A Chuyện Hai Thành Phố

Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Một cảnh tượng

❊ ❊ ❊

"Tôi đồ rằng cậu chẳng lạ gì Toà án Old Bailey rồi nhỉ?" một người viên chức cao tuổi nhất hỏi Jerry, anh chàng người đưa thư.

"Vâng-ng, thưa ngài," Jerry trả lời với vẻ hơi bướng bỉnh. "Tôi có biết toà Old Bailey."

"Đúng thế. Và cậu cũng biết ông Lorry."

"Tôi biết ông Lorry, thưa ngài, rõ hơn nhiều so với toà Old Bailey. Rõ hơn nhiều," Jerry nói, chẳng khác nào một nhân chứng gượng gạo tại chốn pháp đình đang được nhắc tới, "so với những gì một người làm ăn chân chính như tôi muốn biết về toà Old Bailey."

"Tốt lắm. Hãy tìm lối vào dành cho nhân chứng, rồi đưa cho người gác cổng mảnh giấy này gửi cho ông Lorry. Người đó sẽ cho cậu vào."

"Vào trong phòng xử án luôn ạ, thưa ngài?"

"Vào tận trong phòng xử."

Thần trí Cruncher như chụm lại, hai con mắt nhích gần nhau hơn như thể đang thầm trao đổi: "Thấy vụ này thế nào?"

"Tôi có phải đợi trong phòng xử không, thưa ngài?" anh hỏi sau cuộc "hội đàm" nội tâm ấy.

"Tôi sắp nói đây. Người gác cổng sẽ chuyển thư cho ông Lorry, còn cậu thì hãy ra hiệu sao cho ông Lorry chú ý và biết cậu đang đứng đâu. Việc của cậu sau đó là đứng yên đấy cho đến khi ông ấy cần."

"Chỉ có thế thôi ạ, thưa ngài?"

"Chỉ có thế. Ông ấy muốn có một người đưa thư túc trực bên cạnh, và thư này là để báo rằng cậu đã đến."

Trong lúc vị viên chức già cẩn thận gấp thư và viết địa chỉ người nhận, Cruncher thong thả quan sát ông cho đến tận khâu thấm mực, rồi mới cất lời:

"Tôi đoán sáng nay họ sẽ xử mấy vụ tội làm giả giấy tờ nhỉ?"

"Tội phản quốc!"

"Thế thì bị tứ mã phân thây rồi," Jerry nói. "Dã man thật!"

"Luật pháp là thế," vị viên chức già đáp, giương cặp kính đầy ngạc nhiên nhìn anh. "Luật pháp quy định như vậy."

"Tôi thấy luật pháp thật tàn nhẫn khi hủy hoại thân thể một con người như thế. Giết người ta đã đành một lẽ, chứ cưa xẻ người ta ra thì nghiệt quá, thưa ngài."

"Chẳng nghiệt chút nào," người viên chức già cãi lại. "Cậu hãy tôn trọng luật pháp. Hãy lo giữ gìn lồng ngực và giọng nói của mình đi, anh bạn ạ, còn luật pháp thì cứ để nó tự lo. Tôi khuyên cậu chân thành đấy."

"Tại sương ẩm đấy thưa ngài, nó ngấm vào ngực và giọng của tôi," Jerry nói. "Ngài cứ thử nghĩ xem cái nghề kiếm sống ngấm đầy hơi ẩm của tôi nó vất vả thế nào."

"Được rồi, được rồi," ông lão viên chức đáp. "Mỗi người chúng ta đều có một cách riêng để mưu sinh. Người thì làm nghề ẩm ướt, kẻ lại làm việc khô ráo. Thư đây. Đi đi."

Jerry nhận lấy thư, trong lòng thầm nghĩ với sự kính trọng ít hơn nhiều so với vẻ cung kính phô ra bên ngoài: "Lão già gầy đét này cũng lắm chuyện thật." Anh cúi chào, tạt qua dặn con trai một câu về nơi mình đến rồi cất bước.

Thời ấy, người ta thường hành quyết phạm nhân ở Tyburn, nên đoạn đường bên ngoài nhà tù Newgate chưa mang tiếng xấu đồn xa như sau này. Tuy nhiên, nhà tù đó vẫn là một nơi ô uế, ổ chứa đủ mọi trò đồi truỵ, gian ác và là nơi phát tán những bệnh dịch nguy hiểm. Mầm bệnh theo chân tù nhân vào tận phòng xử, có khi từ bục khai báo xộc thẳng tới quan Chánh án, kéo tụt ông khỏi ghế xử án. Không ít lần, vị phán quan đeo băng đen vừa tuyên án xong thì cũng tự rước án tử vào mình, thậm chí còn trút hơi thở cuối cùng trước cả phạm nhân. Ngoài ra, toà Old Bailey nổi tiếng như một khu trọ chết chóc, nơi những hành khách tái dại liên tục lên xe ngựa bắt đầu chuyến hành trình thảm khốc sang thế giới bên kia. Họ phải đi qua đoạn đường dài khoảng hai dặm rưỡi trước sự chứng kiến của dân chúng, chẳng mấy ai cảm thấy xót thương. Thói quen có sức mạnh thật đáng sợ, thế nên rèn luyện thói quen tốt ngay từ đầu mới quan trọng đến vậy. Nơi đây còn lừng danh với chiếc khung bãi báng—một thiết bị trừng phạt cổ xưa mà chẳng ai lường trước được mức độ dã man của nó; với cột đánh roi—một hình phạt gia truyền khác nghe thì có vẻ nhân đạo nhưng thực chất lại rất tàn nhẫn; và cả những phi vụ tiền thưởng bắt bớ béo bở, một di sản khác của 'trí tuệ đi trước' vốn châm ngòi cho những tội ác dã man nhất vì tiền tài. Nhìn chung, Old Bailey thời đó là minh chứng điển hình cho triết lý "Mọi thứ tồn tại đều đúng đắn"—một câu khẩu hiệu tưởng chừng như chân lý nhưng lại cực kỳ lười biếng, bởi nó vô tình bào chữa rằng mọi điều từng xảy ra trong quá khứ đều chưa từng sai trái.

Lách qua đám đông hỗn tạp đang tụ tập quanh cảnh tượng ghê rợn này với sự sành sỏi của một kẻ đã quen chen chúc, người đưa thư đã tìm được cánh cửa mình cần và đút thư qua một ô nhỏ. Thời đó, muốn vào xem xử án ở Old Bailey cũng phải trả tiền chẳng khác nào vào xem kịch ở nhà thương điên Bedlam—có điều trò giải trí ở đây đắt đỏ hơn nhiều. Vì thế, mọi cánh cửa ở Old Bailey đều được canh phòng cẩn mật—ngoại trừ cánh cửa xã hội đưa các tội phạm đến đây là luôn mở rộng mà thôi.

Sau một hồi do dự và chần chừ, cánh cửa ghen tị nhích mở một khe nhỏ, đủ để Jerry Cruncher lách người chui vào trong phòng xử án.

"Đang xử vụ gì thế?" anh thì thầm hỏi người đứng ngay bên cạnh.

"Chưa xử vụ nào."

"Sắp tới vụ gì?"

"Vụ án phản quốc."

"Cái vụ bị tứ mã phân thây ấy hả?"

"Ừ!" người kia đáp lại với vẻ khoái chí. "Hắn sẽ bị kéo trên xe trượt, bị treo cổ cho suýt chết, rồi bị hạ xuống và xẻ thịt ngay trước mặt hắn. Sau đó tạng phủ sẽ bị móc ra đốt cháy ngay trước mắt hắn, rồi mới bị chặt đầu và phanh xác làm bốn phần. Án lệnh là thế đấy."

"Đấy là nếu hắn bị tuyên có tội đúng không?" Jerry chêm vào một điều kiện.

"Ôi! Kiểu gì họ chẳng kết tội hắn," người kia nói. "Anh không phải lo chuyện đó đâu."

Sự chú ý của Cruncher lúc này chuyển sang người gác cổng, anh thấy ông ta đang cầm thư tiến về phía ông Lorry. Ông Lorry ngồi tại một chiếc bàn cùng các vị luật sư đội tóc giả; cách đó không xa là luật sư bào chữa của bị cáo, cũng đội tóc giả, trước mặt chất đống hồ sơ; và gần như đối diện là một vị luật sư đội tóc giả khác đang đút tay vào túi quần, toàn bộ sự chú ý của ông ta từ đầu đến cuối có vẻ như chỉ tập trung vào trần nhà. Sau vài tiếng ho hắng hắng giọng, chà cằm và giơ tay ra hiệu, Jerry đã thu hút được sự chú ý của ông Lorry—người vừa đứng dậy nhìn quanh tìm anh. Ông Lorry khẽ gật đầu rồi ngồi xuống lại.

"Ông ấy có liên quan gì đến vụ án thế?" người đứng cạnh lên tiếng hỏi Jerry.

"Có trời mới biết," Jerry đáp.

"Thế còn anh, anh đến đây làm gì nếu tôi được phép hỏi?"

"Trời mới biết nốt," Jerry trả lời.

Sự xuất hiện của Quan tòa kéo theo một làn sóng xôn xao rồi nhanh chóng ổn định lại trong phòng xử, chấm dứt cuộc trò chuyện giữa hai người. Ngay sau đó, bục khai báo của bị cáo trở thành tâm điểm chú ý. Hai người cai ngục đứng gác ở đó bước ra, rồi bị cáo được dẫn vào và đứng trước vành móng ngựa.

Mọi người có mặt, ngoại trừ vị luật sư đội tóc giả đang mải ngắm trần nhà, đều chong mắt nhìn bị cáo. Mọi hơi thở trong phòng xử dường như cuộn dạt về phía anh như sóng biển, như cơn gió, như ngọn lửa. Rất nhiều gương mặt háo hức ráng chồm qua các cột nhà và góc khuất để nhìn cho rõ; khán giả ở các hàng ghế sau đứng cả dậy để không bỏ sót một sợi tóc nào của anh; người đứng dưới sàn toà thì đặt tay lên vai người phía trước để tranh thủ quan sát bằng mọi giá—họ kiễng chân, leo lên gờ tường, bám vào bất cứ chỗ nào có thể đứng để thu vào mắt từng chi tiết của bị cáo. Nổi bật trong số đó là Jerry, trông anh chẳng khác nào một mảnh tường cắm chông di động của nhà tù Newgate. Anh chĩa về phía bị cáo hơi thở nồng nặc mùi bia từ ngụm rượu uống vội trên đường đi, xả nó vào bầu không khí vốn đã quyện đặc mùi bia, rượu gin, trà, cà phê và đủ thứ hỗn tạp khác, tạo thành một lớp sương mù ô uế bám đầy trên những ô cửa kính lớn phía sau.

Đối tượng của mọi ánh nhìn và sự xôn xao đó là một thanh niên khoảng hai mươi lăm tuổi, vóc dáng cao ráo, tuấn tú, với nước da rám nắng và đôi mắt thẫm màu. Phong thái của anh toát lên vẻ thượng lưu. Anh ăn mặc giản dị trong bộ đồ màu đen, hoặc xám rất đậm, và mái tóc đen dài được buộc gọn bằng một dải ruy băng phía sau cổ, cốt để khỏi vướng rối hơn là để làm đẹp. Như mọi cảm xúc trong tâm hồn đều có thể bộc lộ qua lớp vỏ bọc cơ thể, sắc mặt tái nhạt do hoàn cảnh ngục tù gây ra đã hiện rõ qua làn da rám nắng của anh, chứng tỏ sức mạnh của tâm hồn còn mạnh mẽ hơn cả ánh nắng mặt trời. Ngoài ra, anh hoàn toàn giữ được sự bình tĩnh, cúi đầu chào Quan tòa rồi đứng yên lặng.

Thái độ tò mò mà đám đông dành cho người thanh niên này chẳng có gì là cao đẹp. Nếu anh phải đối mặt với một án phạt bớt ghê rợn hơn—nếu có dù chỉ một chi tiết tàn bạo trong bản án được giảm bớt—thì sức hút của anh trong mắt họ cũng sẽ giảm đi tương ứng. Thân thể sắp sửa bị băm vằn một cách tủi nhục ấy chính là cảnh tượng mà họ thèm khát; một sinh linh sắp bị tàn sát và xé xác ấy chính là nguồn kích thích cho họ. Dù người xem có tự bào chữa cho sự tò mò của mình bằng những lý do hoa mỹ đến đâu, thì bản chất sự hiếu kỳ ấy vẫn mang tính chất tàn bạo của loài quỷ dữ.

Trật tự trong phòng xử án! Ngày hôm qua, Charles Darnay đã kêu oan trước bản cáo trạng quy kết anh (bằng hàng tràng ngôn từ pháp lý rườm rà) tội phản bội lại vị quốc vương hiển hách, kính mến của chúng ta. Bản cáo trạng buộc tội anh đã nhiều lần và bằng nhiều phương cách giúp đỡ vua Louis của Pháp trong cuộc chiến chống lại triều đình; cụ thể là việc đi lại giữa lãnh thổ của quốc vương chúng ta và nước Pháp, rồi cấu kết, phao tin giả, làm phản và truyền tin mật cho phía Pháp về lực lượng quân đội mà triều đình chuẩn bị gửi sang Canada và Bắc Mỹ. Mấy từ ngữ pháp lý rối rắm này làm mái tóc phất dơ của Jerry càng như dựng đứng lên, nhưng anh vẫn hiểu được đại ý một cách đầy khoái chí: rằng kẻ có tên Charles Darnay được nhắc đi nhắc lại kia đang đứng trước mặt anh để chịu xét xử; rằng bồi thẩm đoàn đang làm lễ tuyên thệ; và rằng ngài Công tố viên trưởng đang chuẩn bị cất lời.

Bị cáo—người biết thừa rằng trong tâm trí của tất cả những kẻ có mặt ở đây, anh đã bị treo cổ, chặt đầu và phanh xác từ lâu—chẳng hề nao núng trước hoàn cảnh, cũng không tỏ ra diễn trò. Anh giữ thái độ điềm tĩnh và chú ý, theo dõi các thủ tục mở đầu bằng một sự quan tâm trầm lắng. Anh đứng, hai tay đặt lên phiến gỗ trước mặt một cách bình thản đến mức không làm lệch một chiếc lá thơm nào được rải trên đó. Toàn bộ phòng xử án đều được rải thảo mộc và xịt giấm như một biện pháp phòng ngừa không khí độc hại và bệnh dịch từ nhà tù.

Thẳng phía trên đầu bị cáo có một chiếc gương phản chiếu ánh sáng xuống người anh. Biết bao kẻ độc ác và tàn hại đã từng hiện bóng trong chiếc gương đó, rồi biến mất khỏi bề mặt của nó cũng như khỏi thế giới này. Phòng xử án gớm giếc này hẳn sẽ biến thành một nơi ám ảnh kinh hoàng nếu chiếc gương ấy có thể tái hiện lại tất cả những hình ảnh nó từng thu nhận, giống như đại dương một ngày nào đó sẽ trả lại những xác chết chìm sâu. Có lẽ một suy nghĩ thoáng qua về sự ô nhục và xấu hổ của chốn này đã chạm vào tâm trí bị cáo. Dù thế nào đi nữa, khi thay đổi tư thế, anh nhận ra một vệt ánh sáng hắt qua mặt mình. Anh ngước lên, và khi nhìn thấy chiếc gương, mặt anh ửng đỏ, tay phải gạt nhẹ những nhành thảo mộc ra xa.

Cử động vô tình đó khiến mặt anh quay sang phía bên trái của phòng xử án. Ngang tầm mắt anh, ở góc bục thẩm đoàn, có hai người đang ngồi khiến ánh nhìn của anh dừng lại ngay lập tức. Anh khựng lại đột ngột và biến đổi nét mặt đến mức mọi ánh mắt đang đổ dồn vào anh đều lập tức quay sang nhìn hai người đó.

Khán giả nhìn thấy hai nhân vật: một cô gái trẻ chỉ hơn hai mươi tuổi một chút, và một quý ông rõ ràng là cha cô. Người cha có vẻ ngoài rất đặc biệt với mái tóc bạc trắng hoàn toàn và một thần thái dữ dội khó tả trên khuôn mặt—không phải vẻ năng nổ, mà là sự đăm chiêu, trầm ngâm suy tư. Khi mang nét mặt ấy, trông ông khá già nua; nhưng khi cảm xúc bộc phát—như lúc này, trong khoảnh khắc ông quay sang nói chuyện với con gái—ông lại trở thành một người đàn ông phong độ, chưa qua tuổi sung sức.

Người con gái một tay luồn qua tay cha khi ngồi bên cạnh, tay kia áp lên tay ông. Cô xích lại gần cha vì khiếp sợ trước cảnh tượng xung quanh và vì lòng thương hại dành cho bị cáo. Đôi lông mày của cô thể hiện rõ một sự hãi hùng và lòng trắc ẩn sâu sắc, như thể cô chẳng nhìn thấy gì khác ngoài hiểm nguy của người sắp bị xét xử. Điều đó rõ ràng và tự nhiên đến mức những kẻ hiếu kỳ vốn chẳng chút thương hại bị cáo cũng phải xiêu lòng vì cô, rồi những tiếng thì thầm bắt đầu lan ra: "Họ là ai thế?"

Jerry, người đưa thư, vốn quan sát sự việc theo cách riêng của mình và đang mải mút vệt gỉ sắt trên ngón tay, liền vươn cổ ra nghe ngóng xem họ là ai. Đám đông xung quanh anh đã chuyền câu hỏi đó đến người bảo vệ gần nhất, rồi từ người đó câu trả lời lại chậm rãi truyền ngược trở lại, cuối cùng đến tai Jerry:

"Nhân chứng."

"Cho bên nào?"

"Bên chống lại."

"Chống lại ai?"

"Chống lại bị cáo."

Quan tòa, người cũng vừa liếc về hướng đó, thu ánh mắt lại, dựa lưng vào ghế và nhìn chằm chằm vào người đàn ông mà mạng sống đang nằm trong tay ông, đúng lúc ngài Công tố viên trưởng đứng dậy chuẩn bị giăng dây thòng lọng, mài rìu và đóng đinh vào đài hành quyết.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.