Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Khi còn phân vân, cứ nói sự thật.

— *Lịch mới của Pudd’nhead Wilson.*

Đi từ Victoria được khoảng bốn ngày thì chúng tôi đâm sầm vào vùng thời tiết nóng nực, thế là toàn bộ hành khách nam đều diện đồ lanh trắng. Một hai ngày sau, tàu vượt qua vĩ tuyến 25 Bắc, và theo lệnh, các sĩ quan trên tàu cũng cất bộ đồng phục xanh đi để khoác lên mình những bộ đồ lanh trắng tinh. Lúc này thì các quý bà quý cô cũng đã diện sắc trắng toàn tập. Sự thống trị của những trang phục trắng như tuyết làm cho boong dạo chơi trông mát mẻ, vui tươi và tràn ngập không khí dã ngoại thật dễ chịu.

Trích nhật ký của tôi:

Trên đời này có vài kiểu tai quái mà con người ta dù có đi xó trời xó biển nào cũng chẳng thể né nổi. Thoát được kiếp nạn này thì lại vớ ngay phải kiếp nạn khác. Chúng tôi vừa đi xa khỏi vùng đất của những kẻ bốc phét về rắn và những kẻ khoác ác về cá, lòng vừa manh mún chút bình yên tĩnh lặng; thì đùng một cái, lại lọt lưới vào vương quốc của những kẻ bốc phét về gậy boomerang, và thế là nỗi đau khổ lại bám riết lấy chúng tôi. Sĩ quan nhất kể rằng từng thấy một người cố trốn kẻ thù bằng cách núp sau cây; nhưng kẻ thù đã phóng chiếc boomerang vút lên không trung, bay vượt qua cả cái cây, rồi lượn vòng xuống liếm gọn mạng sống của người đó. Một hành khách người Úc lập tức bồi thêm: ông ta từng chứng kiến cảnh này xảy ra với hai người, núp sau hai cái cây—và chỉ bằng một cú phóng. Cú phét này bị tiếp nhận bằng một sự im lặng mênh mông đậm chất nghi ngờ, thế là ông ta củng cố ngay bằng tuyên bố: anh trai ông ta từng thấy boomerang hạ gục một con chim cách xa hàng trăm thước rồi tha về tận tay người ném. Nhưng thôi, đây là những tai quái mà ta phải cắn răng chịu đựng. Chẳng còn cách nào khác.

Thế rồi câu chuyện từ gậy boomerang chuyển sang chủ đề giấc mơ—vốn là một đề tài luôn xôm trò dù ở trên bờ hay dưới nước—nhưng lần này kết quả lại khá nhạt nhẽo. Sau đó, câu chuyện lái sang những trường hợp có trí nhớ siêu đẳng—và lần này thì xôm hơn hẳn. Mọi người nhắc đến Blind Tom, nghệ sĩ piano da đen, và kể rằng anh có thể chơi chính xác bất kỳ bản nhạc nào, dù dài và khó đến đâu, chỉ sau một lần nghe; sáu tháng sau anh vẫn có thể đánh lại chuẩn đét dù trong suốt thời gian đó chẳng chạm vào phím đàn lần nào. Một trong những câu chuyện ấn tượng nhất là do một quý ông từng làm việc trong ban thư ký của Toàn quyền Ấn Độ kể lại. Ông đọc chi tiết từ sổ tay của mình và giải thích rằng ông đã ghi lại ngay sau khi sự việc diễn ra, vì e rằng nếu không đặt bút viết trắng đen rõ ràng thì rồi chính ông cũng sẽ nghĩ mình nằm mơ hoặc tự bịa ra.

Số là Toàn quyền đang đi kinh lý, và trong số các tiết mục mà Maharaja xứ Mysore chuẩn bị để chiêu đãi có một màn diễn xuất về trí nhớ. Toàn quyền cùng ba mươi quý ông trong đoàn tùy tùng ngồi thành một hàng, rồi chuyên gia trí nhớ—một tu sĩ Brahmin thuộc tầng lớp cao—được dẫn vào và ngồi trên sàn trước mặt họ. Ông ta bảo mình chỉ biết hai ngôn ngữ là tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ, nhưng không ngại tiếp nhận bất kỳ ngoại ngữ nào trong các bài kiểm tra trí nhớ. Thế rồi ông ta đưa ra chương trình của mình—một chương trình bá đạo đến mức ngỡ ngàng. Ông đề nghị một quý ông cho ông xin một từ trong một câu tiếng nước ngoài, kèm theo thứ tự của từ đó trong câu. Người ta đưa cho ông từ tiếng Pháp ‘est’ và bảo đó là từ thứ hai trong một câu ba từ. Quý ông tiếp theo cho từ tiếng Đức ‘verloren’ và bảo là từ thứ ba trong câu bốn từ. Ông xin quý ông kế tiếp một chi tiết trong một phép cộng; một người khác một chi tiết trong phép trừ; những người khác cho các chi tiết đơn lẻ trong đủ loại bài toán đố; ông đều ghi nhận hết. Những người ngồi giữa cho ông các từ đơn lẻ trích từ những câu tiếng Hy Lạp, Latinh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý và các ngôn ngữ khác, rồi báo vị trí của chúng. Khi mọi người đã quăng cho ông từng mảnh vụn của các câu tiếng nước ngoài hay từng con số của các phép toán, ông lại rà lại từ đầu để lấy từ thứ hai, con số thứ hai cùng vị trí của chúng; cứ thế, cứ thế tiếp diễn. Ông rà đi rà lại cho đến khi thu thập đủ tất cả các phần của bài toán và tất cả các mảnh của câu văn—và đương nhiên toàn bộ đều xáo trộn lung tung chứ không theo thứ tự chuẩn. Màn thu thập này ngốn mất hai tiếng đồng hồ.

Vị tu sĩ Brahmin lúc này ngồi im lặng suy nghĩ một lúc, rồi bắt đầu đọc lại toàn bộ các câu, xếp các từ vào đúng vị trí chuẩn chỉnh, đồng thời gỡ rối các bài toán đố xáo trộn kia và đưa ra đáp án chính xác cho từng bài một.

Ban đầu, ông ta có nhờ mọi người hãy ném hạnh nhân vào người ông ta trong suốt hai tiếng đó để ông nhớ xem mỗi quý ông đã ném bao nhiêu hạt; nhưng chẳng ai ném cả, vì Toàn quyền bảo rằng bài kiểm tra thế này đã đủ tổn thọ rồi, không cần phải bồi thêm gánh nặng đó làm gì.

Tướng Grant có một trí nhớ tuyệt vời với đủ mọi thứ, kể cả tên tuổi và mặt mũi, và đáng ra tôi cũng có thể đóng góp một câu chuyện kiểm chứng nếu lúc đó tôi nhớ ra. Lần đầu tiên tôi gặp ông là vào đầu nhiệm kỳ Tổng thống đầu tiên của ông. Tôi vừa từ bờ biển Thái Bình Dương đến Washington, vẫn còn là một kẻ xa lạ chẳng ai biết mặt biết tên. Một buổi sáng, khi đang đi qua Nhà Trắng thì tôi gặp một người bạn là Thượng nghị sĩ tiểu bang Nevada. Ông ấy hỏi tôi có muốn diện kiến Tổng thống không. Tôi bảo có chứ, vinh hạnh quá; thế là chúng tôi đi vào. Tôi cứ nghĩ Tổng thống sẽ ở giữa một đám đông, và tôi có thể ngắm nhìn ông trong an lành và an toàn từ một khoảng cách xa, như kiểu một con mèo hoang đứng ngó một vị vua khác vậy. Nhưng vì lúc đó là buổi sáng, và vị Thượng nghị sĩ đã dùng một đặc quyền công vụ mà tôi chưa từng nghe tới—đặc quyền quấy rỡ Giờ Làm Việc của Nguyên thủ Quốc gia. Chẳng mấy chốc, tôi và ông Thượng nghị sĩ đã bước vào phòng, và ở đó chẳng có ai ngoài ba chúng tôi. Tướng Grant từ từ đứng dậy khỏi bàn, đặt bút xuống và đứng trước mặt tôi với nét mặt đanh lại như một người đã không cười suốt bảy năm và cũng chẳng có ý định cười trong bảy năm tới. Ông nhìn thẳng vào mắt tôi—khiến mắt tôi mất sạch tự tin và cụp xuống. Tôi chưa từng đối mặt với một vĩ nhân nào trước đây, nên rơi vào trạng thái tột cùng của sự thối chí và vô dụng. Vị Thượng nghị sĩ lên tiếng:—

“Thưa Tổng thống, tôi xin phép được giới thiệu ông Clemens?”

Tổng thống bắt tay tôi một cái hờ hững rồi buông ra. Ông không nói một lời, chỉ đứng trố mắt nhìn. Trong cơn bối rối, tôi chẳng thể nghĩ ra được điều gì để nói, chỉ muốn độn thổ cho xong. Một sự im lặng gượng gạo, một sự im lặng ảm đạm, một sự im lặng thật kinh hoàng. Thế rồi tôi nghĩ ra một điều, ngước nhìn vào khuôn mặt sắt đá ấy và rụt rè nói:—

“Thưa Tổng thống, tôi—tôi thấy ngại quá. Ông có ngại không?”

Cơ mặt ông giãn ra—chỉ một chút thôi—một tia sáng nhỏ nhoi, một nụ cười thoáng qua như ánh chớp mùa hạ, đến sớm hẳn bảy năm—và ngay khi nụ cười ấy xuất hiện thì tôi cũng đã nhanh chân chuồn mất dạng.

Mười năm trôi qua trước khi tôi gặp lại ông lần thứ hai. Lúc này tôi đã có chút tiếng tăm; và là một trong những người được chỉ định đáp lời chúc thọ tại buổi đại yến tiệc chào đón Tướng Grant ở Chicago—do Quân đoàn Tennessee tổ chức khi ông trở về sau chuyến du ngoạn vòng quanh thế giới. Tôi đến nơi lúc đêm muộn và sáng hôm sau ngủ dậy muộn. Tất cả các hành lang của khách sạn đều đông nghẹt người đứng chờ để được thoáng thấy Tướng Grant khi ông đi qua để đến bục duyệt binh. Tôi chen chân qua dãy phòng khách đông nghịt người, và ở góc nhà, tôi tìm thấy một cửa sổ mở hướng ra một chiếc bục rộng rãi được trang trí cờ hoa và trải thảm. Tôi bước ra đó và nhìn xuống thấy hàng triệu người đang làm tắc nghẽn mọi con phố, hàng triệu người khác nhồi nhét nhau trên khắp các ô cửa sổ và mái nhà xung quanh. Đám đông này nhầm tôi là Tướng Grant nên đã bùng nổ những tiếng reo hò thố sơn; nhưng dù sao đây cũng là một chỗ lý tưởng để xem diễu hành nên tôi cứ đứng lại. Chẳng mấy chốc, tôi nghe thấy tiếng nhạc quân đội vang lên từ xa, và nhìn về phía đầu phố, tôi thấy đoàn diễu hành xuất hiện, rẽ sóng qua đám đông đang reo hò, với Sheridan—nhân vật mang đậm khí chất võ biền nhất của cuộc Chiến tranh—đang cưỡi ngựa dẫn đầu trong bộ lễ phục Trung tướng.

Và giờ đây Tướng Grant, khoác tay Thiếu tá Carter Harrison, bước ra bục, theo sau là ban đón tiếp đi thành từng cặp mang phù hiệu và đồng phục. Tướng Grant trông giống hệt như lần thử thách mười năm trước—vẫn sự tự chủ đầy sắt đá và đồng thau ấy. Ông Harrison đi tới dẫn tôi đến trước mặt Tướng quân và chính thức giới thiệu. Trước khi tôi kịp rặn ra một câu chào hỏi tử tế thì Tướng Grant đã lên tiếng—

“Ông Clemens này, tôi không thấy ngại đâu. Ông có ngại không?”—và nụ cười bảy năm ấy lại một lần nữa lấp lánh trên gương mặt ông.

Mười bảy năm đã trôi qua kể từ ngày đó, và hôm nay, tại New York, các con phố lại nêm chặt người đến để tiễn đưa linh cữu của vị chủ tướng vĩ đại về nơi an nghỉ cuối cùng dưới chân đài kỷ niệm; không gian trĩu nặng tiếng nhạc chiêu hồn và tiếng đại bác gầm vang, và hàng triệu người dân Mỹ đang hướng về người đã hàn gắn Liên bang và lá cờ tổ quốc, người đã mang lại cho chính thể dân chủ một sức sống mới, và như chúng ta hằng hy vọng và tin tưởng, một vị thế vĩnh cửu giữa các thể chế nhân văn của loài người.

Trên tàu chúng tôi có chơi một trò giết thời gian rất tốt—ít nhất là vào buổi tối trong phòng hút thuốc khi cánh đàn ông đang cần lấy lại sức sống sau một ngày stereotype và tẻ nhạt. Trò đó là tiếp sức hoàn thiện các câu chuyện dở dang. Nghĩa là một người sẽ kể toàn bộ câu chuyện trừ đoạn kết, sau đó những người khác sẽ tự bịa ra phần kết theo trí tưởng tượng của mình. Khi tất cả những ai muốn thử sức đều đã thể hiện xong, người xướng chuyện sẽ tung ra đoạn kết gốc—và lúc đó bạn thích chọn bản nào thì chọn. Đôi khi những đoạn kết mới lại hay hơn cả bản gốc. Nhưng câu chuyện thu hút nỗ lực kiên trì, quyết liệt và tham vọng nhất lại là một câu chuyện không hề có kết thúc, thành ra chẳng có gì để so sánh với những đoạn kết mới bịa. Người kể bảo rằng ông chỉ có thể cung cấp tình tiết đến một đoạn nhất định thôi, vì ông cũng chỉ biết đến thế. Ông đã đọc nó trong một tập văn vần cách đây hai mươi lăm năm và bị gián đoạn trước khi đọc đến cuối. Ông hứa sẽ thưởng ngay năm mươi đô la cho bất kỳ ai hoàn thành câu chuyện khiến một ban giám khảo do chúng tôi tự bầu ra cảm thấy hài lòng. Chúng tôi bầu ra ban giám khảo và bắt đầu vật lộn với câu chuyện. Chúng tôi nghĩ ra vô số kết cục, nhưng ban giám khảo đều gạt phắt đi. Ban giám khảo đã đúng. Đó là một câu chuyện mà tác giả của nó có thể đã hoàn thành một cách thỏa đáng, và nếu ông ấy thực sự có may mắn đó thì tôi cũng rất muốn biết đoạn kết nó ra làm sao. Bất kỳ người bình thường nào cũng sẽ thấy điểm hay của câu chuyện nằm ở phần giữa, và hình như chẳng có cách nào chuyển tải cái hay đó về phần kết—nơi mà lẽ ra nó phải thuộc về. Về bản chất, câu chuyện ngắn đó như sau:

John Brown, ba mươi mốt tuổi, ngoan ngoãn, hiền lành, hay e ấp và nhút nhát, sống tại một làng quê yên bình ở bang Missouri. Anh là chủ nhiệm trường Chủ nhật của Giáo hội Trưởng lão. Đó chỉ là một chức danh khiêm tốn; nhưng dù sao cũng là chức danh chính thức duy nhất của anh, nên anh vô cùng tự hào một cách nhún nhường và hết lòng với công việc cùng lợi ích của nó. Lòng tốt cực kỳ của anh thì ai ai cũng biết; thực ra, người ta bảo anh được đúc hoàn toàn từ những động lực thiện lành và sự e ấp; lúc nào cần giúp đỡ là có mặt anh, còn sự e ấp thì lúc cần cũng có mà lúc không cần... anh cũng e ấp luôn.

Mary Taylor, hai mươi ba tuổi, e ấp, ngọt ngào, duyên dáng, cả nết lẫn người đều đẹp đẽ, là tất cả đối với anh. Và anh cũng suýt soát là tất cả đối với cô. Cô đang xiêu lòng, hy vọng của anh đang dâng cao. Mẹ cô thì ngay từ đầu đã phản đối. Nhưng bà cũng đang dao động; anh có thể nhận ra điều đó. Bà đang bị xiêu lòng bởi sự quan tâm ấm áp của anh dành cho hai người già được cô bảo trợ từ thiện và những khoản đóng góp của anh để nuôi dưỡng họ. Đó là hai chị em tội nghiệp, già yếu sống trong một ngôi nhà gỗ ở nơi hẻo lánh trên đường nhánh, cách trang trại nhà Taylor bốn dặm. Một trong hai bà lão bị hâm hâm, đôi khi hơi hung hăng, nhưng không thường xuyên lắm.

Cuối cùng, thời cơ có vẻ đã chín muồi cho một cuộc tổng tấn công, Brown lấy hết can đảm quyết định ra tay. Anh sẽ mang theo một khoản đóng góp gấp đôi bình thường để chinh phục bà mẹ; một khi sự phản đối của bà bị triệt hạ, phần còn lại của cuộc chinh phục chắc chắn sẽ nhanh chóng thành công.

Anh lên đường vào giữa một chiều Chủ nhật êm đềm trong mùa hè êm dịu xứ Missouri, và được trang bị tận răng cho sứ mệnh của mình. Anh mặc toàn đồ lanh trắng, thắt cà vạt ruy băng xanh, và đi đôi bốt bó chặt bóng lộn. Ngựa và xe ngựa của anh là loại xịn nhất mà tiệm cho thuê xe có thể cung cấp. Tấm thảm phủ đùi bằng lanh trắng hoàn toàn mới, có đường viền thêu tay đẹp và tinh xảo không đâu trong vùng sánh bằng.

Khi đi được bốn dặm trên con đường vắng vẻ và đang cho ngựa đi bộ qua một chiếc cầu gỗ, chiếc mũ rơm của anh bị gió thổi bay xuống rạch, trôi dạt rồi mắc kẹt vào một bãi bồi. Anh chẳng biết phải làm sao. Phải lấy lại chiếc mũ, điều đó quá rõ ràng; nhưng làm sao lấy được bây giờ?

Thế rồi anh nảy ra một sáng kiến. Đường xá vắng ngắt, chẳng có bóng người. Đúng rồi, liều một cú xem sao. Anh dắt ngựa vào vệ đường cho nó gặm cỏ; rồi cởi sạch quần áo chất lên xe, vuốt ve con ngựa một chút để tranh thủ lòng trắc ẩn và sự trung thành của nó, rồi vội vàng lao xuống dòng nước. Anh bơi ra và nhanh chóng lấy lại chiếc mũ. Nhưng khi leo lên đến bờ thì... con ngựa đã biến mất!

Chân tay anh muốn rụng rời. Con ngựa đang thong thả đi dạo trên đường. Brown chạy lúp xúp theo sau, miệng thào thào: “Tới, tới, ngoan nào chú em;” nhưng hễ anh tiến lại gần định nhảy lên xe thì con ngựa lại tăng tốc một chút làm anh hụt hẫng. Sự việc cứ thế tiếp diễn, gã đàn ông trần như nhộng suýt chết vì hoảng loạn, mỗi khoảnh khắc đều nơm nớp sợ có người xuất hiện. Anh cứ lẵng nhẵng bám theo, van xin con ngựa, nài nỉ con ngựa, cho đến khi đã đi được cả dặm đường và tiến sát đến khu nhà Taylor; cuối cùng anh mới thành công tóm được chiếc xe và chui vào.

Anh vội vã quăng chiếc áo sơ mi, cà vạt và áo khoác lên người; rồi với tay lấy... nhưng đã quá muộn; anh vội ngồi sụp xuống, kéo tấm thảm phủ đùi lên che kín, vì thấy có người đang từ trong cổng đi ra—một người phụ nữ, anh đoán thế. Anh ngoặt gắt con ngựa sang trái, quất roi phi thẳng lên con đường nhánh. Con đường thẳng tắp, trống trơn cả hai bên; nhưng phía trước cách ba dặm có một khu rừng và một khúc ngoặt gấp, anh mừng rỡ khôn xiết khi đến được đó. Khi quẹo qua khúc ngoặt, anh cho xe đi chậm lại, và với tay lấy chiếc qu... lại quá muộn lần nữa.

Anh đã đụng độ ngay Bà Enderby, Bà Glossop, Bà Taylor và Mary. Họ đang đi bộ, trông có vẻ mệt mỏi và xôn xao. Họ tiến ngay lại chiếc xe, bắt tay anh, người nọ xọ người kia hô hào vội vã, hớn hở bảo rằng thật may mắn làm sao khi anh xuất hiện. Bà Enderby xúc động nói:

“Chuyện anh ấy xuất hiện đúng lúc thế này trông cứ như tình cờ, nhưng xin đừng ai phỉ báng hai chữ tình cờ; anh ấy là do—được ơn trên phái đến đấy.”

Ai nấy đều xúc động, và Bà Glossop nói với giọng kính cẩn:

“Sarah Enderby ơi, cả đời bà chưa bao giờ nói câu nào chuẩn hơn thế. Đây không phải tình cờ, đây là sự An Bài đặc biệt của Ý Trời. Anh ấy được phái đến. Anh ấy là một thiên thần—chính hiệu thiên thần không sai một ly—thiên thần cứu rỗi. Tôi nói là thiên thần đấy, Sarah Enderby, và không dùng từ nào khác đâu. Đừng ai bảo tôi là không có Ý Trời nhé, vì nếu đây không phải Ý Trời thì ai giải thích hộ cái xem nào.”

“Tôi biết đúng là thế mà,” Bà Taylor sốt sắng tiếp lời. “John Brown ơi, tôi có thể thờ phụng cậu; tôi có thể quỳ xuống trước mặt cậu. Chẳng lẽ không có gì mách bảo cậu sao?—cậu không cảm thấy mình được phái đến à? Tôi có thể hôn lên gấu tấm thảm phủ đùi của cậu đấy.”

Anh không thể thốt lên lời; anh bất lực vì xấu hổ và khiếp sợ. Bà Taylor lại tiếp tục:

“Đấy, cứ nhìn toàn bộ sự việc mà xem, Julia Glossop. Ai mà chẳng thấy bàn tay của Ý Trời trong đó. Trưa nay chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy khói bốc lên. Tôi đã lên tiếng bảo ngay: ‘Khói nhà hai bà lão cháy rồi.’ Tôi nói thế đúng không, Julia Glossop?”

“Đúng từng từ bà nói luôn, Nancy Taylor. Tôi đứng sát rạt bà như bây giờ đây này, tôi nghe rõ mùng một. Bà có thể dùng từ nhà tranh thay vì nhà gỗ, nhưng bản chất thì vẫn thế. Lúc đó mặt bà cũng cắt không còn hạt máu nữa.”

“Xanh xao ư? Tôi tái mét đến mức nếu—đấy, cứ so với tấm thảm phủ đùi này thì biết. Thế rồi câu tiếp theo tôi nói là: ‘Mary Taylor, bảo người làm thắng xe ngựa ngay—chúng ta đi cứu hộ.’ Nhưng con bé bảo: ‘Mẹ ơi, mẹ quên là mẹ cho anh ấy đánh xe về thăm quê nghỉ Chủ nhật rồi à?’ Đúng thế thật. Tôi thề là tôi quên khuấy mất. ‘Thế thì,’ tôi bảo, ‘chúng ta đi bộ.’ Và chúng ta đi bộ thật. Rồi gặp Sarah Enderby trên đường.”

“Và tất cả chúng ta cùng đi,” Bà Enderby nói. “Rồi thấy căn nhà đã bị bà lão hâm hâm châm lửa đốt rụi, hai bà lão thì già yếu quá không đi bộ nổi. Chúng ta dắt họ vào chỗ mát, chăm sóc chu đáo nhất có thể, rồi bắt đầu cuống lên không biết làm sao để chở họ về nhà Nancy Taylor. Thế là tôi lên tiếng—tôi nói gì nhỉ? Chẳng phải tôi đã bảo: ‘Ý Trời sẽ an bài’ sao?”

“Ơ chuẩn không cần chỉnh luôn! Thế mà tôi lại quên mất.”

“Tôi cũng quên,” Bà Glossop và Bà Taylor cùng nói; “nhưng bà chắc chắn đã nói câu đó. Thấy kỳ diệu chưa cơ chứ?”

“Đấy, tôi nói đấy. Rồi chúng ta đi đến nhà ông Moseley, mất hai dặm, thì cả nhà họ lại đi dự hội trại bên Stony Fork mất rồi; thế là chúng ta lại cuốc bộ quay lại hai dặm, rồi đi thêm một dặm nữa đến đây—và Ý Trời đã an bài. Mọi người tự mắt thấy rồi đấy.”

Họ nhìn nhau đầy kinh ngạc, giơ tay lên và đồng thanh:

“Thật là ho-àn toàn tuyệt vời.”

“Thế bây giờ,” Bà Glossop hỏi, “mọi người tính sao--để cậu Brown chở hai bà lão về nhà Nancy Taylor từng người một, hay là nhét cả hai bà lên xe rồi cậu ấy dắt bộ?”

Brown há hốc miệng thở dốc.

“Này, đó mới là vấn đề đấy,” Bà Enderby nói. “Mọi người thấy đấy, chúng ta đều mệt bơ xơ rơ rồi, xếp kiểu gì cũng khó. Vì nếu cậu Brown chở cả hai bà, thì ít nhất một người trong chúng ta phải đi ngược lại để giúp cậu ấy, chứ một mình cậu ấy sao bế hai bà già yếu thế lên xe nổi.”

“Đúng thế thật,” Bà Taylor gật gù. “Hay là thế này—một người trong chúng ta đi xe về cùng cậu Brown, còn những người còn lại về nhà tôi chuẩn bị đồ đạc trước. Tôi sẽ đi với cậu ấy. Tôi với cậu ấy phối hợp sẽ nhấc một bà lên xe được; rồi chở bà ấy về nhà tôi và——”

“Nhưng ai sẽ chăm bà còn lại?” Bà Enderby ngắt lời. “Không thể để bà ấy bỏ lại trong rừng một mình được, nhất là lại là bà bị hâm hâm. Đi đi về về là tám dặm đấy nhé.”

Tất cả bọn họ đã ngồi bệt xuống cỏ bên cạnh chiếc xe được một lúc để xả hơi. Họ giữ im lặng một hai phút, vắt óc suy nghĩ về tình huống oái ăm này; thế rồi Bà Enderby sáng mắt lên bảo:

“Tôi nghĩ ra rồi! Mọi người thấy đấy, chúng ta không thể đi bộ thêm bước nào nữa. Nhìn lại xem chúng ta đã đi những đâu: bốn dặm đến đây, hai dặm đến nhà Moseley là sáu, rồi quay lại đây—chín dặm từ trưa đến giờ mà chưa có hạt gì vào bụng; tôi thề là không hiểu sao sống sót nổi; còn tôi thì đói mềm người rồi. Giờ đây, phải có ai đó quay lại giúp cậu Brown—chuyện đó là bắt buộc; nhưng ai đi thì phải được ngồi xe chứ không đi bộ nữa. Nên ý tôi là thế này: một người trong chúng ta ngồi xe quay lại với cậu Brown, rồi chở một bà lão về nhà Nancy Taylor, để cậu Brown ở lại tâm sự với bà còn lại; tất cả mọi người bây giờ về nhà Nancy nghỉ ngơi chờ đợi; sau đó một người đánh xe quay lại đón bà còn lại chở về nhà Nancy, còn cậu Brown thì đi bộ về.”

“Tuyệt vời!” Tất cả cùng reo lên. “Ồ, thế thì chuẩn quá—không thể hoàn hảo hơn.” Ai nấy đều khen Bà Enderby là người đầu óc nảy số nhanh nhất nhóm; và bảo không hiểu sao mình lại không nghĩ ra cái kế hoạch đơn giản này sớm hơn. Mấy tâm hồn ngây thơ chất phác đó chẳng hề có ý đòi lại lời khen, và cũng chẳng biết là mình vừa vô tình tự đá xoáy mình. Sau khi bàn bạc, quyết định đưa ra là Bà Enderby sẽ đi xe quay lại với Brown, bà xứng đáng nhận vinh dự này vì chính bà là người nghĩ ra kế hoạch. Mọi thứ giờ đã được sắp xếp và chốt xong xuôi đâu vào đấy, các quý bà đứng dậy, lòng nhẹ nhõm hạnh phúc, phủi phủi váy vóc, rồi ba người trong số họ bắt đầu rảo bước về nhà; Bà Enderby đặt chân lên bậc xe chuẩn bị trèo lên thì Brown mới tìm lại được chút hơi tàn và thào thào out—

“Xin Bà Enderby, gọi họ quay lại giùm cháu—cháu yếu lắm rồi; cháu không đi bộ nổi đâu, thật đấy.”

“Ơ kìa, cậu Brown thân mến! Trông cậu xanh xao quá; tôi thật xấu hổ vì không nhận ra sớm hơn. Quay lại mau—mọi người ơi quay lại! Cậu Brown không được khỏe. Cậu có cần tôi giúp gì không cậu Brown?—tôi thật sự xin lỗi. Cậu có đau ở đâu không?”

“Không thưa bà, chỉ là yếu thôi; cháu không bệnh, chỉ là tự nhiên yếu quá—mới đây thôi; không lâu đâu, chỉ mới vừa xong thôi.”

Những người khác vội chạy lại, xối xả trút niềm thương cảm và xót xa, tự trách bản thân rối rít vì đã không chú ý xem mặt anh tái nhợt thế nào.

Và họ lập tức chốt ngay một kế hoạch mới, và nhanh chóng đồng ý rằng đây mới là phương án tối ưu nhất. Tất cả sẽ cùng về nhà Nancy Taylor để lo cho Brown trước. Anh có thể nằm trên ghế sofa ngoài phòng khách, và trong khi Bà Taylor cùng Mary chăm sóc anh thì hai quý bà còn lại sẽ lấy xe đi đón một bà lão về, rồi một người ở lại với bà còn lại, và——

Lúc này, chẳng ai mượn, họ đã tự động tiến đến đầu con ngựa và bắt đầu bẻ lái quay đầu xe. Nguy cơ đã sát nách, nhưng Brown lại tìm thấy giọng nói của mình để tự cứu lấy bản thân. Anh nói—

“Nhưng các bà ơi, các bà đang bỏ qua một chi tiết khiến kế hoạch này bất thành rồi. Mọi người xem, nếu các bà chở một người về, và một người ở lại với bà kia, thì sẽ có ba người ở đó khi một trong số các bà quay lại đón người còn lại, vì phải có người đánh xe quay lại chứ, mà xe thì làm sao nhồi ba người về được.”

Tất cả cùng thốt lên: “Ơ, chuẩn-luôn, đúng thế thật!” và thế là họ lại rơi vào bế tắc.

“Trời ơi là trời, làm sao bây giờ?” Bà Glossop kêu lên; “chuyện này rối như vò chà ấy. Bài toán con cáo, con ngỗng với bao ngô các thứ—trời ơi, chẳng là cái đinh gì so với cái này.”

Họ lại mệt mỏi ngồi bệt xuống lần nữa, tiếp tục tra tấn cái đầu tội nghiệp để tìm một kế hoạch khả thi. Một lúc sau Mary đưa ra ý kiến; đây là nỗ lực đầu tiên của cô. Cô nói:

“Con còn trẻ và khỏe, giờ lại hồi sức rồi. Mọi người đưa anh Brown về nhà mình đi, rồi chăm sóc cho anh ấy—mọi người thấy rõ là anh ấy đang cần giúp đỡ rồi đấy. Con sẽ quay lại chăm sóc hai bà lão; con chạy mất hai mươi phút là tới nơi thôi. Mọi người cứ làm theo ý định ban đầu—đứng chờ ở đường chính chỗ nhà mình xem có ai đi xe bò qua không; rồi nhờ họ đến chở cả ba chúng con về. Sẽ không phải đợi lâu đâu; giờ này nông dân sắp đi chợ huyện về rồi. Con sẽ dỗ dành bà Polly cho bà ấy yên tâm—còn bà bị hâm hâm thì chẳng cần dỗ.”

Kế hoạch này được đưa ra thảo luận và chấp thuận ngay; đó có vẻ là cách tốt nhất trong hoàn cảnh này, chứ hai bà lão chắc cũng sắp nản lòng đến nơi rồi.

Brown thở phào nhẹ nhõm, lòng thầm tạ ơn trời đất. Chỉ cần đưa anh ra đến đường chính là anh sẽ tìm ra cách tẩu thoát.

Thế rồi Bà Taylor lên tiếng:

“Trời sắp trở lạnh về chiều rồi đấy, hai bà lão tội nghiệp vừa bị cháy sạch nhà chắc cần cái gì đó để che chắn. Con cầm theo cái thảm phủ đùi này đi, con yêu.”

“Vâng mẹ, để con cầm đi.”

Cô bước đến bên xe và đưa tay ra định lấy tấm thảm——

Và đó là kết thúc của câu chuyện. Vị hành khách kể lại chuyện này bảo rằng khi ông đọc nó cách đây hai mươi lăm năm trên tàu hỏa thì bị gián đoạn đúng ở đoạn đó—vì đoàn tàu lao cmn xuống cầu.

Ban đầu chúng tôi cứ nghĩ sẽ dễ dàng kết thúc câu chuyện thôi, thế là hăm hở bắt tay vào làm với sự tự tin tràn trề; nhưng nhanh chóng nhận ra đây không phải chuyện đơn giản mà cực kỳ hóc búa và bế tắc. Lý do là vì tính cách của Brown—rất hào phóng và tốt bụng, nhưng lại đi kèm với sự nhút nhát và e ấp khác người, đặc biệt là trước mặt phụ nữ. Lại thêm tình yêu của anh dành cho Mary đang trên đà triển vọng nhưng chưa chắc chắn—đang ở cái tầm mà mọi ứng xử phải cực kỳ khéo léo, không được sơ suất, không được làm người ta phật lòng. Rồi còn bà mẹ đang dao động, nửa xiêu nửa không—nhờ vào sự ngoại giao khéo léo không vết xước mà có thể chinh phục được ngay lúc này, hoặc không bao giờ nữa. Chưa hết, hai bà lão bất lực đằng kia trong rừng đang chờ đợi—số phận của họ và hạnh phúc của Brown phụ thuộc vào những gì Brown sẽ làm trong vòng hai giây tới. Mary đang đưa tay với lấy tấm thảm phủ đùi; Brown phải đưa ra quyết định—không còn thời gian để lãng phí nữa.

Đương nhiên ban giám khảo chỉ chấp nhận một kết cục có hậu; đoạn kết phải làm sao cho Brown ghi điểm tuyệt đối trong mắt các quý bà, hành vi không một vết gợn, sự khiêm tốn không bị tổn hại, phẩm chất hy sinh vì người khác được giữ vững, hai bà lão được cứu thoát nhờ anh—người ân nhân của họ, toàn bộ quan khách đều tự hào về anh, hạnh phúc vì anh, lời khen ngợi anh râm ran trên môi mọi người.

Chúng tôi đã cố gắng sắp xếp điều này, nhưng lại vấp phải những khó khăn dai dẳng không thể hòa giải. Chúng tôi nhận thấy tính nhút nhát của Brown sẽ không đời nào cho phép anh buông tấm thảm phủ đùi ra. Làm thế sẽ đắc tội với Mary và mẹ cô; và sẽ làm các quý bà khác kinh ngạc, một phần vì sự bủn rủn keo kiệt này với hai bà lão tội nghiệp hoàn toàn trái ngược với bản chất của Brown, phần khác vì anh là sự An Bài của Ý Trời nên không thể xử sự vô duyên như thế được. Còn nếu bị yêu cầu giải thích hành động của mình, tính nhút nhát lại chẳng cho phép anh nói ra sự thật, mà trình độ bịa đặt lẫn kinh nghiệm yếu kém sẽ khiến anh không thể nảy ra một lời nói dối nào cho lọt tai. Chúng tôi vật lộn với bài toán hóc búa này cho đến tận ba giờ sáng.

Trong khi đó Mary vẫn đang vươn tay lấy tấm thảm phủ đùi. Chúng tôi đành đầu hàng, và quyết định cứ để cô ấy vươn tay mãi như thế. Tùy nghi độc giả tự tưởng tượng xem mọi chuyện diễn biến thế nào.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.