Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Người Anh đã được nhắc đến trong Kinh Thánh: Phước cho những kẻ khiêm nhường, vì sẽ hưởng được đất.

—Lịch mới của Pudd’nhead Wilson.

Khi nhìn vào quy mô khổng lồ của Đế quốc Anh từ lãnh thổ, dân số cho đến thương mại, ta phải nỗ lực lắm mới dám tin vào những con số thể hiện đóng góp của Australasia vào sự hùng mạnh về kinh tế của đế chế này. Nếu so với diện tích đất đai của Anh, lãnh thổ của bất kỳ cường quốc nào khác—trừ Nga—đều chẳng thấm vào đâu. Theo các nguồn tài liệu uy tín của tôi, Đế quốc Anh lớn hơn Đế quốc Nga tới gần một phần tư. Để dễ hình dung, nếu bạn coi toàn bộ bàn tay mình là Đế quốc Anh, rồi chặt bớt các ngón tay ở vị trí nhỉnh hơn khớp giữa của ngón giữa một chút, thì phần bàn tay còn lại chính là diện tích nước Nga. Dân số dưới sự cai trị của Đại Anh và Trung Quốc gần như tương đương—khoảng 400 triệu người mỗi bên. Không một cường quốc nào khác chạm tới được con số này, ngay cả Nga cũng bị bỏ lại đằng sau một khoảng rất xa.

Dân số 4 triệu người của Australasia hoàn toàn chìm nghỉm và biến mất không dấu vết trong cái đại dương 400 triệu dân ấy của Anh. Ấy thế mà các số liệu thống kê lại cho thấy, cứ hễ nhắc đến phần đóng góp vào thương mại của đế quốc là con số 4 triệu này lại nổi lên vô cùng ngoạn mục. Tổng trị giá xuất nhập khẩu hằng năm của Anh được ghi nhận là ba tỷ đô la—[Theo Niên giám New South Wales]—và người ta khẳng định rằng hơn một phần mười của con số khổng lồ đó đến từ các khoản xuất nhập khẩu giữa Australasia và nước Anh. Chưa kể, Australasia còn buôn bán với các quốc gia ngoài Anh với tổng kim ngạch đạt một trăm triệu đô la một năm, cùng khoản thương mại nội địa giữa các bang lên tới một trăm năm mươi triệu đô la.

Tính tròn, 4 triệu con người này mua bán lượng hàng hóa trị giá khoảng 600 triệu đô la mỗi năm, và khoảng một nửa trong số đó được cho là hàng hóa do chính Australasia sản xuất. Để so sánh, tổng sản lượng xuất khẩu hằng năm của Ấn Độ chỉ nhỉnh hơn 500 triệu đô la một chút. Và đây là những con số sẽ làm bạn phải bật ngửa:

Sản lượng của Ấn Độ (dân số 300 triệu):

500.000.000 đô la.

Sản lượng của Australasia (dân số 4 triệu):

300.000.000 đô la.

Tức là, mỗi người dân Ấn Độ sản xuất ra lượng hàng hóa (để xuất khẩu đi đâu đó) trị giá 1,75 đô la mỗi năm; trong khi mỗi người dân Australasia lại làm ra tới 75 đô la! Hoặc nói cách khác, một gia đình Ấn Độ gồm hai vợ chồng và ba đứa con gửi đi lượng hàng hóa trị giá 8,75 đô la một năm, còn một gia đình Australasia tương tự lại gửi đi tới 375 đô la.

Theo số liệu thống kê đáng tin cậy từ Ngài Richard Temple và các chuyên gia khác, tổng sản lượng hằng năm của một người dân Ấn Độ—tính cả xuất khẩu lẫn tiêu dùng trong nước—chỉ vỏn vẹn 7,5 đô la quy ra vàng; tức là 37,5 đô la cho cả gia đình. Nếu nhân lên theo tỷ lệ tương tự, tổng sản lượng của một gia đình Australasia sẽ đạt gần 1.600 đô la. Quả thực, chẳng có gì khiến người ta kinh ngạc bằng những con số, một khi chúng bắt đầu nhảy múa.

Chúng tôi rời Melbourne bằng tàu hỏa để đến Adelaide, thủ phủ của tỉnh Bang Nam Úc rộng lớn—một chuyến đi kéo dài 17 tiếng. Trên tàu, chúng tôi gặp lại vài người bạn từ Sydney; trong đó có một Thẩm phán đang trên đường đi lưu động để mở tòa ở Broken Hill, nơi có mỏ bạc nổi tiếng. Chọn tuyến đường này để đến đó nghe chừng thật kỳ lạ. Broken Hill nằm sát biên giới phía tây của New South Wales, còn Sydney thì nằm ở tận biên giới phía đông. Một đường thẳng dài khoảng 700 dặm kéo từ Sydney về phía tây sẽ chạm ngay Broken Hill, giống như một đường ngắn hơn kéo từ Boston về phía tây sẽ đụng Buffalo vậy. Thế nhưng tuyến đường ngài Thẩm phán đang đi lại bắt ông phải di chuyển hơn 2.000 dặm bằng tàu hỏa: đi xuôi về phía tây nam từ Sydney xuống Melbourne, rồi ngược lên phía bắc đến Adelaide, sau đó ngoặt lại theo hướng đông bắc, vượt qua biên giới để vào lại New South Wales—rồi mới tới Broken Hill. Hành trình này chẳng khác nào đi từ Boston về phía tây nam đến Richmond, bang Virginia, rồi ngược lên phía tây bắc tới Erie, bang Pennsylvania, rồi lại ngoặt về phía đông bắc vượt biên giới—chỉ để đến Buffalo, New York.

Nhưng lý do lại rất đơn giản. Nhiều năm trước, mỏ bạc siêu giàu ở Broken Hill bất ngờ được phát hiện khiến cả thế giới ngỡ ngàng. Cổ phiếu của nó từ vài shilling ban đầu đã tăng vọt theo kiểu phi mã lên những con số điên rồ. Đó là một trong những trường hợp mà chị bếp đem tiền lương một tháng đi mua cổ phiếu, để rồi tháng sau đến mua lại luôn căn nhà của bạn với đúng giá bạn yêu cầu rồi thong thả chuyển vào ở; nơi anh tài xế mua vài cổ phần rồi tháng sau mở luôn ngân hàng; và một anh thủy thủ quèn đem toàn bộ tiền ăn ăn chơi nhậu trát đi đầu tư, để rồi tháng sau mua lại cả công ty tàu biển và tự đứng ra làm chủ. Nói ngắn gọn, đó là một cơn sốt kéo hàng đống người ùn ùn kéo về một điểm, và nhu cầu của họ phải được đáp ứng ngay lập tức. Adelaide thì ở ngay gần, còn Sydney lại quá xa xôi. Adelaide đã kịp trải một tuyến đường sắt ngắn qua biên giới trước khi Sydney kịp thu xếp làm một tuyến đường dài; và thế là Sydney chẳng buồn làm nữa. Toàn bộ lợi nhuận thương mại khổng lồ của Broken Hill nghiễm nhiên rơi trọn vào tay Adelaide. Luật pháp New South Wales quản lý Broken Hill và cử Thẩm phán đi 2.000 dặm—chủ yếu băng qua các vùng đất "ngoại bang"—để thực thi pháp luật, nhưng Adelaide mới là bên bỏ túi tiền cổ tức mà chẳng tốn một lời than thở.

Chúng tôi xuất phát lúc 4 giờ 20 chiều và di chuyển qua những đồng bằng bằng phẳng cho đến khi đêm xuống. Đến sáng, tàu chạy qua một dải đất "bụi rậm"—loại địa hình vô cùng hữu dụng đối với các nhà văn tiểu thuyết Úc. Trong vùng bụi rậm này, những người thổ dân hung tợn ẩn nấp và thoắt ẩn thoắt hiện, thỉnh thoảng lại mò ra tập kích và sát hại người định cư, rồi lại rút lui mà không để lại bất kỳ dấu vết nào để người da trắng có thể lần theo. Đỉnh điểm là tiểu thuyết gia sẽ cho cô nữ chính đi lạc trong vùng bụi rậm này, mọi nỗ lực tìm kiếm đều tuyệt vọng; cô gái đi lang thang khắp nơi rồi cuối cùng gục ngã vì kiệt sức và ngất đi. Đoàn người tìm kiếm đi qua chỉ cách cô một hai thước mà không hề hay biết, để rồi mãi về sau, một kẻ lãng du nào đó mới tình cờ tìm thấy bộ hài cốt cùng cuốn nhật ký cảm động được cô ghi lại bằng đôi tay yếu ớt trước khi trút hơi thở cuối cùng. Không ai có thể tìm thấy cô nữ chính đi lạc trong vùng bụi rậm ngoại trừ một "thợ săn dấu vết" thổ dân, nhưng anh ta sẽ nhất quyết không ra tay nếu việc đó làm hỏng cốt truyện của nhà văn. Vùng bụi rậm trải dài muôn trùng xa về mọi hướng, trông như một mái nhà bằng phẳng kết bằng những ngọn cây bụi, không một kẽ hở—nhìn qua thì mịn màng và liền mạch như một chiếc chăn. Tôi nghĩ đi vào đây thì khác nào đi dưới nước mà đòi đoán đường rồi giữ đúng hướng. Ấy thế mà người ta vẫn quả quyết rằng các "thợ săn dấu vết" thổ dân có thể lùng ra những người mất tích trong vùng bụi rậm này. Họ còn làm được điều đó ở cả "vùng bụi cây", vùng sa mạc, thậm chí lần theo dấu vết qua những dải đá trọc hay những vùng đất bồi tưởng chừng như đã bị nước rửa sạch mọi vết chân.

Từ việc đọc sách báo Úc và trò chuyện với người dân địa phương, tôi hoàn toàn bị thuyết phục rằng tay nghề của các thợ săn dấu vết thổ dân thể hiện một sự tinh tường, khả năng thấu suốt, sự nhạy bén kỳ diệu cùng mức độ quan sát tỉ mỉ, chính xác trong công việc điều tra mà hiếm có dân tộc nào khác, dù là da trắng hay da màu, có thể sánh bằng. Trong một báo cáo chính thức về người da đen ở Úc do chính quyền bang Victoria xuất bản, người ta đọc được rằng người thổ dân không chỉ nhận ra những vết mài mờ nhạt do móng nanh của con sóc túi để lại trên vỏ cây khi leo trèo, mà bằng cách nào đó còn biết rõ vết mào đó được tạo ra từ hôm nay hay từ ngày hôm qua.

Và còn có một vụ việc thực tế được ghi chép lại: người định cư A đánh cược với người B rằng B cứ việc giấu một con bò sao cho thật kỹ, còn A sẽ dắt đến một người thổ dân có thể tìm ra nó. B chọn một con bò, cho người thợ săn xem qua vết chân của nó rồi nhốt anh ta lại dưới sự giám sát. Sau đó B dắt con bò đi vài dặm theo một tuyến đường ngoằn ngoèo đủ hướng, liên tục quay đầu lại; ông ta cố tình chọn những địa hình khó đi nhất, thậm chí một hai lần còn lùa con bò xuyên qua những đàn bò khác để dấu chân của nó lẫn lộn vào đám lộn xộn đó. Cuối cùng, B dắt bò về nhà; người thổ dân được thả ra và lập tức đi thành một vòng tròn lớn, kiểm tra tất cả các dấu chân bò cho đến khi tìm thấy đúng dấu chân cần tìm. Sau đó, anh ta lên đường, lần theo từng bước đi lắt léo của con bò và cuối cùng dẫn thẳng đến chuồng bò nơi B đang giấu nó. Vậy dấu chân của con bò này khác dấu chân con bò khác ở điểm nào? Chắc chắn phải có sự khác biệt, nếu không người thợ săn đã chẳng thể làm nên kỳ tích đó; một sự khác biệt cực kỳ nhỏ nhặt, mơ hồ mà tôi hay bạn, hay thậm chí cả ngài Sherlock Holmes quá cố cũng chẳng thể nào phát hiện ra, ấy thế mà lại được nhận biết bởi một thành viên của chủng tộc vốn bị vài người gán cho là đứng ở đáy cùng của thang bậc trí tuệ loài người.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.