Tay Sát Thủ Mù

Lượt đọc: 257 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGƯỜI BAN TẶNG BÁNH MÌ

❊ ❊ ❊

Cuối vườn có một cây mận dại, bên kia hàng rào. Cây đã già lụ khụ, thân vặn vẹo, cành gồ những đốt đen. Walter bảo phải hạ nó xuống, nhưng tôi nhận xét rằng chính xác mà nói, nó không thuộc quyền tôi. Dù gì tôi cũng khá ưa cái cây đó. Mùa xuân nào nó cũng ra hoa, không ai hỏi, chẳng ai chăm; đến cuối hè mận rụng đầy vào trong vườn, những quả tròn tròn nhỏ nhỏ xanh xanh vẫn còn dính lông tơ ở trên như bụi. Hào phóng quá. Tôi nhặt lứa gặp gió sáng nay - vài quả ít ỏi phần tôi sau khi sóc chồn và ong vò vẽ say mật đã chén đầy - và tọng đầy mồm, thịt quả dập chảy nước, vấy đỏ cằm như máu. Tôi không nhận ra tới lúc Myra mang suất cá ngừ hầm thường lệ ghé qua. Trời đất ơi, cô nói, tiếng cười ngặt nghẽo líu ríu như chim. Bà vừa đánh nhau với ai thế?

Tôi nhớ bữa tối lễ Lao động ấy đến từng chi tiết, vì đó là lần duy nhất trên đời tất cả chúng tôi ngồi chung một phòng.

Cuộc đánh chén vẫn đang tiếp diễn ở Bãi Trại, nhưng đã chuyển sang dạng nói chung không nên quan sát ở tầm gần, bởi món rượu rẻ tiền lén chuyền tay hiện đang vào hết công suất. Laura và tôi đã về giữa chừng, giúp Reenie chuẩn bị nấu nướng.

Việc nấu nướng đã diễn ra được vài ngày rồi. Ngay khi nghe thông báo về bữa tiệc, Reenie đã lục tìm cuốn sách nấu ăn duy nhất của chị, Sách dạy nấu ăn của trường đầu bếp Boston, tác giả Fannie Merritt Farmer. Nói cho đúng thì không phải sách của chị: nó thuộc sở hữu của bà nội Adelia, để bà tham khảo - cùng với các đời đầu bếp của bà, tất nhiên - khi lên kế hoạch những bữa tối mười hai món. Reenie đã thừa hưởng cuốn sách, dù không dùng cho ăn uống ngày thường - thường ngày mọi thứ đều viết sẵn trong đầu chị rồi, theo chị nói. Nhưng dịp này cần những món cầu kỳ.

Tôi đã đọc cuốn này, hay ít nhất có liếc qua, trong thời kỳ còn đang lãng mạn hóa bà nội. (Lúc này tôi đã chừa thói ấy rồi. Tôi biết nếu còn sống bà sẽ ngáng trở tôi, như Reenie và cha đã ngáng trở tôi, và chắc là cả mẹ nữa, nếu mẹ chưa chết. Mục tiêu cả đời của mọi người lớn là ngáng trở tôi. Họ sống không nhằm điều gì khác.)

Cuốn sách nấu ăn có một cái bìa đơn giản, màu vàng tương nghiêm nghị, và bên trong cũng là những chỉ dẫn đơn giản. Fannie Merritt Farmer có một văn phong thực tế hết cỡ - công thức khô khan theo lối New England. Bà giả định hiểu biết của người đọc là zero, và cũng bắt đầu từ zero: “Thức-uống là mọi thứ đồ dùng để uống. Nước là thức-uống do Thiên-nhiên đem lại cho con người. Mọi thức-uống đều chứa tỷ-lệ nước cao, bởi thế cần đánh-giá công-dụng của chúng là: I. Để giải-khát. II. Để cung-cấp nước cho hệ tuần-hoàn. III. Để điều-tiết nhiệt-độ cơ-thể. IV. Để hỗ-trợ bài-tiết nước. V. Để cấp dinh-dưỡng. VI. Để kích-thích hệ thần-kinh và các cơ-quan khác. VII. Dùng vào các mục-đích dược-lý,” vân vân và vân vân.

Ngon miệng và hưởng thụ không nằm trong danh sách của bà, nhưng ở đầu sách có một đề từ khá ngộ của John Ruskin:

Nấu ăn là bí-quyết của Medea và Circe và Helen và nữ-hoàng Sheba. Đó là tri-thức về mọi loại thảo-dược và hoa quả, dầu thơm và hương-liệu, về mọi điều chữa thương hay ngọt miệng trên đồng lúa rừng cây và mọi vẻ thơm ngon trong thịt. Đó là đức cẩn-trọng kết-hợp với tính sáng-tạo và sự sẵn-sàng cũng như háo-hức khi thực-hành. Đó là môn kinh-tế của bà nội bạn và cũng là môn khoa-học của nhà hóa-học hiện-đại; đó là thử-nghiệm mà không lãng-phí; đó là tính thấu-đáo Anh-cát-lợi hòa-hợp với nghệ-thuật Pháp-lang-sa hay lòng hiếu-khách Ả-rập; nói gọn lại, đó là yêu-cầu bạn phải sẵn-sàng và hoàn-hảo trong vai-trò một phu-nhân - người ban tặng bánh mì.

Tôi thấy khó hình dung nàng Helen thành Troy chụp tạp dề, tay áo xắn đến khuỷu hay má lấm chấm bột; và cứ theo những gì tôi biết về Circe hay Medea, thứ duy nhất họ quấy trong nồi là độc dược, để đầu độc con vua hay biến đàn ông thành lợn. Còn về nữ hoàng Sheba, tôi ngờ có bao giờ bà động tay dù chỉ để nướng một lát bánh mì. Tôi không biết ông Ruskin lấy đâu ra những ý tưởng lập dị kiểu này - cả về các quý phu nhân lẫn nghề nấu nướng. Tuy thế, hình ảnh đó chắc đã có sức quyến rũ ghê gớm với các phụ nữ trung lưu ở thế hệ bà tôi. Họ cần phải giữ tư thái nghiêm trang, cao vời, vương giả nữa càng tốt, cất giấu trong đầu những công thức bí truyền mà chết chóc, đủ sức khơi gợi những ham muốn cháy bỏng nhất ở đàn ông. Trên hết, phải sẵn sàng và hoàn hảo trong vai trò một phu nhân - người ban tặng bánh mì. Người phân phát của từ bi độ lượng.

Có ai trên đời thật lòng tin tưởng những thứ này không? Có bà tôi. Chỉ cần nhìn những bức chân dung bà - nhìn nụ cười con mèo đang nuốt con hoàng yến, nhìn hàng mi rợp. Bà nghĩ mình là ai - nữ hoàng Sheba chắc? Hẳn nhiên.

Khi chúng tôi từ chỗ picnic về, Reenie đang bấn lên trong bếp. Trông chị không có chút nào giống Helen thành Troy: dù đã chuẩn bị từ mấy ngày hôm nay, chị vẫn cuống quýt và cực kỳ gắt gỏng; mồ hôi lã chã, tóc xổ ra. Chị nói chúng tôi có gì thì phải chịu nấy thôi, nếu không chúng tôi còn muốn gì nữa, chị không phải ba đầu sáu tay và không thể may ví lụa bằng tai lợn. Lại còn một suất bổ sung nữa chứ, đúng giờ chót, cho cái gã Alex này, dù hắn có tự xưng là gì nữa. Chắc hẳn là Alex đại ca, cứ nhìn là biết.

“Anh ấy xưng tên,” Laura nói. “Cũng như mọi người thôi.”

“Hắn ta không cũng như mọi người,” Reenie đáp. “Cô xem dáng bộ hắn thì rõ. Hắn ta chắc hẳn là một gã da đỏ con lai nào đấy, hoặc là dân di gan. Rõ ràng là hắn không mọc từ luống rau muống nhà chúng mình.”

Laura không nói gì. Thường thì nó không biết thế nào là ăn năn hối lỗi, nhưng lần này cũng có hơi cắn rứt vì đã cao hứng mời Alex Thomas. Nhưng nó cũng không thể hủy lời mời, như nó nhận xét - như thế không chỉ là khiếm nhã mà là nghìn lần khiếm nhã. Mời là mời, dù người được mời có là ai.

Cha cũng biết vậy, dù còn xa mới hài lòng: Laura đã vượt mặt ông tiếm quyền chủ nhà, và chẳng mấy chốc nó sẽ mời hết lũ trẻ mồ côi và vô gia cư hay sa cơ lỡ vận về quanh bàn như ông là Hiền vương Wenceslas cho xem. Những đợt cao hứng nhà tu kiểu đó cần kiềm chế lại, ông nói; ông không mở bếp tế bần.

Callie Fitzsimmons tìm cách xoa dịu ông: Alex không thuộc dạng người sa cơ lỡ vận, chị ta cam đoan. Thì đúng, chàng trai này không có việc làm kể tên ra được, nhưng anh ta có vẻ có nguồn thu nhập, hoặc ít ra cũng chưa có điều tiếng nào cho thấy anh ta xỏ mũi ai. Nguồn thu nhập đó có thể là gì? cha hỏi. Callie biết chết liền: về chuyện này Alex câm như hến. Có thể là cướp nhà băng, cha nhấn giọng mỉa mai. Không hề, Callie đáp; mà chưa kể, mấy người bạn chị ta cũng biết Alex. Cha nói điều này không loại trừ điều kia. Đến lúc này ông đã chuyển sang cay độc với giới nghệ sĩ. Quá nhiều người nêu mãi vấn đề chủ nghĩa Mác và quyền công nhân và buộc tội ông bòn rút nông dân, giọt nước tràn ly rồi.

“Alex an toàn lắm. Chẳng qua là một cậu thanh niên thôi,” Callie nói. “Cậu ta chỉ nhập hội cùng cho vui ấy mà. Chỉ là chiến hữu thôi.” Chị ta không muốn cha tưởng nhầm - rằng Alex Thomas có thể nào là bạn trai chị ta, như một địch thủ.

“Em giúp gì được không?” Laura hỏi, trong bếp.

“Tôi ghét nhất,” Reenie nói, “là có thêm con sâu nữa trong nồi canh. Tôi chỉ yêu cầu cô một điều là tránh xa khỏi vướng và đừng đánh đổ thứ gì. Iris giúp được rồi. Ít ra cô ấy cũng không vụng thối vụng nát.” Reenie lúc nào cũng nghĩ được giúp chị là một đặc ân: chị vẫn còn cáu Laura, và muốn đẩy nó ra rìa. Nhưng trừng phạt Laura kiểu này chỉ vô ích. Nó lấy mũ đi nắng, ra ngoài đi vẩn vơ quanh bãi cỏ.

Một phần công việc giao cho tôi là sắp hoa cắm bàn, cả xếp chỗ ngồi nữa. Hoa thì tôi đã cắt ít cúc gỗ bên hàng rào - gần như toàn bộ những gì còn sót lại mùa đó. Còn chỗ ngồi tôi đặt Alex Thomas cạnh tôi, bên kia là Callie và Laura ở góc trong cùng. Như thế, tôi nghĩ, anh ta sẽ bị cô lập, hoặc ít ra là Laura bị.

Laura và tôi không có váy tiệc tối đàng hoàng. Nhưng váy thì chúng tôi có. Hai chiếc váy nhung xanh thẫm mọi khi, giữ từ hồi chúng tôi còn nhỏ, đã hạ gấu và khâu đè dải ruy băng đen lên che mép gấu đã sờn. Ngày trước còn có cổ ren trắng, và váy Laura giờ vẫn còn; tôi đã gỡ bỏ ren, cho hở cổ rộng hơn. Cả hai bộ đều đã chật, hoặc ít ra là váy tôi; váy Laura cũng thế, nghĩ cho kỹ. Laura đúng lệ thì chưa đủ tuổi dự một buổi tiệc tối thế này, nhưng Callie bảo bắt nó ngồi một mình trong phòng thì ác quá, nhất là khi nó đã đích thân mời một vị trong số khách. Cha đáp ông nghĩ thế cũng phải. Rồi ông nói mà dù sao, vì nó giờ đã lớn bổng như cỏ, trông nó cũng ngang cỡ tuổi tôi. Khó biết được ý ông là bao nhiêu. Ông chưa bao giờ nhớ hết những ngày sinh nhật.

Đúng giờ hẹn khách khứa họp lại trong phòng khách nhấp sherry, tiếp rượu là một người chị họ không chồng của Reenie tuyển vào riêng cho hôm nay. Laura và tôi không được phép uống sherry, hay rượu vang nói chung trong bữa tối. Laura không thấy bất bình vì bị chừa ra, nhưng tôi thì có. Reenie về hùa với cha, nhưng chị vốn đã là người bài chất men rồi. “Môi nào đụng rượu thì đừng hòng đụng môi tôi,” chị thường nói, khi dốc tuột cặn thừa trong các ly xuống bồn rửa. (Nhưng về chuyện này thì chị nhầm: chưa đầy một năm sau bữa tiệc tối nay, chị đã cưới Ron Hincks, một tửu đồ nức danh thời còn ngang dọc. Myra, nhớ điều này nếu cô đang đọc đến đây: trước khi được Reenie đẽo thành trụ cột của cả cộng đồng, ba cô là một bợm nhậu có tiếng.)

Chị họ của Reenie hơn tuổi chị, lôi thôi đến phát gớm lên được. Chị ta mặc váy đen tạp dề trắng, theo đúng phép tắc, nhưng đi tất xù nâu lùng thùng, và hai bàn tay nhìn rất mất vệ sinh. Ban ngày chị ta làm ở hiệu tạp hóa, một trong các việc là đóng khoai vào túi; thứ nhọ đó khó mà cọ sạch.

Reenie đã làm bánh khai vị có ô liu xắt lát, trứng luộc và dưa bao tử, lại thêm bánh pho mát viên nướng, không thành công như mong đợi. Tất cả bày trên một đĩa phẳng thuộc loại đẹp nhất của bà nội Adelia, đồ sứ vẽ tay nhập từ Đức, mẫu đơn đỏ thẫm giữa cành lá bằng vàng. Một miếng khăn ren lót trên đĩa, chính giữa là chén hạnh nhân muối, bánh khai vị xếp tròn xung quanh như cánh hoa, cái nào cũng tua tủa tăm. Chị họ Reenie xỉa chúng vào mặt khách rất thình lình, gần như nạt nộ, cứ như dọa cướp.

“Món này trông như nhiễm khuẩn ấy nhỉ,” cha nói bằng cái giọng mai mỉa đến lúc này tôi đã nhận ra là che giấu cơn tức giận. “Tốt hơn xin kiếu kẻo hối về sau.” Callie cười, nhưng Winifred Griffen Prior đã nhã nhặn nhón một viên pho mát lên cho vào miệng cái lối phụ nữ vẫn làm nếu không muốn hỏng môi son - môi dẩu ra trước, như cái phễu - và nói món này thật là thú vị. Chị họ Reenie đã quên khăn giấy, khiến Winifred loay hoay với những ngón tay nhờn mỡ. Tôi hiếu kỳ theo dõi xem chị ta sẽ liếm hay chùi vào áo, hay có thể là xô pha nhà tôi, nhưng lại nhìn đi chỗ khác không đúng lúc nên lỡ mất thời điểm. Trực giác mách tôi là xô pha.

Winifred không phải là vợ Richard Griffen (như tôi tưởng), mà là em gái. (Chị ta có chồng, ở góa, hay đã ly dị? Không rõ nữa. Chị ta dùng tên riêng sau chữ “bà”, như thế có phần xúc phạm tới cựu đức ông chồng, nếu quả thật ông ta là “cựu”. Ít khi nghe nhắc đến ông này và không bao giờ thấy mặt, mà cứ theo lời kể thì ông ta có rất nhiều tiền, và lúc nào cũng đang “đi xa”. Sau này, khi Winifred và tôi không còn nhìn mặt nhau nữa, tôi thường chế ra đủ loại chuyện về Prior phu quân: Winifred đã đem nhồi bông ông ta rồi cất trong hộp các tông bỏ đầy băng phiến; hoặc chị ta và tay tài xế đã bịt hầm nhốt ông ta để ăn chơi trác táng, về những trò trác táng chắc cũng không trệch nhiều, dù phải công nhận Winifred có làm gì thuộc loại đó thì chị ta cũng giữ kín đáo. Chị ta biết cách chùi mép - cũng là một đức tính, tôi nghĩ vậy.)

Tối hôm ấy Winifred mặc váy dài màu đen, kiểu đơn giản nhưng thanh lịch đến choáng người, càng nổi bật nhờ chuỗi ngọc trai quấn ba vòng quanh cổ. Đeo trên tai là hai chùm nho tí xíu, cũng ngọc trai nhưng cành lá bằng vàng. Callie Fitzsimmons, ngược lại, ăn mặc xuề xòa một cách cố ý. Mấy năm nay chị ta đã bỏ hết váy thụng màu lồng đèn và nghệ tây, bỏ những mẫu vẽ kiều dân Nga táo bạo, bỏ cả đót xì gà. Bây giờ chị ta chọn quần vải làm đồ mặc ban ngày, đi với áo len cổ chữ V, sơ mi tay dài xắn lên; chị ta cũng đã cắt tóc ngắn, và cắt tên chỉ còn có Cal.

Chị ta đã từ bỏ các tượng đài chiến sĩ trận vong; bây giờ không còn nhiều nhu cầu loại ấy nữa. Bây giờ chị ta làm phù điêu về dân thợ và dân cày, và dân chài mặc áo chống thấm nước, và dân da đỏ đánh bẫy thú, và các bà mẹ tạp dề vắt vẻo nhi đồng bên hông, tay che mắt nhìn lên mặt trời. Khách hàng duy nhất còn có tiền đặt những thứ đó là các hãng bảo hiểm và nhà băng, những kẻ hẳn nhiên muốn đắp chúng lên mặt tiền để tỏ ra mình bắt kịp thời đại. Đến là nản lòng phải làm việc cho lũ tư bản phô phang ấy, Callie nói, nhưng cái chính là thông điệp được truyền tải, và ít nhất ai đi qua các loại nhà băng ấy trên phố cũng sẽ được ngắm những phù điêu, không mất một xu. Nghệ thuật dành cho quần chúng, chị ta bảo.

Chị ta nuôi ý nghĩ có thể cha sẽ có cách giúp đỡ - giúp chị ta thêm vài đơn hàng từ các nhà băng. Nhưng cha lạnh nhạt bảo ông và giới nhà băng bây giờ không còn tay bắt mặt mừng với nhau nữa.

Dự tiệc tối nay chị ta mặc váy len màu như áo bảo hộ - taupe là tên màu đó theo như chị ta bảo chúng tôi, xuất xứ tiếng Pháp nghĩa là chuột chũi. Khoác lên người bà nào khác sẽ trông như cái bị lòng thòng đính tay áo và thắt lưng, nhưng Callie biết cách làm nó thành ra đỉnh cao, không phải của thời trang hay phong cách - cái váy đã ám chỉ những thứ đó không đáng bận tâm - mà của cái gì đó dễ bị bỏ qua nhưng bén nhọn, như là một món đồ làm bếp tầm thường - que xỏ đá chẳng hạn - ngay trước vụ giết người. Mặc vào người, cái váy là một nắm đấm giơ lên, nhưng giữa đám đông nín lặng.

Cha mặc áo đuôi tôm tiệc tối, ngấn những nếp nhăn. Richard Griffen mặc tương tự, không một nếp. Alex Thomas mặc áo khoác nâu và quần dài xám, khá bức bí trong thời tiết này; thêm cà vạt nữa, chấm đỏ trên nền lam. Sơ mi của anh màu trắng, cổ cồn quá rộng. Đồ anh mặc trông như đồ đi mượn. Rõ ràng, anh ta đâu có nghĩ sẽ được mời ăn tối.

“Căn nhà dễ thương quá,” Winifred Griffen Prior nói với nụ cười sắp sẵn, khi tất cả bước vào phòng ăn. “Nó được… được giữ gìn thật tốt. Cửa kính màu thật tuyệt - thật fin de siècle! Cứ như sống giữa viện bảo tàng!”

Ý chị ta là lạc hậu. Tôi thấy tủi hổ: tôi vẫn nghĩ các cửa sổ này rất đẹp. Nhưng tôi cũng thấy phán xét của Winifred là phán xét của thế giới bên ngoài - thế giới am hiểu những chuyện kiểu này và theo đó mà phán xử, thế giới tôi vẫn khát khao muốn chết được dự vào. Lúc này tôi thấy mình mới lạc lõng với nó làm sao. Mới quê mùa, mới thô lậu biết mấy.

“Đấy là những mẫu vật đặc biệt đẹp,” Richard nói, “của thời đại đó. Ván ốp tường cũng thuộc loại chất lượng cao.” Bất chấp thái độ quan tòa và giọng điệu hạ cố, ông ta làm tôi thấy biết ơn: lúc ấy tôi chưa hiểu ông ta chỉ đang kiểm hàng. Ông ta giỏi nhận ra đâu là một triều đại đến hồi tàn: ông ta biết chúng tôi sắp bị đem rao bán, chẳng chóng thì chầy.

“Khi nói bảo tàng, ý bà nói là bụi bặm?” Alex Thomas hỏi. “Hoặc có lẽ ý bà là lỗi thời.”

Cha cau mày. Winifred, của đáng tội, cũng biết đỏ mặt.

“Cậu không nên ăn hiếp kẻ yếu hơn,” Callie nói với giọng hài lòng cố giấu.

“Tại sao không?” Alex hỏi. “Ai cũng làm thế cả.”

Reenie đã làm tới bến khi soạn thực đơn, hoặc là tới bến nào sức nhà còn lo được vào thời điểm ấy. Nhưng chị đã vung muôi quá trán. Xúp Giả Hải Sản, Cá Rô Kiểu Provence, Gà Hầm Providence tuần tự tới, từng món một, theo nhau xuất hiện không cách gì ngăn được, như thủy triều, hoặc như ngày tận thế. Xúp có vị thiếc, gà nhai như bột, sau khi đã quá lửa rồi quắt lại cứng như đá. Cảnh tượng có phần bất nhã: từng ấy người trong cùng một căn phòng, quai hàm hoạt động thật đăm chiêu và cật lực. Cần phải gọi là nghiền, chứ không phải ăn.

Winifred Prior đang gẩy thức ăn vòng quanh đĩa như chơi đô mi nô. Tôi thấy căm giận chị ta: tôi quyết chí sẽ ăn hết mọi thứ, nhai nát cả xương. Tôi sẽ không phụ lòng Reenie. Như những ngày xưa, tôi nghĩ, chị sẽ không bao giờ lâm vào thế kẹt này - bị tóm bất ngờ, hiện nguyên hình, và cũng khiến chúng tôi lộ nguyên hình túng thiếu. Như những ngày xưa người ta sẽ gọi đầu bếp chuyên nghiệp.

Bên cạnh tôi, Alex Thomas cũng đang làm bổn phận. Anh ta cưa lấy cưa để như cả cuộc đời phụ thuộc vào đó; miếng gà kêu kin kít dưới lưỡi dao. (Cũng không phải Reenie biết ơn lòng tận tụy của anh. Chị để ý kỹ ai ăn những gì, cái đó tôi chắc. Gã Alex trời biết tên gì ấy rõ ràng là ăn như rồng cuốn mà, chị nhận xét vậy. Cứ như vừa bị bỏ đói trong hầm.)

Trong hoàn cảnh ấy, chuyện trò chỉ được chăng hay chớ. Tuy thế cũng có chút lắng lại sau đĩa pho mát - Cheddar quá non và dẻo, pho mát kem thì quá già, pho mát xanh mùi quá nồng - cho chúng tôi nghỉ miệng và đánh giá, và nhìn một vòng xung quanh.

Cha quay con mắt xanh duy nhất sang Alex Thomas. “Thế nào, chàng trai,” ông nói, bằng giọng có lẽ ông nghĩ là thân thiện, “cơn gió nào đã đưa anh đến thành phố xinh đẹp của chúng tôi?” Ông nói chuyện như một vị tộc trưởng trong một vở kịch cổ hủ thời Victoria. Tôi nhìn xuống bàn.

“Tôi đến thăm vài người bạn, thưa ngài,” Alex nói, khá lễ độ.

(Rồi chúng tôi sẽ nghe Reenie, sau đó, phán về cái lễ độ của anh. Trẻ mồ côi luôn lễ phép vì phép tắc đã được nhồi bằng gậy vào đầu chúng, trong trại trẻ. Chỉ có trẻ mồ côi mới tự tin được thế, nhưng cái vẻ vững vàng bên ngoài che giấu tính khí thù hận - bên trong, chúng cười khẩy vào tất cả mọi người. Ồ, chúng thù hận là phải, cứ xem chúng đã bị lừa đẩy đi thế nào. Phần lớn bọn vô chính phủ và bắt cóc trẻ con vốn không bố không mẹ.)

“Con gái tôi nói anh đang chuẩn bị thi vào giáo hội,” cha nói. (Cả Laura lẫn tôi đều không nói lời nào về chuyện đó - hẳn là Reenie, và cũng tự nhiên là, hoặc do ác ý mà, chị đã có chút nhầm lẫn.)

“Trước thì có, thưa ngài,” Alex nói. “Nhưng tôi đành thôi. Chúng tôi đến lúc hết tâm đầu ý hợp.”

“Thế còn bây giờ?” cha hỏi, ông đã quen những câu trả lời cụ thể.

“Bây giờ tôi sống nhờ đầu óc,” Alex nói. Anh ta mỉm cười, tỏ vẻ nhũn nhặn.

“Vậy chắc khó sống,” Richard lầm bầm và Winifred cười phá lên. Tôi khá ngạc nhiên: tôi không nghĩ ông ta biết đùa kiểu ấy.

“Chắc hẳn ý anh ta là một phóng viên,” chị ta nói. “Một gã do thám ngồi giữa chúng ta!”

Alex lại mỉm cười, không nói gì. Cha cau mày. Cứ theo ông hiểu, phóng viên là loại giòi bọ. Loại người này không chỉ dối trá, chúng còn rình mò những thống khổ của người khác - ruồi bâu xác thối là cách ông gọi chúng. Tuy ông có dành ngoại lệ cho Elwood Murray, bởi gia đình quen thân. Buôn dưa lê là từ thậm tệ nhất ông dành cho Elwood.

Sau đó câu chuyện bàn ăn chuyển sang tình hình chung - chính trị, kinh tế - theo thói thường hồi ấy. Càng lúc càng tệ, đấy là ý kiến của cha; sắp sang trang mới, là theo Richard. Khó mà biết phải nghĩ gì, Winifred nói, nhưng chị ta hy vọng người ta có thể giữ chắc dây cương.

“Giữ cương cái gì ạ?” Laura hỏi; câu đầu tiên từ đầu bữa tới giờ. Cứ như cái ghế đột ngột biết nói.

“Những rối loạn xã hội có thể đến,” cha nói, bằng cái giọng quở trách ý bảo nó không được nói gì thêm nữa.

Alex bảo anh ta không nghĩ thế. Anh ta vừa ở trại về, anh ta nói.

“Trại à?” cha nhắc lại vẻ bối rối. “Trại gì?”

“Trại cứu trợ, thưa ngài,” Alex nói. “Trại khổ sai của Bennett, mở cho dân thất nghiệp. Mười giờ một ngày, đồng lương chết đói. Các anh em ở đó không hào hứng gì - như tôi thấy thì họ đang nóng ruột.”

“Ăn mày thì không thể đòi xôi gấc,” Richard nói. “Còn hơn là bám đường tàu. Chúng nó được ba bữa một ngày, thế là nhiều hơn một người thợ nuôi một gia đình rồi, và tôi nghe nói thức ăn ở đấy không tồi. Lẽ ra chúng phải lấy đó làm biết ơn, nhưng cái giống đó chẳng bao giờ biết.”

“Họ không phải ‘giống’ gì cả,” Alex nói.

“Chúa tôi, đây có một gã cọng xa lông này,” Richard nói. Alex nhìn xuống đĩa.

“Nếu cậu ấy là cọng xa lông thì tôi cũng vậy,” Callie nói. “Nhưng tôi nghĩ không cần phải là cọng thì mới nhận ra rằng…”

“Lúc nãy em làm gì ngoài đó thế?” cha ngắt lời chị ta. (Ông và Callie dạo này cãi cọ suốt. Callie muốn ông ủng hộ phong trào công đoàn. Ông nói Callie muốn hai cộng hai bằng năm.)

Đúng lúc đó món kem bombe glacée xuất hiện. Lúc này chúng tôi đã có tủ lạnh chạy điện - mua được ngay trước khi phố Wall sụp - và Reenie, dù vẫn nghi ngờ cái ngăn chạy đá, đã khiến nó thành đắc dụng buổi tối hôm nay. Quả cầu kem hình thù như bóng bầu dục, màu xanh lá cây sáng và cứng như đá lửa, đã chiếm hết chú ý của mọi người mất một lúc.

Giữa lúc dọn cà phê thì pháo hoa bắt đầu bắn, từ phía Bãi Trại. Mọi người ra cả cầu tàu đứng xem. Cảnh nhìn từ đó khá đẹp, không chỉ thấy pháo trên trời mà cả phản chiếu trên mặt sông Jogues nữa. Những suối màu đỏ, vàng, xanh đang đổ xuống giữa trời - tinh cầu bùng nổ, cúc xõa cánh, liễu rủ tóc, tạc bằng ánh sáng.

“Người Trung Hoa phát minh ra thuốc súng,” Alex nói, “nhưng họ không bao giờ dùng chế súng. Chỉ dùng làm pháo hoa. Mặc dù cũng không thể nói là tôi thực thích pháo hoa. Quá giống trọng pháo.”

“Anh theo thuyết hòa bình à?” tôi hỏi. Kiểu người anh ta có vẻ thích hợp với loại đó. Nếu anh ta bảo ừ, tôi sẽ nói trái ý anh ta, bởi tôi muốn được chú ý. Từ nãy giờ anh ta chủ yếu nói chuyện với Laura.

“Tôi không theo,” Alex đáp. “Nhưng cha mẹ tôi đều bị giết trong chiến tranh. Ít nhất tôi nghĩ là bị giết.”

Bây giờ chúng ta đến sự tích mồ côi rồi đây, tôi nghĩ. Sau khi đã nghe Reenie om sòm lên, tôi hy vọng câu chuyện sẽ thú vị.

“Anh không biết chắc à?” Laura hỏi.

“Không,” Alex đáp. “Tôi nghe kể lúc được tìm thấy tôi đang ngồi trên một đống đổ nát bốc khói trong căn nhà cháy rụi. Mọi người trong nhà đã chết cả. Có vẻ như tôi đã nấp dưới cái chậu giặt hay cái xoong - thứ gì đó bằng kim loại.”

“Ở đâu thế? Ai tìm thấy anh?” Laura thì thầm.

“Không rõ nữa,” Alex đáp. “Họ không biết chắc. Không phải là Pháp hay Đức. Ở phía Đông - một trong mấy nước nho nhỏ đó. Chắc tôi đã được chuyển từ người này sang người khác, đến khi không biết làm sao lại rơi vào tay hội Chữ Thập Đỏ.”

“Anh còn nhớ không?” tôi hỏi.

“Không hẳn. Có vài chi tiết đã mất trên đường - tên họ tôi và các thứ khác - và rốt cuộc tôi rơi vào tay hội thừa sai, họ cho rằng quên đi là tốt nhất cho tôi, xét theo mọi chuyện. Họ thuộc hội Trưởng lão, một nhóm ngăn nắp. Chúng tôi đều được gọt trọc đầu, để phòng chấy. Tôi còn nhớ được cảm giác bỗng dưng không còn tóc - đầu mát rượi. Đấy là bắt đầu ký ức thực sự của tôi.”

Dù lúc này đã ưa anh ta nhiều hơn, tôi phải xấu hổ nhận rằng mình nghi ngờ chuyện anh ta kể không ít. Câu chuyện này quá thống thiết, quá phụ thuộc vào bàn tay số phận - cả rủi lẫn may. Tôi vẫn còn quá trẻ để tin vào sự tình cờ. Và nếu chủ ý gây ấn tượng với Laura - anh ta muốn thế phải không? - thì không còn cách nào tốt hơn nữa.

“Chắc là kinh khủng lắm,” tôi nói, “khi không biết mình thực sự là ai.”

“Trước kia tôi đã nghĩ thế,” Alex nói. “Nhưng rồi tôi hiểu ra thằng tôi thực sự là một kẻ không cần biết mình thực sự là ai, theo nghĩa thông thường. Mà suy cho cùng những điều đó có nghĩa gì - hoàn cảnh gia đình và các thứ loại đó? Con người ta chủ yếu dùng nó để biện minh cho tính kẻ cả, hoặc sự kém cỏi của mình. Tôi được giải thoát khỏi cám dỗ ấy, tất cả chỉ có thế. Tôi được cởi bỏ mọi ràng buộc. Không có gì giữ chân tôi.” Anh ta còn nói gì đó nữa, nhưng đúng lúc ấy có tiếng nổ lớn trên trời và tôi không nghe được. Laura thì có; nó gật đầu nghiêm trang.

(Lúc đó anh ta nói gì? Sau này tôi biết. Anh ta nói, ít nhất cũng không bao giờ phải nhớ nhà.)

Một đóa bồ công anh ánh sáng nổ bùng trên cao. Chúng tôi đều ngước nhìn. Thật khó mà tránh được, những lúc ấy. Thật khó mà tránh không đứng yên, miệng mở tròn kinh ngạc.

Có phải đó là khởi đầu không, đêm hôm ấy - trên cầu tàu ở Avilion, pháo hoa rực sáng bầu trời? Khó mà biết được. Các khởi đầu luôn đến đột ngột, mà cũng luôn tới âm thầm. Chúng mò đến từ bên sườn, chúng lẩn trong bóng tối, chúng ẩn nấp không để nhận ra. Rồi, đến một lúc, chúng xổ tới.

Người dịch: An Lý
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Margaret Atwood

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.