Giai điệu: "Con trai duy nhất của Thiếu tá."
Hỡi những người thiện tâm gần xa,
Hãy lại đây, nghe chuyện người ta,
Về một chàng trai dũng cảm, trung kiên,
Giờ đang nằm dưới mộ, ngủ yên.
William Upson, đó là tên chàng,
Nếu không phải thế, thì cũng chẳng màng.
Chàng nhập ngũ trong cuộc chiến tàn khốc,
Để rồi mất mạng, chịu cảnh tan tóc.
Chàng là con cả của Perry Upson,
Cha chàng yêu quý đứa con khôn.
Chàng mới mười chín tuổi xuân thì,
Khi cuộc nổi loạn kéo chàng đi.
Cha chàng đồng ý cho chàng đi,
Nhưng mẹ hiền chẳng muốn vậy chi:
"Ôi Billy ơi, hãy ở nhà thôi!"
Nhưng nào ngăn nổi, chàng chẳng nghe lời.
Chàng đến Nashville, thuộc Tennessee,
Bạn bè thân thiết, chẳng thấy đâu nhỉ;
Chàng chết nơi xa, giữa người dưng,
Chẳng ai biết xác chàng ở vùng nào ngưng.
Chàng đổ bệnh, sống được bốn tuần,
Ôi! Cha mẹ khóc, đớn đau muôn phần.
Giờ đây họ chỉ biết sầu vương,
Bởi Billy đã về nơi thiên đường.
Ôi! Phải chi mẹ nhìn thấy con trai,
Bởi bà yêu quý đứa con hiền tài;
Nếu nghe được lời cầu nguyện trước khi lìa đời,
Lòng bà vơi bớt, đợi ngày gặp lại nơi khơi.
Lòng mẹ sẽ nhẹ nhàng biết mấy,
Thấy con mình rời thế gian này,
Nghe những lời yêu thương cao quý,
Khi con rời trần thế, về chốn diệu kỳ.
Giờ đây lòng mẹ cũng vơi đau,
Vì con đã nằm ở nghĩa trang ta mau;
Bởi bà biết mộ con giờ đã gần bên,
Nước mắt bà cũng chẳng tuôn rơi thêm.
Dù chẳng biết chắc đó là con mình,
Vì quan tài chẳng thể mở ra, lặng thinh;
Có khi là người khác thay thế chỗ,
Bởi bà chẳng thấy được khuôn mặt con, ôi khổ.
17 tháng 12. Tới Sydney.
19 tháng 12. Trên tàu. Một gã tầm 30 tuổi với bốn chiếc vali; một kẻ mảnh khảnh, hàm răng trông như cái nghĩa địa bị bỏ hoang. Tóc hắn bết cứng - bết bằng thuốc bôi tóc; nhìn như một lớp vỏ cứng đơ. Hắn hút mấy loại thuốc lá kỳ dị nhất - trông có vẻ như làm từ phân bón vậy. Mớ thuốc lá đó cùng mái tóc làm hắn bốc mùi như cả một quốc gia. Hắn mặc chiếc áo ghi lê khoét sâu, để lộ một mảng sơ mi sờn rách, bẩn thỉu. Khuy măng sét lòe loẹt, mạ vàng giả - chúng tạo thành những vết đen trên vải. Khuy tay áo quá khổ bằng vàng giả, để lộ lớp đồng bên dưới. Dây đồng hồ nặng nề cũng bằng vàng giả. Tôi cá là hắn chẳng xem giờ bằng cái đồng hồ đó, vì đã có lần hắn hỏi Smythe mấy giờ rồi. Hắn mặc chiếc áo khoác từng rất bảnh khi còn mới; chiếc quần âu kiểu "trà chiều lúc 5 giờ" màu nhạt, bẩn kinh khủng; ria mép vàng hoe vểnh ngược lên đầy vẻ tự phụ; đôi giày màu đỏ nâu, giả da bóng. Hắn là một vật thể lạ - một "dân chơi" rởm. Hắn sẽ là hàng xịn nếu hắn đủ tiền. Nhưng hắn tự mãn với chính mình. Bạn có thể thấy điều đó qua biểu cảm, qua mọi thái độ và cử chỉ của hắn. Hắn đang sống trong một giấc mơ "dân chơi" nơi mọi sự giả tạo tồi tàn kia là hàng thật, và bản thân hắn là sự chân thành. Thật khó lòng mà chỉ trích, cũng chẳng nỡ mỉa mai khi nhìn hắn tận hưởng những vẻ lười biếng, những thủ đoạn, điệu bộ, cùng sự kiểu cách được trau chuốt giả tạo và nét thanh tao đầy gượng ép của mình. Với tôi, rõ ràng hắn đang tưởng tượng mình là Hoàng tử xứ Wales, và đang làm mọi thứ theo cách mà hắn nghĩ Hoàng tử sẽ làm. Khi mang bốn chiếc vali lên tàu và nhét vào ngăn lưới, hắn bo cho người khuân vác bốn xu, và nhẹ nhàng xin lỗi vì số tiền bo ít ỏi - với đúng cái điệu bộ "hoàng gia" trịch thượng nhất trên đời. Hắn duỗi dài người trên ghế trước, đặt cái đầu bết thuốc của mình lên tay vịn ở giữa, gác chân ra cửa sổ, bắt đầu diễn vai Hoàng tử, phô bày những giấc mơ và vẻ lười biếng của mình; hắn lười biếng nhìn những làn khói xanh cuộn lên từ điếu thuốc, hít hà cái mùi hôi hám đó, và trông thật mãn nguyện; rồi gạt tàn thuốc bằng một cử chỉ điệu đà nhất có thể, vô tình phô ra chiếc nhẫn đồng của mình một cách đầy chủ ý; ôi chao, xem hắn diễn cứ như đang tận mắt chứng kiến tại chính Marlborough House vậy.
Chuyến đi còn có những cảnh sắc khác. Cảnh vùng sông Hawksbury, thuộc khu vực Công viên Quốc gia, thật tuyệt - tuyệt vời một cách phi thường, với những góc nhìn rộng mở về con sông và hồ nước được đóng khung hùng vĩ bởi những ngọn đồi nhiều cây cối; và cứ chốc chốc lại thấy những cụm núi cao quý nhất, cùng những hiệu ứng mặt nước đầy mê hoặc được sắp đặt lại. Xa hơn một chút là những vùng đất bằng phẳng xanh mướt, lơ thơ những rừng cây bạch đàn, thỉnh thoảng lại thấy những túp lều, cabin của những người nông dân nhỏ lẻ chuyên nghề sinh con đẻ cái. Đi xa hơn nữa là những dải đất khô cằn, vô hồn và ảm đạm. Rồi tới Newcastle, một thị trấn nhộn nhịp, thủ phủ của vùng mỏ than giàu có. Khi tiến gần đến Scone, những đồng bằng canh tác và chăn thả rộng lớn hiện ra, thỉnh thoảng lại thấy xuất hiện loài cây gây rắc rối - một loài xương rồng lê gai nhỏ bé đặc biệt quái đản, loài cây bị nông dân nguyền rủa trong những lời cầu nguyện hàng ngày; nó được một quý bà ủy mị nhập về, rồi tặng không cho cả vùng thuộc địa. Nắng nóng như thiêu đốt suốt cả ngày.
20 tháng 12. Trở lại Sydney. Lại nắng nóng như thiêu đốt. Từ báo chí và bản đồ, tôi đã thu thập được một loạt những cái tên kỳ lạ của các thị trấn Úc, với ý định sẽ viết một bài thơ từ chúng:
Tumut
Takee
Murriwillumba
Bowral
Ballarat
Mullengudgery
Murrurundi
Wagga-Wagga
Wyalong
Murrumbidgee
Goomeroo
Wolloway
Wangary
Wanilla
Worrow
Koppio
Yankalilla
Yaranyacka
Yackamoorundie
Kaiwaka
Coomooroo
Tauranga
Geelong
Tongariro
Kaikoura
Wakatipu
Oohipara
Waitpinga
Goelwa
Munno Para
Nangkita
Myponga
Kapunda
Kooringa
Penola
Nangwarry
Kongorong
Comaum
Koolywurtie
Killanoola
Naracoorte
Muloowurtie
Binnum
Wallaroo
Wirrega
Mundoora
Hauraki
Rangiriri
Teawamute
Taranaki
Toowoomba
Goondiwindi
Jerrilderie
Whangaroa
Wollongong
Woolloomooloo
Bombola
Coolgardie
Bendigo
Coonamble
Cootamundra
Woolgoolga
Mittagong
Jamberoo
Kondoparinga
Kuitpo
Tungkillo
Oukaparinga
Talunga
Yatala
Parawirra
Moorooroo
Whangarei
Woolundunga
Booleroo
Pernatty
Parramatta
Taroom
Narrandera
Deniliquin
Kawakawa.

Có lẽ tốt nhất là làm bài thơ ngay bây giờ, và để thời tiết hỗ trợ cho việc đó.