Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 25

❊ ❊ ❊

“Kinh điển.” Là cuốn sách người ta khen ngợi hết lời nhưng chẳng bao giờ đọc.

—Lịch mới của Pudd’nhead Wilson.

Lại lên tàu—hướng đến Bendigo. Trích nhật ký:

23 tháng Mười. Thức dậy lúc 6 giờ, khởi hành lúc 7:30; chẳng mấy chốc đã tới Castlemaine, một trong những mỏ vàng trù phú thời sơ khai; đợi vài tiếng đồng hồ mới có tàu; rời đi lúc 3:40 và tới Bendigo sau đó một tiếng. Bạn đồng hành của tôi là một linh mục Công giáo, một người tốt hơn tôi mà dường như chính ông cũng chẳng nhận ra điều đó—một người giàu lòng nhân ái, trí tuệ và tâm hồn; một con người đáng mến. Ông ấy sẽ còn tiến xa. Một ngày nào đó sẽ là giám mục. Sau đó là tổng giám mục. Rồi hồng y. Và hy vọng cuối cùng là tổng lãnh thiên thần. Đến lúc đó, ông ấy sẽ nhớ lại tôi khi tôi nói, “Ngài còn nhớ chuyến đi từ Ballarat đến Bendigo, khi ngài chẳng là gì ngoài Cha C., và tôi cũng chẳng là gì so với bây giờ không?” Phải mất tới chín tiếng đồng hồ mới đi từ Ballarat tới Bendigo. Đi bộ thì chúng tôi đã tiết kiệm được bảy tiếng rồi. Dù sao thì cũng chẳng có gì phải vội.

Bendigo cũng là một trong những vùng đào vàng trù phú thời sơ khai. Hiện nay, nơi này phát triển mạnh về ngành khai thác thạch anh—ngành nghề mà hơn bất cứ ngành nào khác mà tôi biết, dạy người ta đức tính kiên nhẫn, đồng thời đòi hỏi sự gan góc và thần kinh thép. Thị trấn dày đặc những ống khói cao ngất và các công trình vận hành, trông chẳng khác nào một thành phố dầu mỏ. Ví dụ, nói về sự kiên nhẫn: một công ty địa phương đã kiên trì khoan sâu và tìm kiếm mà chẳng hề thấy dấu vết vàng hay thu lại một xu lợi nhuận nào trong suốt mười một năm—rồi bất ngờ chạm mạch, và giàu lên nhanh chóng. Công sức mười một năm đó tiêu tốn 55.000 đô la, và thỏi vàng đầu tiên tìm được chỉ là một hạt nhỏ bằng đầu đinh ghim. Nó được giữ dưới khóa sắt, như một báu vật, và được trịnh trọng trưng ra cho khách tham quan xem, “nhớ bỏ mũ ra”. Khi nhìn thấy nó, tôi vẫn chưa biết lai lịch của nó.

“Đây là vàng. Hãy xem đi—cầm kính lúp này. Giờ ông đoán xem nó trị giá bao nhiêu?”

Tôi đáp:

“Tôi đoán khoảng hai xu; hay theo ngôn ngữ Anh của các ông thì là bốn farthing.”

“Chà, nó tốn hết 11.000 bảng Anh đấy.”

“Ôi, thôi đi!”

“Thật đấy. Ballarat và Bendigo đã tạo ra ba thỏi vàng để đời của thế giới, và thỏi này là thỏi đáng kinh ngạc nhất trong ba thỏi đó. Hai thỏi kia mỗi thỏi trị giá 9.000 bảng Anh; thỏi này thì hơn thêm vài ngàn nữa. Nó nhỏ, trông chẳng bắt mắt gì mấy, nhưng xứng đáng với cái tên của nó—Adam. Nó là thỏi Adam của mỏ vàng này, và những đứa con của nó (số vàng được tìm thấy sau đó) lên tới hàng triệu bảng.”

Lại nói về sự kiên nhẫn, một mỏ khác đã được khai thác với chi phí khổng lồ suốt 17 năm trước khi tìm thấy vàng, và một mỏ khác nữa bắt người ta phải chờ đợi tới 21 năm; sau đó, trong cả hai trường hợp, toàn bộ chi phí đều được hoàn lại chỉ trong một hoặc hai năm, kèm theo lãi kép.

Bendigo còn đào được nhiều vàng hơn cả Ballarat. Tổng cộng cả hai nơi đã sản xuất ra số vàng trị giá 650.000.000 đô la—tức bằng một nửa sản lượng của California.

Chính nhờ ông Blank—xin miễn nhắc cụ thể tên thật của ông ấy—chính yếu là nhờ ông Blank mà chuyến lưu trú của tôi ở Bendigo trở nên đáng nhớ, thú vị và dễ chịu. Bản thân ông ấy cũng giải thích điều này với tôi. Ông ấy bảo rằng nhờ có ảnh hưởng của ông mà chính quyền thành phố đã mời tôi đến tòa thị chính để nghe các bài diễn văn ca tụng và đáp từ; rằng nhờ ảnh hưởng của ông mà tôi được đưa đi một chuyến dạo chơi dài khắp thành phố để ngắm nhìn những thắng cảnh; nhờ ảnh hưởng của ông mà tôi được mời đến thăm các mỏ vàng lớn; nhờ ảnh hưởng của ông mà tôi được đưa vào bệnh viện để gặp người đàn ông Trung Quốc đang hồi phục, người đã bị cướp tấn công vào lúc nửa đêm trong căn lều vắng vẻ tám tuần trước đó, bị đâm bốn mươi sáu nhát và còn bị lột da đầu; rằng nhờ ảnh hưởng của ông mà khi tôi tới, cảnh tượng kinh hoàng của những mảnh vá víu và băng gạc kia đang ngồi trên giường bệnh, giả vờ đọc một trong những cuốn sách của tôi; rằng nhờ ảnh hưởng của ông mà các nỗ lực đã được thực hiện để thuyết phục Đức Tổng giám mục Công giáo ở Bendigo mời tôi ăn tối; rằng nhờ ảnh hưởng của ông mà các nỗ lực đã được thực hiện để thuyết phục vị Giám mục Anh giáo ở Bendigo mời tôi ăn khuya; rằng nhờ ảnh hưởng của ông mà trưởng hội nhà báo đã lái xe đưa tôi qua vùng ngoại ô rợp bóng cây và chỉ cho tôi thấy, từ đỉnh đồi Lone Tree, một dải rừng núi và thung lũng hùng vĩ và xinh đẹp nhất mà tôi từng thấy trên toàn cõi Úc. Và khi ông ấy hỏi tôi điều gì đã gây ấn tượng nhất với tôi ở Bendigo và tôi trả lời rằng đó chính là gu thẩm mỹ và tinh thần công cộng đã tô điểm cho các đường phố với 105 dặm cây xanh bóng mát, ông ấy nói rằng tất cả là nhờ ảnh hưởng của ông mà việc đó đã được thực hiện.

Nhưng tôi đang mô tả ông ấy chưa hoàn toàn chính xác. Ông ấy không nói rằng mọi việc xảy ra đều nhờ ảnh hưởng của mình—vì làm vậy thì quá thô thiển; ông chỉ khéo léo truyền đạt ý đó; truyền đạt một cách tinh tế đến mức tôi chỉ thoáng nhận ra, giống như ta thoáng ngửi thấy mùi hương nhàn nhạt thoang thoảng khi dạo bước trên đồng cỏ vào mùa hè; truyền đạt mà không gây khó chịu, không chút tự cao hay phô trương—nhưng dẫu sao thì ông ấy cũng đã truyền đạt.

Ông ấy là người Ireland; một quý ông có học thức; trầm mặc, tử tế và lịch thiệp; là một người độc thân, trông chừng bốn mươi lăm hoặc có lẽ năm mươi tuổi. Ông ấy ghé thăm tôi tại khách sạn, và chính tại đó chúng tôi đã trò chuyện. Ông ấy làm cho tôi quý mến mình, và làm điều đó một cách rất dễ dàng. Một phần là nhờ cung cách dịu dàng, lôi cuốn của ông, nhưng chủ yếu là nhờ sự am hiểu đáng kinh ngạc về các cuốn sách của tôi mà ông bộc lộ trong cuộc trò chuyện. Ông ấy còn cập nhật rất sát nội dung của chúng; nếu ông ấy coi đó là lẽ sống của mình thì cũng khó lòng mà nắm vững nội dung như thế. Ông ấy khiến tôi hài lòng về bản thân hơn bao giờ hết. Rõ ràng là ông ấy có một tình yêu sâu sắc dành cho sự hài hước, nhưng ông ấy không bao giờ cười; thậm chí không bao giờ cười khúc khích; thực tế là, sự hài hước không thể nào lộ ra trên nét mặt ông. Không, ông luôn trầm mặc—một vẻ trầm mặc dịu dàng, ưu tư; nhưng ông lại khiến tôi cười, suốt buổi; và điều này rất khó xử—nhưng cũng rất thú vị—vì đó là những trích dẫn từ chính các cuốn sách của tôi.

Khi chuẩn bị rời đi, ông quay lại và nói:

“Ông không nhớ tôi sao?”

“Tôi ư? Sao cơ? Chúng ta đã gặp nhau trước đây sao?”

“Không, chỉ là trao đổi qua thư từ thôi.”

“Thư từ sao?”

“Vâng, nhiều năm trước rồi. Mười hai hoặc mười lăm năm. Ồ, lâu hơn thế nữa. Nhưng tất nhiên là ông…” Một khoảng lặng suy tư. Rồi ông nói:

“Ông có nhớ Lâu đài Corrigan không?”

“K-không, tôi tin là không. Tôi không tài nào nhớ nổi cái tên đó.”

Ông đợi một lát, trầm ngâm, tay vẫn nắm tay nắm cửa, rồi định bước ra ngoài; nhưng lại quay lại và nói rằng tôi đã từng quan tâm đến Lâu đài Corrigan, và hỏi liệu tối nay tôi có thể đến chỗ ở của ông để uống chút rượu Scotch nóng và trò chuyện về nó hay không. Tôi là người kiêng rượu nhưng lại thích thư giãn, nên tôi đồng ý.

Chúng tôi rời hội trường thuyết giảng cùng nhau vào khoảng mười rưỡi. Ông có một phòng khách được bài trí cực kỳ thoải mái và trang nhã, với những bức tranh đẹp trên tường, đồ trang trí của Ấn Độ và Nhật Bản trên bệ lò sưởi, và đây đó, sách vở khắp nơi—phần lớn là sách của tôi; điều đó làm tôi thấy tự hào. Ánh sáng rực rỡ, những chiếc ghế bành có đệm êm ái, mọi thứ cho việc pha chế và hút thuốc đều sẵn sàng. Chúng tôi pha chế và châm thuốc; rồi ông đưa cho tôi một tờ giấy ghi chú và nói—

“Ông có nhớ cái này không?”

“Ồ, có chứ, tất nhiên là có!”

Chất liệu giấy vô cùng sang trọng. Ở phía trên là một ký tự lồng (monogram) xoắn xuýt được in bằng khuôn thép màu vàng, xanh dương và đỏ, theo phong cách Anh trang trí tỉ mỉ từ nhiều năm trước; và bên dưới, bằng những chữ in hoa kiểu Gothic gọn gàng là dòng này—được in màu xanh:

CÂU LẠC BỘ MARK TWAIN LÂU ĐÀI CORRIGAN ............187..

“Chà!” tôi nói, “sao ông lại có cái này?”

“Tôi là Chủ tịch của nó.”

“Không!—ông nói thật chứ.”

“Thật mà. Tôi là Chủ tịch đầu tiên. Tôi được bầu lại hàng năm chừng nào các cuộc họp còn được tổ chức tại lâu đài của tôi—Corrigan—tức là trong năm năm.”

Sau đó, ông cho tôi xem một cuốn album với hai mươi ba bức ảnh của tôi trong đó. Năm bức có từ những ngày đầu, những bức còn lại là các phiên bản sau này; danh sách kết thúc bằng một tấm ảnh do Falk chụp ở Sydney một tháng trước đó.

“Ông đã gửi cho chúng tôi năm tấm đầu tiên; những tấm còn lại là mua.”

Đây đúng là thiên đường! Chúng tôi thức khuya, trò chuyện, trò chuyện và trò chuyện—chủ đề là Câu lạc bộ Mark Twain ở Lâu đài Corrigan, Ireland.

Sự hiểu biết đầu tiên của tôi về Câu lạc bộ đó có từ rất lâu rồi; chắc phải tầm hai mươi năm. Nó đến với tôi dưới dạng một lá thư lịch sự, viết trên giấy ghi chú mà tôi đã mô tả, và được ký tên “Theo lệnh của Chủ tịch; C. PEMBROKE, Thư ký.” Bức thư truyền đạt sự thật rằng Câu lạc bộ đã được thành lập để vinh danh tôi, và nói thêm hy vọng rằng dấu hiệu đánh giá cao công việc của tôi này sẽ nhận được sự chấp thuận của tôi.

Tôi đã trả lời với lời cảm ơn; và cố gắng hết sức để giữ cho sự hài lòng của mình không bị bộc lộ quá mức.

Đó là lúc cuộc trao đổi thư từ dài đằng đẵng bắt đầu. Một lá thư hồi âm, theo lệnh của Chủ tịch, cung cấp cho tôi tên các thành viên—tổng cộng ba mươi hai người. Đi kèm với nó là một bản Điều lệ và Nội quy, dưới dạng tập sách nhỏ, được in một cách đầy nghệ thuật. Phí gia nhập và hội phí đều được quy định rõ ràng; cũng như lịch trình các cuộc họp—hàng tháng—để viết tiểu luận về các tác phẩm của tôi, sau đó là thảo luận; hàng quý dành cho công việc và một bữa tối, không có tiểu luận, nhưng có các bài diễn văn sau bữa tối; cũng có một danh sách các nhân sự: Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký, Thủ quỹ, v.v. Bức thư ngắn gọn, nhưng là một bài đọc thú vị, vì nó kể cho tôi nghe về sự quan tâm mạnh mẽ mà các thành viên dành cho dự án mới của họ, v.v. Nó cũng yêu cầu tôi gửi một tấm ảnh—một tấm ảnh đặc biệt. Tôi đã đi chụp và gửi nó—tất nhiên là kèm theo một lá thư.

Chẳng bao lâu sau, phù hiệu của Câu lạc bộ được gửi tới, rất xinh xắn và đáng yêu; và rất nghệ thuật. Đó là một chú ếch đang ló đầu ra từ bụi cỏ và cây sậy duyên dáng, được làm bằng men trên nền vàng, và có một chiếc ghim vàng ở mặt sau. Sau khi tôi đã ngắm nghía, chơi đùa, vuốt ve và tận hưởng nó một vài giờ, ánh sáng tình cờ chiếu vào nó ở một góc độ mới, và để lộ ra cho tôi một chi tiết mới đầy xảo diệu; khi ánh sáng vừa chuẩn, những nét bóng mờ tinh tế của lá cỏ và thân cây sậy đan xen vào nhau thành một ký tự lồng—của tôi! Bạn có thể thấy món trang sức đó là một tác phẩm nghệ thuật. Và khi xét đến giá trị nội tại của nó, bạn phải thừa nhận rằng không phải câu lạc bộ văn học nào cũng có thể chi trả cho một chiếc phù hiệu như vậy. Theo ý kiến của các ông Marcus và Ward ở New York, nó trị giá dễ dàng là 75 đô la. Họ nói rằng họ không thể làm lại cái tương tự với giá đó mà vẫn có lãi.

Đến lúc này, Câu lạc bộ đã đi vào hoạt động ổn định; và từ đó về sau, thư ký của nó luôn cung cấp cho tôi đầy đủ công việc vào những giờ rảnh rỗi. Ông ấy báo cáo các cuộc thảo luận của Câu lạc bộ về sách của tôi với sự chi tiết cần cù, và thực hiện công việc của mình với tinh thần và năng lực tuyệt vời. Theo quy định, ông ấy tóm tắt; nhưng khi một bài diễn văn đặc biệt xuất sắc, ông ấy tốc ký và gửi cho tôi những đoạn hay nhất, viết hẳn ra. Có năm diễn giả mà ông ấy đặc biệt ưu ái theo cách đó: Palmer, Forbes, Naylor, Norris và Calder. Palmer và Forbes không bao giờ có thể kết thúc một bài diễn văn mà không tấn công lẫn nhau, và mỗi người theo cách riêng của mình đều rất đáng gờm—Palmer bằng những lời lăng mạ đầy nam tính và hùng hồn, Forbes bằng lối châm biếm lịch lãm nhưng cay độc. Tôi luôn có thể biết ai trong số họ đang nói mà không cần tìm tên. Naylor có phong cách trau chuốt và khả năng sử dụng ẩn dụ đầy thú vị; phong cách của Norris hoàn toàn không có trang trí, nhưng lại súc tích, mạch lạc và mạnh mẽ đến mức đáng ghen tị. Nhưng suy cho cùng, Calder mới là viên ngọc quý. Ông ta không bao giờ phát biểu khi tỉnh táo, và phát biểu liên tục khi say. Và chắc chắn đó là những bài diễn văn say xỉn nhất mà một người từng thốt ra. Chúng đầy ắp những điều hay ho, nhưng lại lộn xộn và lang man đến mức khó tin khiến người ta chóng mặt khi theo dõi ông ta. Chúng không hề có ý gây cười, nhưng lại hài hước,—hài hước chính vì sự nghiêm túc mà diễn giả đặt vào những phép lạ đầy nghịch lý tuôn trào của mình. Trong vòng năm năm, tôi đã hiểu phong cách của năm nhà hùng biện này rõ như phong cách của bất kỳ diễn giả nào trong câu lạc bộ của chính tôi ở quê nhà.

Những báo cáo này đến hàng tháng. Chúng được viết trên giấy khổ lớn (foolscap), 600 từ một trang, và thường khoảng hai mươi lăm trang một báo cáo—tôi đoán chắc là 15.000 từ, một khối lượng công việc trọn một tuần. Các báo cáo này vô cùng hấp dẫn, dù dài; nhưng thật không may cho tôi, chúng không đến một mình. Chúng luôn kèm theo hàng loạt câu hỏi về các đoạn văn và ý đồ trong sách của tôi mà Câu lạc bộ muốn được giải đáp; và thêm vào đó, hàng quý lại kèm theo báo cáo của Thủ quỹ, báo cáo của Kiểm toán viên, báo cáo của Ủy ban, bài đánh giá của Chủ tịch, và họ luôn muốn biết ý kiến của tôi về những thứ này; cũng như các gợi ý cho sự phát triển của Câu lạc bộ, nếu có.

Dần dần, tôi bắt đầu sợ hãi những thứ đó; và nỗi sợ hãi này cứ lớn dần, lớn dần; lớn đến mức tôi bắt đầu đón chờ chúng với một nỗi kinh hoàng lạnh lẽo. Vì tôi là một kẻ lười biếng, không thích viết thư, và bất cứ khi nào những thứ này tới, tôi lại phải gác lại mọi việc và ngồi xuống—để tâm trí được yên ổn—đào bới, đào bới cho đến khi tìm được thứ gì đó trong đầu để trả lời. Năm đầu tiên tôi xoay xở khá ổn; nhưng trong bốn năm tiếp theo, Câu lạc bộ Mark Twain ở Lâu đài Corrigan là lời nguyền, là cơn ác mộng, là nỗi đau khổ và bất hạnh của đời tôi. Và tôi đã phát ốm khi phải ngồi chụp ảnh. Tôi ngồi chụp mỗi năm một lần suốt năm năm, cố gắng làm hài lòng tổ chức không đáy đó. Rồi cuối cùng, tôi đứng lên nổi loạn. Tôi không thể chịu đựng sự áp bức của mình thêm nữa. Tôi tập hợp lòng dũng cảm, dứt bỏ xiềng xích, trở thành một người tự do và hạnh phúc trở lại. Kể từ ngày đó, tôi đốt sạch những phong bì dày cộm của thư ký ngay khi chúng vừa tới, và dần dần chúng cũng thôi không gửi đến nữa.

Chà, trong sự thẳng thắn đầy thân tình của đêm hôm đó ở Bendigo, tôi đã thú nhận tất cả những điều này. Rồi ông Blank cũng thẳng thắn đáp lại theo cùng một cách, và sau một lời xin lỗi nhẹ nhàng, ông nói rằng chính ông là Câu lạc bộ Mark Twain, và là thành viên duy nhất nó từng có!

Chà, đó là điều đáng giận, nhưng tôi lại chẳng thấy giận chút nào. Ông nói rằng mình chưa bao giờ phải làm việc kiếm sống, và đến năm ba mươi tuổi, cuộc sống đã trở nên tẻ nhạt và mệt mỏi đối với ông. Ông chẳng còn niềm vui nào; chúng lần lượt phai nhạt, lụi tàn, và bỏ mặc ông trong sự cô độc. Ông đã bắt đầu nghĩ đến chuyện tự tử. Rồi đột nhiên, ông nảy ra ý tưởng hạnh phúc là thành lập một câu lạc bộ tưởng tượng, và bắt tay vào làm ngay lập tức, với sự nhiệt tình và tình yêu thương. Ông bị nó mê hoặc; nó cho ông thứ gì đó để làm. Nó tự phát triển trong tay ông;—nó trở nên phức tạp và ghê gớm hơn gấp hai mươi lần so với bản phác thảo thô sơ ban đầu. Mỗi bổ sung mới cho kế hoạch gốc nảy ra trong đầu lại mang đến cho ông một mối quan tâm mới và niềm vui mới. Ông tự thiết kế phù hiệu Câu lạc bộ, và làm việc với nó, chỉnh sửa và cải tiến trong nhiều ngày đêm; rồi gửi đến London để đặt làm. Đó là chiếc duy nhất được làm ra. Nó được làm cho tôi; “phần còn lại của Câu lạc bộ” đành chịu.

Ông tự bịa ra ba mươi hai thành viên cùng tên tuổi của họ. Ông tự bịa ra năm diễn giả ưa thích và năm phong cách riêng biệt của họ. Ông tự bịa ra các bài diễn văn của họ, và tự mình báo cáo lại. Ông ấy bảo rằng nếu tôi không từ bỏ, ông đã duy trì Câu lạc bộ đó đến tận bây giờ. Ông nói ông đã làm việc như một nô lệ với những báo cáo đó; mỗi báo cáo tiêu tốn của ông từ một tuần đến hai tuần, và công việc đó mang lại cho ông niềm vui, giữ cho ông sống và muốn được sống. Đó là một đòn giáng đau đớn khi Câu lạc bộ chết đi.

Cuối cùng, Lâu đài Corrigan cũng không hề tồn tại. Ông ấy cũng bịa ra nốt.

Thật tuyệt vời—cả câu chuyện đó; và hoàn toàn là trò đùa thực tế khéo léo, công phu, vui vẻ và tỉ mỉ nhất mà tôi từng nghe. Và tôi thích nó; thích nghe ông ấy kể về nó; dù rằng tôi vốn là người ghét những trò đùa thực tế từ bao đời nay. Cuối cùng ông nói—

“Ông có nhớ một mẩu tin từ Melbourne mười bốn hoặc mười lăm năm trước, kể về chuyến lưu diễn thuyết giảng của ông ở Úc, và cái chết cùng đám tang của ông tại Melbourne không?—một mẩu tin từ Henry Bascomb, ở Bascomb Hall, Upper Holywell, Hants.”

“Có.”

“Tôi đã viết nó.”

“Trời đất ơi!”

“Vâng, tôi đã làm thế. Tôi không biết tại sao. Tôi chỉ bất chợt nảy ra ý nghĩ đó, và thực hiện nó mà không dừng lại để suy nghĩ. Thật sai lầm. Nó có thể gây hại. Sau đó tôi luôn cảm thấy hối hận về điều đó. Ông phải tha thứ cho tôi. Tôi là khách của ông Bascom trên du thuyền của ông ấy, trong chuyến đi vòng quanh thế giới. Ông ấy thường nhắc về ông, và về những khoảng thời gian vui vẻ ông và ông ấy đã có cùng nhau ở nhà ông ấy; và ý nghĩ đó nảy ra trong đầu tôi, ngay tại Melbourne, và tôi đã bắt chước chữ viết tay của ông ấy, rồi viết lá thư đó.”

Vậy là bí ẩn đã được sáng tỏ, sau bao nhiêu, bao nhiêu năm trời.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.