Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Mọi thứ thuộc về con người đều thật thảm hại. Cội nguồn bí mật của Nụ cười chưa bao giờ là niềm vui, mà chính là nỗi buồn. Ở trên thiên đàng, làm gì có chuyện hài hước.

—Lịch mới của Pudd’nhead Wilson.

Thuyền trưởng Cook tìm ra châu Úc vào năm 1770, và mười tám năm sau, chính phủ Anh bắt đầu đày tù nhân sang đây. Tính ra trong vòng 53 năm, bang New South Wales đã "đón nhận" tới 83.000 phạm nhân. Tù nhân phải mang xiềng xích nặng xích; ăn uống thì khốn khổ, lại còn bị đám quan lại cai quản đối xử vô cùng tàn nhẫn; chỉ cần vi phạm quy định nhỏ xíu thôi cũng bị phạt cực nặng. Một nhà sử học từng mô tả cuộc sống của họ là "kỷ luật dã man nhất từng được biết đến trong lịch sử".—[Chuyện châu Úc. J. S. Laurie.]

Luật pháp nước Anh thời đó quả là nhẫn tâm hết mức. Mấy tội vặt vãnh mà thời nay cùng lắm chỉ bị phạt vài đồng tiền phạt hoặc giam vài ngày, thì ngày đó từ đàn ông, phụ nữ cho đến trẻ ranh đều bị tống sang tận cùng thế giới để thụ án từ bảy đến mười bốn năm; còn tội nặng thì đi đày biệt xứ cả đời. Có những đứa trẻ bị đày sang các thuộc địa tù nhân tới bảy năm chỉ vì lỡ... ăn trộm một con thỏ!

Cách đây hai mươi ba năm, khi tôi ở London, người ta mới áp dụng một hình phạt mới để trị nạn trấn lột và đánh vợ: vụt 25 roi mây vào lưng trần bằng roi chín ngọn. Nghe đâu hình phạt kinh hoàng này có thể khiến những kẻ manh động, lỳ lợm nhất cũng phải chịu đầu hàng; và chưa từng thấy ai đủ "cứng" để nhịn đau không gào khóc quá đòn thứ chín; thường thì mới ăn vài đòn là đã gào lên khóc thét rồi. Mức phạt đó tạo ra hiệu quả vô cùng to lớn và lành mạnh đối với bọn trấn lột và lũ thích động tay động chân với vợ; thế nhưng giới London hiện đại đầy lòng nhân đạo lại không chịu nổi điều đó, họ đấu tranh đòi hủy bỏ luật này. Thế là kể từ đó, biết bao người vợ Anh quốc thân thể bầm dập, nát tươm lại có cơ hội để ngậm ngùi cay đắng cho cái thành tựu "nhân đạo" đầy ủy mị ấy.

Hai mươi lăm roi đã là gì! Ở Úc và Tasmania, tù nhân phạm tội nhỏ như con thỏ cũng ăn trọn năm mươi roi; thỉnh thoảng gặp phải tên quan tàn bạo, hắn thích thì gán thêm năm mươi roi nữa, rồi lại năm mươi roi tiếp, cứ thế quất cho đến khi nạn nhân không chịu nổi trận đòn đày tàn khốc mà bỏ mạng thì thôi. Ở Tasmania, tôi từng đọc một cuốn sổ ghi chép chính thức cũ kỹ kể về trường hợp một tù nhân bị ăn tới ba trăm roi—chỉ vì trộm mấy chiếc thìa bạc. Mà có người còn ăn đòn nhiều hơn thế nữa cơ. Thế ai là người cầm roi vụt? Thường lại chính là một tù nhân khác; đôi khi còn là cạ cứng, người bạn thân thiết nhất của chính phạm nhân; và kẻ cầm roi buộc phải giáng đòn hết bình sinh, bằng không chính hắn sẽ bị ăn đòn vì tội rủ lòng thương—bởi luôn có kẻ giám sát đứng nhìn—mà rốt cuộc cũng chẳng giúp ích gì được cho bạn mình: người bạn kia rồi sẽ được trao vào tay một gã khác tay to hơn và vẫn phải nhận đủ số đòn chẳng thiếu một roi nào.

Cuộc sống tù đày ở Tasmania bế tắc đến mức việc tự sát cũng trở nên khó khăn. Thế nên đã có một hai lần, mấy kẻ tuyệt vọng đành gom lại rút thăm xem ai sẽ là người ra tay giết một gã trong nhóm—cú giết người này là để cả kẻ ra tay lẫn những người làm chứng đều được chính phủ ban cho một cái chết êm ái trên đài pháp trường!

Mấy câu chuyện dẫn chứng ở trên thực ra chỉ là chút gợi mở nhẹ nhàng, chút hé lộ bé tẹo về bức tranh thực sự của cuộc sống tù đày—chúng chỉ như vài giọt nước bắn lên từ cả một đại dương mênh mông những nỗi gian khổ; hay nói cách khác, chúng chỉ là hai ngọn tháp đang bốc cháy được chụp từ một góc khuất, hoàn toàn che mất cả một thành phố ngập trong biển lửa đang trải dài vô tận ngay dưới chân tháp.

Một số tù nhân—thực ra là khá nhiều người trong số họ—quả thực là những thành phần cực kỳ bất hảo, kể cả so với tiêu chuẩn thời bấy giờ; nhưng đa phần còn lại có lẽ cũng chẳng xấu xa hơn mặt bằng chung của những người đồng hương mà họ bỏ lại quê nhà là mấy. Chúng ta buộc phải tin vào điều này, chẳng thể nào khác được. Bởi lẽ ta làm sao cưỡng lại được kết luận rằng: một quốc gia có thể dửng dưng đứng nhìn những người phụ nữ đói meo hay rét run bị treo cổ chỉ vì trộm dải thịt muối hay mớ giẻ rách trị giá vỏn vẹn hai mươi sáu xu, rồi giật đứt những đứa trẻ khỏi tay mẹ, xé rách các gia đình để tống người ta sang bên kia thế giới suốt nhiều năm trời chỉ vì những lỗi phạm vặt vãnh tương tự—thì quốc gia đó khó mà được coi là "văn minh" theo đúng nghĩa của từ này. Và ta cũng phải thừa nhận rằng, một dân tộc đã biết rõ những gì xảy ra với các tù nhân biệt xứ đó suốt hơn bốn mươi năm trời mà vẫn thản nhiên chấp nhận, thì rõ ràng là chẳng có chút tiến bộ đáng kể nào trên con đường hướng tới một nền văn minh cao đẹp hơn.

Nếu ta ngó qua nhân cách và hành vi của đám quan lại cùng giới quý tộc—những kẻ cai quản tù nhân, nắm trong tay cả lưng lẫn dạ dày của họ—ta lại một lần nữa phải công nhận rằng: giữa tù nhân và kẻ cai trị họ, cũng như giữa cả hai nhóm đó với chính quốc gia ở quê nhà, có một sự giống nhau đến phát chán.

Bốn năm trôi qua, tù nhân kéo đến ngày một đông. Những người dân định cư đàng hoàng cũng bắt đầu đặt chân tới. Hai tầng lớp khai hoang này cần được bảo vệ, phòng trường hợp xảy ra xung đột nội bộ hoặc đụng độ với người bản địa. Nói đến người bản địa thì cũng nên nhắc qua cho có, chứ thực ra họ thưa thớt tới mức chẳng đáng kể vào đâu. Vào cái thời mà họ chưa bị quấy nhiễu nhiều—vì chưa ngáng đường ai—người ta ước tính ở New South Wales, cứ trung bình 45.000 mẫu Anh diện tích đất mới có vỏn vẹn một người bản địa.

Dân chúng thì cần được bảo vệ. Nhưng đám sĩ quan quân đội chính quy thì đời nào chịu nhận cái nhiệm vụ này—ở cái chốn khỉ ho cò gáy đó thì làm gì có danh vọng hay chiến công nào mà hái lượm. Vì thế, nước Anh bèn chiêu mộ và bổ nhiệm sĩ quan cho một lực lượng kiểu dân quân gồm 1.000 thường dân mặc quân phục, gọi tên là "Quân đoàn New South Wales" rồi tống tất cả lên tàu đưa sang.

Đây mới đúng là đòn chí mạng nhất. Cả vùng thuộc địa dường như chao đảo dưới gót chân của lực lượng này. Quân đoàn đó chính là một bài học thực tế nhãn tiền về tình trạng đạo đức của nước Anh bên ngoài cánh cổng nhà tù. Dân định cư run rẩy sợ hãi. Người ta chỉ lo bước tiếp theo chính phủ lại nhập khẩu nốt cả giới quý tộc sang đây thì xong phim.

Trong những ngày đầu ấy, vùng thuộc địa hoàn toàn không thể tự túc. Mọi nhu yếu phẩm—từ thức ăn, quần áo cho đến mọi thứ khác—đều phải chở từ Anh sang, tích trữ trong các kho lương lớn của chính phủ, rồi phân phát cho tù nhân và bán lại cho dân định cư với mức giá chỉ nhích hơn giá gốc một tẹo. Quân đoàn nọ lập tức đánh hơi thấy cơ hội làm ăn. Đám sĩ quan nhảy vào con đường thương trường một cách vô cùng trắng trợn và bất chấp luật pháp. Chúng ngang nhiên nhập khẩu rượu rum, lại còn tự mở lò nấu rượu chui, mặc kệ mọi mệnh lệnh và lời cảnh báo từ chính phủ. Chúng bắt tay với nhau thao túng toàn bộ thị trường; tẩy chay chính phủ và các thương lái khác; dựng nên một bộ máy độc quyền khép kín và giữ chặt trong tay mình. Mỗi khi có tàu chở rượu cập bến, chúng cấm không cho ai khác được mua ngoại trừ chính chúng, rồi ép chủ tàu phải bán lại với cái giá do chúng tự định ra—và dĩ nhiên là rẻ mạt hết mức có thể. Chúng mua rượu rum với giá trung bình hai đô la một gallon rồi bán lại với giá trung bình mười đô la. Chúng biến rượu rum thành đơn vị tiền tệ của cả vùng—vì làm gì có tiền mặt—và giữ vững quyền lực tàn phá đó, đè đầu cưỡi cổ cả vùng thuộc địa suốt mười tám đến hai mươi năm trời trước khi bị chính phủ đánh bại và quét sạch hoàn toàn.

Trong thời gian đó, chúng đã gieo rắc tệ nạn nghiện ngập khắp mọi nơi. Chúng lột sạch hết trang trại này đến trang trại khác khỏi tay người dân định cư chỉ để đổi lấy mấy lít rượu rum, và nhờ đó mà làm giàu khốn nạn trên xương máu người khác. Cứ hễ thấy bác nông dân nào lên cơn thèm rượu vắt óc không chịu nổi, chúng liền nhảy vào ép giá, lột đến cái quần đản cuối cùng chỉ để đổi lấy một cốc rượu. Có trường hợp, chúng bán cho một người đàn ông một gallon rượu rum trị giá hai đô la để đổi lấy một mảnh đất, mà nhiều năm sau mảnh đất đó được bán lại với giá 100.000 đô la. Đến khi thuộc địa được khoảng mười tám hay hai mươi tuổi, người ta mới phát hiện ra thổ dưỡng nơi đây đặc biệt hợp để nuôi cừu lấy lông. Thịnh vượng kéo đến, thương mại với thế giới mở ra, rồi dần dần các mỏ kim loại quý giàu có được khai quật, dòng người nhập cư đổ về nườm nượp, dòng vốn cũng theo đó chảy vào. Kết quả chính là một tiểu bang New South Wales giàu có, vĩ đại và văn minh như ngày nay.

Đó là một đất nước trù phú với các mỏ khoáng sản, những trang trại cừu bạt ngàn, xe điện, đường sắt, các hãng tàu thủy, trường học, báo chí, vườn bách thảo, bảo tàng nghệ thuật, thư viện, viện bảo tàng, bệnh viện và các hội nhóm tri thức; đó là ngôi nhà hiếu khách của mọi hình thái văn hóa và mọi loại hình kinh doanh; nơi mà cứ bước ra khỏi cửa nhà là thấy một nhà thờ, và ngay bên kia đường lại là một trường đua ngựa sôi động.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.