Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 325 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LỜI NHẮN

❊ ❊ ❊

Ngày hôm qua tôi quá mệt mỏi, chẳng làm được gì ngoài nằm ườn trên xô pha. Đúng theo thói quen rõ ràng là bệ rạc đang thành hình, tôi xem một chương trình talk show ban ngày, cái loại chương trình dành cho người ta lên vạch áo chìa lưng. Đang là xu thế thời thượng, cái màn vạch áo đó: dân tình vạch áo mình và vạch luôn cả áo người khác, họ chìa cái lưng họ có và chìa cả những cái vốn không tồn tại. Họ làm thế vì ăn năn cắn rứt, và cũng để làm vui nữa, nhưng chủ yếu vì họ muốn được phô bày còn người khác thì muốn xem họ phô bày. Tôi không nhận mình miễn nhiễm: tôi nếm náp mỗi tội lỗi nho nhỏ đê tiện, mỗi rối rắm dơ dáy trong nhà, mỗi chấn thương được nâng niu. Tôi thưởng thức cảm giác háo hức khi cái nắp lon giun được vặn ra như mở một gói quà sinh nhật mê hồn, và rồi vẻ cụt hứng hiện trên từng khuôn mặt đang dõi theo: những giọt lệ cố nặn ra, lòng thương xót dè sẻn và hể hả, những tràng vỗ tay làm bổn phận theo hiệu. Chỉ có thế thôi à? chắc họ đang nghĩ. Sao phải tầm thường thế, không thể bẩn thỉu hơn, không thể hoành tráng hơn, không thể não lòng hơn ư, cái vết thương còn toác miệng của anh? Kể nữa đi! Làm ơn tăng cái đau thương lên một cấp được không?

Tôi không biết thế nào thì hơn - sống cả đời căng ứ những bí mật trong mình đến khi nổ tung dưới sức ép, hay là để chúng bị hút ra, từng đoạn một, từng câu một, từng chữ một, để rồi cuối cùng cạn kiệt chẳng còn những gì ngày xưa quý báu như vàng chôn giấu, gần gũi như chính lớp da mình - mọi thứ từng quan trọng vào bậc nhất với mình, từng khiến mình co rúm mong giấu giếm, mọi thứ từng chỉ thuộc về mình - và sống những ngày tàn làm cái bị xẹp lép phật phờ trong gió, cái bị xẹp dán miếng nhãn phản quang sáng chói để ai cũng biết có gì bí mật ngày xưa cất ở trong?

Tôi không mưu quảng bá gì, dù nên tốt hay nên xấu.

Miệng Hở Đâu Tàu Chìm Đó, như trên áp phích thời chiến tranh. Tất nhiên rồi tàu cũng chìm hết sạch, chẳng sớm thì muộn.

Sau cả ngày chảy thây như thế, tôi tha thẩn vào nhà bếp, ăn hết nửa quả chuối đang ngả thâm và hai chiếc bánh quy muối. Tôi không biết có phải cái gì đó - thức ăn gì đó - đã rơi xuống sau thùng rác không - có mùi thịt đâu đây - nhưng ngó vào thì không thấy gì. Có thể mùi ở tôi mà ra. Tôi không xua tan được ý nghĩ cơ thể mình bốc mùi thức ăn mèo, dù sáng hôm đó đã xịt lên mình chai nước thơm để ủng nào - Tosca, phải không, hay là Ma Griffe, mà cũng có thể là Je Reviens? Tôi vẫn còn ít đầu thừa đuôi thẹo kiểu đó quanh quẩn trong nhà. Chiến lợi phẩm cho vào túi rác xanh Myra nhé, khi nào đến lúc.

Richard vẫn thường cho tôi nước hoa, mỗi khi nghĩ tôi cần phủ dụ. Nước hoa, khăn lụa, ghim nhỏ gắn đá hình các con vật nuôi, chim trong chuồng, cá vàng trong bể. Khiếu thẩm mỹ của Winifred, không phải dành cho mình mà cho tôi.

Trên tàu từ Cảng Ticonderoga về, và trong suốt những tuần tiếp đó, tôi suy nghĩ về lời nhắn của Laura, lời nhắn Reenie nói Laura đã để lại cho tôi. Như vậy lúc đó nó phải biết bất cứ điều gì nó dự định nói với tay bác sĩ lạ mặt ở bệnh viện có thể sẽ phản pháo lại. Nó phải biết có nguy cơ, và vì thế nó đã có biện pháp dè chừng. Bằng cách nào đó, ở đâu đó, nó đã để lại một lời, một chỉ dẫn cho tôi, như cái khăn tay đánh rơi hay đường sỏi trắng dẫn qua rừng.

Tôi hình dung nó viết lời nhắn đó, giống như mỗi lúc nó viết cái gì. Chắc chắn là bằng bút chì, bút chì một đầu bị gặm. Nó vẫn thường gặm bút chì; hồi bé miệng nó lúc nào cũng có mùi gỗ thông, và nếu là bút chì màu thì môi nó sẽ xanh hoặc tím. Nó viết rất chậm; chữ như trẻ con, các nguyên âm tròn và chữ o khép kín, những cái đuôi dài run rẩy cho chữ g và y. Dấu chấm trên chữ i và j bao giờ cũng là một khuyên tròn, lệch tít về bên phải, cứ như quả bóng bay đen nhỏ buộc vào cán nhờ sợi dây vô hình; gạch ngang chữ t chỉ có một bên. Tôi ngồi bên nó trong tâm trí, xem nó sẽ làm gì tiếp.

Nó đã viết xong lời nhắn, rồi nhét vào phong bì dán lại, rồi giấu đi, cũng như đã giấu túi đồ vụn vặt linh tinh ở Avilion. Nhưng cái phong bì này nó có thể giấu đâu? Không phải ở Avilion: nó không hề đi đâu gần đó, trong khoảng thời gian ngay trước khi bị đưa đi.

Không, chắc chắn phải ở trong ngôi nhà Toronto. Nơi nào đó không ai thèm nhìn đến - Richard, Winifred, hay một kẻ trong đám Murgatroyd. Tôi đã tìm trong nhiều chỗ - đáy các ngăn kéo, lưng các tủ chè, túi các áo khoác mùa đông của tôi, dãy xắc tay vô tận, kể cả chồng găng tay mùa đông - nhưng chẳng thấy gì cả.

Rồi tôi nhớ một lần bắt gặp nó, trong thư viện của ông nội, hồi nó mười hay mười một tuổi. Nó đang để mở cuốn Kinh Thánh của nhà trước mặt, một cuốn lớn dữ dằn bọc da, và đang tỉa đi từng mẩu bằng cây kéo may cũ của mẹ.

“Laura, em làm cái gì thế?” tôi nói. “Đấy là Kinh Thánh mà!”

“Em cắt bỏ những đoạn em không thích.”

Tôi vuốt phẳng những trang nó đã vứt vào sọt giấy, từng dải sách Ký Sự, hàng trang sách Lê Vi, những mẩu nhỏ trong phúc âm theo Mát Thêu đoạn Giê su rủa cây vả không trái. Lúc đó tôi nhớ lại chuyện Laura đã phẫn nộ vì cây vả đó, cái hồi còn đi học trường Chủ nhật. Nó nổi giận đùng đùng vì Giê su lại đi gây chuyện với một cái cây. Ai cũng có ngày khó ở, lúc đó Reenie nhận xét, tay thoăn thoắt đánh lòng trắng trứng trong cái âu vàng.

“Em không được làm thế,” tôi nói.

“Chỉ là giấy thôi mà,” Laura nói, vẫn cắt tiếp. “Giấy thì không quan trọng. Chỉ chữ viết trên giấy mới quan trọng thôi.”

“Em sẽ bị phạt mà xem.”

“Chả có đâu,” nó nói. “Chẳng ai mở cuốn này ra bao giờ. Mọi người chỉ nhìn mấy trang đầu, xem phần sinh, phần hôn, phần tử.”

Nó nói cũng đúng. Chuyện đó chẳng bao giờ bị phát hiện.

Chính ký ức ấy mách tôi lôi ra cuốn an bom cưới của mình, lưu những bức ảnh chụp cái sự kiện đó. Rõ ràng cuốn này chẳng mấy thú vị với Winifred, mà cũng chưa bao giờ thấy Richard lật giở từng trang vẻ mặt trìu mến. Laura phải biết điều đó, nó phải biết đây là nơi an toàn. Nhưng cái gì - nó phải nghĩ đến chứ - cái gì có thể xui khiến tôi ngó vào đó bao giờ?

Nếu chủ tâm tìm Laura, tôi sẽ ngó vào. Nó biết điều đó. Có rất nhiều ảnh có nó trong này, dính vào trang bìa nâu bằng những hình tam giác vuông ở bốn góc; ảnh nó nhăn nhó hay nhìn dán xuống chân, trên người là váy phù dâu.

Tôi tìm thấy lời nhắn, dù không phải bằng lời. Laura đã tấn công lễ cưới của tôi tới số bằng thuốc tô tay, bằng những ống màu vẽ nhỏ nó trộm từ tòa báo Elwood Murray hồi ở Cảng Ticonderoga. Chắc nó đã tích lại giấu kỹ suốt từ ấy đến giờ. Là một đứa vẫn tuyên bố khinh thường thế giới vật chất, nó lại yếu lòng trước đồ đạc cần vứt bỏ.

Nó chỉ sửa có hai tấm ảnh. Một là tấm chụp chung mọi người sau tiệc cưới. Trong đó, các phù dâu phù rể đều bị tô kín một lớp chàm dày - bị xóa sổ khỏi bức ảnh. Tôi vẫn còn lại, và Richard, và Laura nữa, cùng Winifred, đóng vai phù dâu trưởng. Winifred bị tô một màu lục quái dị, Richard cũng thế. Tôi thì chỉ tô phớt màu xanh nước biển. Còn bản thân Laura màu vàng kim rực rỡ, không chỉ chiếc váy, mà cả khuôn mặt và đôi bàn tay. Cái vẻ chói lọi này có nghĩa là gì? Bởi nhìn quả thật chói lọi, như thể Laura đang phát sáng từ bên trong, như cái đèn thủy tinh hoặc một cô gái bằng lưu huỳnh. Nó không nhìn thẳng, mà nhìn sang ngang, như thể tiêu điểm chú ý hoàn toàn không ở trong hình.

Tấm thứ hai là tấm chân dung đôi tân nhân, chụp trước nhà thờ. Mặt Richard tô màu xám, xám đen đến nỗi các đường nét gần như mất hẳn. Hai bàn tay màu đỏ, cũng như những lưỡi lửa phụt lên xung quanh và không hiểu vì sao từ bên trong đầu, như thể chính cái sọ đang bốc cháy. Váy cưới của tôi, đôi găng, tấm mạng, bó hoa - những phụ kiện đó Laura không thèm đụng đến. Nhưng nó xử lý khuôn mặt tôi - tẩy trắng để cho mắt mũi mồm như có màn sương phủ, như cửa sổ ngày mưa lạnh lẽo. Cái nền cho đến cả những bậc thang nhà thờ dưới chân cả hai đã bị bôi đen toàn bộ, để hai hình người chúng tôi lơ lửng như giữa không trung, trong màn đêm tối đen hun hút.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.