Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

❊ ❊ ❊

Ta có thể giành được sự công nhận của người đời nếu làm điều đúng đắn và nỗ lực hết mình; nhưng sự tự công nhận của bản thân còn giá trị gấp trăm lần thế, tiếc là chưa ai tìm ra cách nào để đạt được nó cả.

—Lịch mới của Pudd’nhead Wilson.

Sức khỏe của tôi bắt đầu đổ gục ở New York vào tháng Năm; sau đó nó cứ dặt dẹo chập chờn suốt 82 ngày tiếp theo, rồi lại sụp đổ lần nữa khi lênh đênh trên Thái Bình Dương. Đến Sydney, nó lại dở chứng, nhưng may là lúc đó tôi đã kịp đi chơi một chuyến ra trò và hoàn thành các buổi diễn thuyết. Nhưng đợt đổ bệnh mới nhất này khiến tôi mất cơ hội ghé thăm Queensland. Trong tình cảnh ấy, đi về phía bắc nơi thời tiết nóng bức hơn rõ ràng là nước đi không khôn ngoan.

Thế là chúng tôi chuyển hướng đi về phía nam kết hợp lệch sang tây, mất 17 tiếng đi tàu hỏa để đến Melbourne — thủ phủ của thuộc địa Victoria, một thành phố "trẻ ranh" mới 60 tuổi đời với nửa triệu dân. Trên bản đồ, khoảng cách nhìn bé tẹo; nhưng đó là cái bẫy kinh điển khi nhìn bản đồ của một đất nước bao la như Australia. Ngay cả bản thân thuộc địa Victoria trông cũng nhỏ thó trên bản đồ — nhìn chẳng khác gì một hạt (county) bé tẹo — ấy thế mà diện tích của nó lại bằng cả Anh, Scotland và Wales cộng lại. Hoặc nếu muốn so sánh kiểu khác cho dễ hình dung: nó rộng gấp 80 lần bang Rhode Island và bằng một phần ba bang Texas.

Ngoại trừ Melbourne ra, phần còn lại của Victoria hình như thuộc sở hữu của một nắm mấy ông trang trại tư nhân (squatter), mỗi ông ôm trọn một diện tích to ngang cái bang Rhode Island chỉ để nuôi cừu. Đó là ấn tượng mà người ta rút ra từ các cuộc tán phét thông thường, dù trên thực tế ngành công nghiệp lông cừu của Victoria chưa nhằm nhò gì so với New South Wales. Khí hậu Victoria lại cực kỳ thuận lợi cho các ngành công nghiệp lớn khác — chẳng hạn như trồng lúa mì và sản xuất rượu vang.

Chúng tôi lên tàu tại Sydney vào khoảng bốn giờ chiều. Chuyến tàu này mang đậm phong cách Mỹ ở một điểm: toa giường nằm cực kỳ hợp lý; đã thế toa xe lại sạch sẽ, xịn xò và mới tinh — chẳng có nét nào giống mấy toa tàu cũ kỹ ở lục địa Châu Âu. Tuy nhiên, hành lý của chúng tôi vẫn bị đem cân và thu thêm tiền quá cước. Cái khoản này thì đúng chuẩn Châu Âu rồi. Vừa mang phong cách Châu Âu lại vừa phiền phức. Bất kỳ chi tiết nào của ngành đường sắt mà không gây phiền hà thì không xứng đáng được dán nhãn "phong cách Châu Âu".

Vé của chúng tôi là vé khứ hồi — từ Sydney đến Melbourne, chạy thẳng tới Adelaide ở Nam Australia, rồi mới quay ngược toàn bộ quãng đường về lại Sydney. Dài hơn hẳn một nghìn hai trăm dặm so với dự định ban đầu của chúng tôi; nhưng vì vé khứ hồi chẳng đắt hơn vé một chiều là bao, nên tội gì mà không mua càng nhiều dặm càng tốt, dù biết thừa mình chẳng dùng hết. Bản chất con người mà, ai chẳng thèm muốn có nhiều đồ tốt hơn mức mình thực sự cần.

Và bây giờ là điều kỳ lạ nhất: chuyện oái ăm nhất, quái đản nhất, một kỳ quan đánh đố và khó hiểu nhất mà vùng Australasia có thể phô ra. Ngay tại biên giới giữa New South Wales và Victoria, toàn bộ đoàn hành khách đông đúc chúng tôi bị dựng dậy khỏi những chiếc giường êm ấm vào lúc mờ sáng dưới ánh đèn măng-xông, trong cái rét cắt da cắt thịt của vùng núi cao, chỉ để... đổi sang một đoàn tàu khác trên một tuyến đường ray liền mạch không hề đứt đoạn từ Sydney đến Melbourne! Hãy thử tưởng tượng sự "tê liệt trí tuệ" nào đã sinh ra cái sáng kiến đó; hãy hình dung ra cái tảng đá thay cho bộ não nằm trên vai của vị đại biểu Quốc hội hóa đá nào đó đã nghĩ ra trò này.

Tuyến đường sắt đến biên giới là khổ hẹp, còn từ đó về Melbourne lại là khổ rộng. Chính quyền hai bang chính là bên xây dựng và sở hữu hai đoạn đường này. Người ta đưa ra một vài lý do để giải thích cho sự đời oái ăm này. Lý do thứ nhất: nó thể hiện sự đố kỵ ghen tức lẫn nhau giữa hai thuộc địa lớn nhất và quan trọng nhất Australasia. Còn lý do thứ hai là gì thì tôi quên mất rồi. Nhưng mà chẳng quan trọng. Dù là lý do gì thì cũng chỉ là một nỗ lực tuyệt vọng nhằm giải thích cho một điều không thể nào giải thích nổi.

Tất cả hành khách đều phát tiết vì cái trò hai khổ đường ray này; chủ hàng hóa đương nhiên cũng tức điên lên; chi phí vô lý, sự chậm trễ và phiền hà đè nặng lên đầu tất cả những ai liên quan, trong khi chẳng một ai được hưởng lợi.

Mỗi thuộc địa ở Australia tự rào chắn mình với hàng xóm bằng một trạm hải quan. Cá nhân tôi thì chẳng phản đối gì, nhưng chắc chắn nó gây ra vô số phiền ngoái cho dân chúng. Ở Mỹ chúng tôi cũng có vài nơi na ná thế này, chỉ là gọi bằng cái tên khác thôi. Đế chế rộng lớn ở bờ biển Thái Bình Dương cần một lượng máy móc bằng sắt khổng lồ, và hoàn toàn có thể sản xuất giá rẻ ngay tại chỗ nếu thuế nhập khẩu sắt nước ngoài được dỡ bỏ. Nhưng đời nào họ dỡ! Chính sách bảo hộ cho Pennsylvania và Alabama không đời nào cho phép điều đó. Kết quả đối với bờ biển Thái Bình Dương cũng chẳng khác gì việc có mấy hàng rào hải quan dựng lên giữa bờ biển này với miền Đông. Sắt được chở xuyên qua lục địa Mỹ với cước phí đường sắt đắt đỏ đến mức khi chở tới nơi, giá trị của nó chắc đủ để đúc thành tiền xu luôn rồi.

Chúng tôi đổi tàu. Đó là tại Albury. Và chính tại đây, tôi nhớ là khi bình minh hé rạng và mặt trời mọc lên đã làm lộ ra dãy núi xa xa có tên là Dãy Núi Xanh (Blue Mountains). Đặt tên chuẩn không cần chỉnh! "Thề luôn!" như cách người Australia hay nói, cái màu xanh đó đẹp đến nghê người. Xanh thẫm, mạnh mẽ, phong phú và tinh tế; những khối màu xanh sừng sững và uy nghi — một màu xanh tỏa sáng dịu dàng, một màu xanh âm ỉ như thể được thắp sáng từ những ngọn lửa ẩn sâu bên trong. Nó làm lu mờ cả màu xanh của bầu trời — khiến bầu trời trở nên nhợt nhạt, ốm yếu, trắng bệch và bạc màu. Một sắc xanh kỳ diệu — đúng là tuyệt tác của tạo hóa.

Một người dân địa phương bảo tôi đó không phải là núi; ông ta quả quyết đó là những "đống thỏ". Ông ấy giải thích rằng do phơi nắng lâu ngày và thỏ phân hủy quá ươn nên trông chúng mới có màu xanh như thế. Người này có thể đúng, nhưng việc đọc quá nhiều sách du lịch đã khiến tôi cảnh giác với những thông tin "miễn phí" do cư dân không chính thống cung cấp. Những "sự thật" mà mấy người này phán cho du khách thường sai bét nhè, mà lại sai một cách thái quá. Nạn thỏ ở Australia đúng là khủng kíp thật, và nó có thể chất thành một ngọn núi, chứ làm sao chất thành cả một dãy núi mênh mông thế được. Nghe vô lý đùng đùng.

Chúng tôi ăn sáng tại ga tàu. Một bữa sáng ngon lành, trừ món cà phê ra; và giá lại rẻ. Chính quyền quy định giá và niêm yết công khai. Phục vụ bàn là nam giới, tôi nghĩ vậy; nhưng điều đó không phổ biến ở Australasia. Thường thì sẽ là các cô gái. Không, không phải các cô gái, mà là các quý cô — thường ăn mặc sang chảnh như nữ tước. Trang phục ư? Họ mà xuất hiện ở mấy buổi dạ tiệc hoàng gia Châu Âu thì ai cũng phải ngoái nhìn. Ngay cả hoàng hậu hay nữ hoàng cũng chẳng ăn mặc diện đến thế. Không phải họ không đủ tiền mua, mà là họ không biết cách diện thôi.

Suốt buổi sáng dễ chịu, tàu chúng tôi lướt êm ru qua những đồng bằng, băng qua những cánh rừng thưa — không quá dày — của những cây bạch đàn khổng lồ ủ rũ, với lớp vỏ xoăn tít đang bong tróc từng mảng trên thân cây — trông chẳng khác nào những bệnh nhân viêm da đang trong thời kỳ hồi phục đang thay lớp da chết. Dọc theo đường đi là những túp lều nhỏ xíu, cái làm bằng gỗ, cái làm bằng tôn sóng màu xanh xám; trên bậc cửa và hàng rào lúc nhúc trẻ con — những đứa trẻ nhóc tằn tiện, ăn mặc đơn sơ trông như thể vừa được "nhập khẩu" nguyên kiện từ hai bên bờ sông Mississippi sang vậy.

Rồi lại đến những ngôi làng nhỏ, với các nhà ga tươm tấp dán đầy những bảng quảng cáo sặc sỡ — chủ yếu là mấy thương hiệu "thuốc tắm cừu" tự thần thánh hóa mình. Nếu tôi nhớ không nhầm thì nó tên là thế. Đó là một thứ dung dịch đen thui như nhựa đường, được bôi vào những chỗ gã thợ hớt tóc lỡ tay xẻo mất một miếng thịt của con cừu. Thứ này giúp đuổi ruồi, sát trùng làm lành vết thương, và có vị cay xè khiến con cừu nhảy dựng lên như đàn bò trên ngàn đồi. Món này không ăn được. Ý tôi là, nó không ăn trực tiếp được ngoại trừ việc pha vào cà phê đường sắt. Nó giúp nâng tầm món cà phê đường sắt lên một tầm cao mới. Không có nó, cà phê đường sắt nhạt nhẽo vô cùng. Nhưng có nó vào một cái là cà phê hăng hái và đậm đà hẳn lên. Bản thân cà phê đường sắt thì quá thụ động; nhưng thuốc tắm cừu sẽ làm nó tỉnh giấc và "chơi tới bến". Tôi thực sự thắc mắc không biết họ lấy đâu ra cái thứ cà phê đường sắt đó nữa?

Chúng tôi thấy chim chóc, nhưng tuyệt nhiên không thấy một con chuột túi kangaroo nào, không thấy chim đà mã emu, không thấy thú mỏ vịt, không thấy ông diễn thuyết nào, và cũng chẳng thấy người bản địa nào. Đất nước này dường như hoàn toàn sạch bóng muông thú. À mà tôi dùng sai từ "người bản địa" rồi. Ở Australia, từ đó chỉ dùng để chỉ người da trắng sinh ra tại Australia thôi. Đáng lẽ tôi phải nói là chúng tôi không thấy người Thổ dân — tức mấy "anh da đen". Và cho đến tận hôm nay tôi vẫn chưa được gặp một ai. Trong các bảo tàng lớn bạn sẽ tìm thấy đủ loại hiện vật kỳ lạ, nhưng riêng điểm thu hút sự tò mò nhất đối với du khách nước ngoài thì lại chẳng thấy đâu. Ở quê nhà Mỹ của chúng tôi cũng đầy ắp bảo tàng, nhưng lại chẳng có nổi một người thổ dân da đỏ American Indian nào trong đó. Rõ ràng là một sự vô lý đùng đùng, thế mà trước đây tôi chưa bao giờ nhận ra đấy.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.