Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

❊ ❊ ❊

Nhiều người hay dè bĩu đám học sinh, chê chúng nông cạn và bốc đồng. Thế nhưng, chính một cậu học sinh đã thốt ra câu định nghĩa để đời: “Lòng tin là tin vào những điều mà ta thừa biết là không có thật.”

— Nhật ký mới của Pudd’nhead Wilson.

Hồi ở Sydney, tôi có một giấc mơ cực kỳ tráng lệ. Trong một buổi trò chuyện, tôi đã kể lại nó cho một vị mục sư người Ấn Độ đang trên đường sang New Zealand thăm bà con. Tôi mơ thấy toàn bộ vũ trụ hữu hình này chính là cơ thể vật lý của Chúa; những thiên hà xa xôi lấp lánh cách nhau hàng triệu dặm trong không gian vô tận kia chỉ là các tế bào máu chạy trong huyết quản của Ngài; còn con người và muôn loài chúng ta chỉ là những vi sinh vật nhỏ bé đang làm cho các tế bào ấy tràn trề sức sống.

Ông X., vị mục sư nọ, ngẫm nghĩ về giấc mơ của tôi một lúc rồi lên tiếng:

“Giấc mơ này quả là vô song về độ hoành tráng, bởi giới hạn của nó cũng chính là giới hạn của toàn vũ trụ. Tôi thấy nó còn giải thích được một điều vốn dĩ cực kỳ khó hiểu: nguồn gốc những truyền thuyết linh thiêng của người Ấn Độ. Có lẽ các triết gia thời xưa đã mơ thấy chúng, rồi thành tâm tin rằng đó là thiên khải do thần linh ban xuống. Nghe rất có lý, vì các câu chuyện dân gian của họ được xây dựng trên một quy mô đồ sộ đến mức chẳng ai tin nổi mấy ông thầy tế quen suy nghĩ lối mòn lại có thể tưởng tượng ra những điều kỳ vĩ như thế khi đang tỉnh táo.”

Ông kể cho tôi nghe vài truyền thuyết và cho biết tất cả các tầng lớp trong xã hội Ấn Độ, kể cả những người trí thức thuộc giới thượng lưu, đều tin sái cổ vào chúng. Sự nhẹ dạ cả tin mang tính toàn dân này chính là trở ngại lớn nhất đối với các vị mục sư khi đi truyền giáo. Rồi ông nói tiếp, đại ý thế này:

“Ở quê nhà, mọi người cứ thắc mắc tại sao Kitô giáo lại chậm phát triển ở Ấn Độ đến vậy. Họ nghe đồn người Ấn rất dễ tin, vốn có bản tính sùng bái phép thuật và luôn cởi mở đón nhận các hiện tượng siêu nhiên. Thế là họ tự suy luận: người Ấn dễ tin như thế, cứ giới thiệu Kitô giáo cho họ là họ sẽ tin ngay; lấy các phép mầu trong Kinh Thánh ra chứng minh thì họ sẽ hết ngờ vực. Từ đó, họ kết luận rằng Kitô giáo giậm chân tại chỗ ở Ấn Độ là do lỗi của chúng tôi: chúng tôi chưa biết cách truyền giảng giáo lý và phô diễn phép thuật sao cho thuyết phục.

Nhưng thực tế thì chúng tôi đâu có đủ ‘trang bị’ như họ tưởng. Công việc này chẳng hề dễ dàng chút nào. Nói theo ngôn ngữ quân sự thì chúng tôi được gửi ra chiến trường với loại thuốc súng cực tốt, nhưng đạn thì lại làm bằng... bông. Nghĩa là các phép mầu của chúng tôi chẳng ăn thua gì cả; người Ấn Độ chẳng chút mặn mà, vì bản thân họ đã sở hữu những câu chuyện thần thoại kỳ lạ hơn nhiều. Mọi chi tiết trong tôn giáo của họ đều được chứng minh và củng cố bằng các phép thuật phi thường; vậy nên tôn giáo của chúng tôi muốn họ tin thì cũng phải chứng minh bằng cách tương tự. Hồi mới sang Ấn Độ, tôi đã đánh giá thấp những khó khăn này. Nhưng thực tế đã sớm dội cho tôi một gáo nước lạnh. Tôi từng nghĩ giống như mấy người bạn ở quê nhà—rằng muốn những người dân vốn ngây thơ và mê phép thuật này lắng nghe thông điệp nghiêm túc của mình, tôi chỉ cần mê hoặc họ bằng những câu chuyện kỳ diệu. Với niềm tin tràn trề, tôi hồ hởi kể cho họ nghe về những chiến công của Samson, người đàn ông mạnh nhất lịch sử—theo cách tôi vẫn gọi ông ấy.

Lúc đầu, tôi thấy sự háo hức và hứng thú hào hứng hiện rõ trên khuôn mặt người nghe. Thế nhưng, khi tôi bắt đầu đi sâu vào từng tình tiết của câu chuyện vĩ đại đó, tôi đau đớn nhận ra mình đang mất dần sự đồng cảm của khán giả. Tôi không sao hiểu nổi. Đó là một sự ngỡ ngàng và thất vọng tràn trề. Trước khi tôi kịp kể xong, chút hứng thú tàn tán ấy đã biến thành sự thờ ơ lạnh ngắt. Cho đến tận lúc kết thúc, bầu không khí dường như đóng băng và tôi hoàn toàn thất bại trong việc tạo ra bất kỳ ấn tượng nào.

Sau đó, một vị phụ lão người Ấn Độ tốt bụng đã chỉ ra rắc rối của tôi. Ông ấy bảo: ‘Người Ấn Chúng tôi nhận diện một vị thần qua những công trạng do chính tay người đó làm ra—chúng tôi không chấp nhận bất kỳ lời chứng nào khác. Có vẻ như các tín đồ Kitô giáo các vị cũng áp dụng quy tắc này. Và chúng tôi biết một người có nhận được sức mạnh từ thần linh hay không là nhờ việc anh ta làm được những điều mà một người bình thường không thể làm nổi. Rõ ràng đây cũng là cách người Kitô giáo nhận biết khi nào một người đang hoạt động bằng sức mạnh của Chúa chứ không phải của chính mình. Vị thấy đấy, mái tóc của Samson có đặc tính siêu nhiên; vì khi mất đi mái tóc, anh ta cũng chỉ như bao người khác. Như tôi đã nói, đó là cách suy nghĩ của chúng tôi. Trên thế giới có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc lại thờ phụng những vị thần riêng và chẳng đời nào đi thờ thần của dân tộc khác. Ai cũng tin thần của mình là mạnh nhất, và họ sẽ không đời nào đổi thần trừ khi có ai đó chứng minh được thần mới vượt trội hơn về quyền năng. Con người chỉ là sinh vật yếu đuối, rất cần sự giúp đỡ của thần linh—không thể sống thiếu thần linh được. Vậy tội gì phải giao mậng sống của mình cho những vị thần yếu ớt khi ngoài kia có những vị thần mạnh mẽ hơn? Làm thế thì dại quá. Không, nếu nghe nói có những vị thần mạnh hơn thần của mình, người ta không nên ngó lơ, vì đây đâu phải chuyện đùa. Vậy làm sao để biết thần nào mạnh hơn, thần của mình hay thần của người ta? Chỉ có cách là đem so sánh những chiến công đã biết của các vị thần với nhau; ngoài ra chẳng còn cách nào khác. Khi đặt lên bàn cân như vậy, chúng tôi thấy chẳng có lý do gì để nghiêng về thần của các dân tộc khác. Mọi công trạng đều cho thấy các vị thần của chúng tôi là mạnh mẽ nhất, quyền năng nhất. Mấy vị thần của người Kitô giáo có ít tẹo, lại còn toàn thần ‘mới’—mới mẻ và theo chúng tôi thấy là chẳng mạnh mẽ gì cho lắm. Đúng là theo thời gian số lượng thần sẽ tăng lên, vì tôn giáo nào chẳng vậy, nhưng lúc đó còn xa lắm, phải trải qua hàng ngàn hàng vạn năm nữa, bởi thần linh sinh sản chậm lắm, đúng với bản chất của những đấng coi một ngàn năm chỉ như một chớp mắt. Các vị thần của chúng tôi ra đời cách nhau hàng triệu năm. Quá trình đó rất chậm chạp, sự tích tụ sức mạnh và quyền năng cũng chậm chạp tương tự. Qua hàng ngàn thế kỷ miệt mài tích tụ, sức mạnh của các vị thần chúng tôi cuối cùng đã trở nên vô song. Chúng tôi có hàng ngàn bằng chứng về điều này qua những đại chiến công của các Ngài, cũng như của những người bình thường được Ngài ban cho năng lực siêu nhiên. Samson của các vị được ban cho sức mạnh thần kỳ, và khi anh ta bứt đứt dây thần, dùng xương hàm lừa đánh gục hàng ngàn người, rồi vác cả cổng thành trên vai, các vị đã kinh ngạc—và thán phục, vì các vị nhận ra nguồn gốc thần thánh trong sức mạnh của anh ta. Nhưng đem những chuyện đó ra kể cho người Ấn Độ thì chẳng có tác dụng gì đâu, họ không thấy kỳ diệu nổi đâu; vì họ sẽ đem nó so sánh ngay với chiến công của Hanuman, khi các vị thần của chúng tôi bơm sức mạnh thần thánh vào cơ bắp của ngài; và thế là họ cảm thấy mấy chuyện của Samson quá bình thường—như vị đã thấy đấy. Vào thời xa xưa, cách đây hàng vạn năm, khi thần Rama của chúng tôi giao tranh với quỷ vương ở Ceylon, Rama đã nảy ra ý định bắc một cây cầu qua biển nối Ceylon với Ấn Độ để quân đội dễ dàng đi qua. Ngài liền sai vị tướng Hanuman của mình—người cũng được tiếp sức mạnh thần thánh giống như Samson của các vị—đi lấy vật liệu về làm cầu. Chỉ trong hai ngày, Hanuman đã sải bước vượt một ngàn năm trăm dặm đến dãy Himalaya, vác lên vai cả một dãy núi cao ngất dài tới hai trăm dặm rồi thẳng tiến về Ceylon. Lúc đó là đêm tối; khi ngài băng qua đồng bằng, người dân Govardhun nghe thấy tiếng chân bước rung chuyển như sấm dội, đất trời chao đảo. Họ chạy ra xem thì thấy cả dãy Himalaya với những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng xóa đang lướt qua trước mắt. Khi khối lục địa khổng lồ này che khuất cả bầu trời băng đi, trên các triền núi người ta vẫn nhìn thấy ánh đèn lấp lánh của hàng ngàn ngôi làng đang ngủ yên, trông chẳng khác nào các chòm sao đang diễu hành trên bầu trời.

Trong lúc mọi người đang mải ngắm nhìn, Hanuman vô tình vấp chân, khiến một gờ đá cẩm thạch đỏ dài hai mươi dặm bị trật ra và rơi xuống. Qua hàng chiều năm, một nửa gờ đá đã bị bào mòn, nhưng mười dặm còn lại vẫn nằm chình ình trên đồng bằng Govardhun cho đến tận ngày nay, làm bằng chứng chứng minh cho sức mạnh thần thánh mà các vị thần đã ban cho ngài. Chính vị cũng phải tự hiểu rằng Hanuman chẳng thể nào vác nổi dãy núi đó đến Ceylon nếu không có sức mạnh của thần linh. Vị biết thừa anh ta không thể làm điều đó bằng sức người, cho nên vị phải công nhận đó là nhờ sức mạnh của thần linh, giống như vị biết Samson vác cổng thành là nhờ sức mạnh của Chúa chứ không phải sức mình. Tôi nghĩ vị phải thừa nhận hai điều: Thứ nhất, việc vác cổng thành trên vai của Samson chẳng thể chứng minh được thần của các vị vượt trội hơn thần của chúng tôi; thứ hai, chiến công của Samson chẳng có bằng chứng nào ngoài mấy lời truyền miệng, trong khi chiến công của Hanuman không chỉ có lời truyền miệng mà còn được củng cố, chứng minh bằng một bằng chứng sờ sờ trước mắt, mắt thấy tay sờ được—loại bằng chứng thuyết phục nhất. Chúng tôi có gờ đá cẩm thạch đó, và chừng nào nó còn nằm ở đó, chúng tôi không thể và sẽ không bao giờ nghi ngờ. Thế còn các vị, các vị có giữ được cái cổng thành nào không?’”

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.