thấy chưa? Nếu ngài muốn em chết, thì cả chị cũng ngã xuống sông rồi. Lúc ấy cả hai cùng chết! Thôi nào đứng dậy, em phải về sấy khô người đi. Chị không kể với Reenie đâu. Chị sẽ nói là chẳng may, chị nói em bị trượt chân. Nhưng đừng bao giờ làm thế nữa. Đồng ý nhé?”

Laura không nói gì, nhưng cho phép tôi dẫn về. Tiếp đó là cảnh sợ hãi quang quác rối rít và mắng mỏ, rồi chén canh thịt bò và bồn tắm nóng và túi nước chườm đổ xuống Laura, tai vạ này thì đổ cho thói vụng về có tiếng của nó; nó bị nhắc nhở chân bước đâu phải nhìn chứ. Cha bảo tôi Giỏi lắm; tôi tự hỏi ông sẽ nói gì nếu tôi để mất nó. Reenie nói may mà hai chúng tôi cộng lại cũng được nửa bộ óc, nhưng chúng tôi ra tận chỗ đó làm gì chứ? Mà lại còn giữa lúc sương mù. Chị nói lẽ ra tôi phải khôn ngoan hơn.

Đêm ấy tôi thức hàng giờ, hai tay vòng quanh người, tự ôm mình thật chặt. Chân tôi lạnh như băng, răng đánh lập cập. Tôi không xua được khỏi đầu hình ảnh Laura giữa nước đen giá buốt sông Louveteau - mái tóc xòa ra như khói trong gió xoáy, mặt đẫm nước ánh lên như bạc, mắt trừng trừng nhìn tôi khi tôi chộp lấy tà áo. Sức nặng khiến bàn tay tôi tê dại. Niềm tuyệt vọng chỉ thêm một phút sẽ khiến tôi buông tay.

[1] Flapper, từ chỉ những phụ nữ “thời đại Jazz” ở Mỹ, cắt tóc tém, mặc váy ngắn, thường bị coi là khinh thường các chuẩn mực xã hội.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.