Theo chân đường Xích đạo: Hành trình vòng quanh thế giới

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 53

❊ ❊ ❊

Sự bất kính chân chính là việc không tôn trọng vị thần của người khác.

—Lịch Mới của Pudd’nhead Wilson.

Chính tại Benares, tôi đã diện kiến một vị thần sống khác. Vậy là được hai vị rồi. Tôi tin rằng mình đã chiêm ngưỡng hầu hết những kỳ quan lớn nhỏ trên thế giới này, nhưng chẳng có kỳ quan nào khiến tôi thấy hứng thú đến mức choáng ngợp như hai vị thần đó.

Khi tìm cách lý giải cho cảm giác này, tôi thấy chẳng có gì khó khăn cả. Tôi nhận ra rằng, thông thường, khi một thứ gì đó trở thành kỳ quan đối với chúng ta, thì không phải vì bản thân nó có gì đặc biệt, mà vì người khác đã nhìn thấy những điều đặc biệt ở nó. Chúng ta tiếp nhận hầu hết những "kỳ quan" của mình qua lăng kính của người khác. Chúng ta luôn khao khát được chiêm ngưỡng những danh thắng nổi tiếng—và không bao giờ thất vọng; bởi đặc quyền to lớn được ngắm nhìn một vật thể từng khơi dậy niềm đam mê, lòng sùng kính, tình yêu hay sự ngưỡng mộ của bao thế hệ nhân loại chính là thứ mà chúng ta trân trọng; chúng ta thấy vui sướng tận đáy lòng khi đã được thấy nó, chúng ta cảm thấy mình giàu có hơn về mặt tinh thần mãi mãi nhờ trải nghiệm đó, và chúng ta sẽ không đánh đổi ký ức ấy lấy bất cứ thứ gì. Thế nhưng, khung cảnh đó có thể chỉ là đền Taj Mahal mà thôi. Bạn không thể kiềm chế nổi sự phấn khích, không thể kìm nén cảm xúc khi thấy khối đá cẩm thạch vươn cao ấy đập vào mắt mình. Nhưng đó đâu phải là sự phấn khích hay cảm xúc của riêng bạn—chúng là những cảm xúc và sự phấn khích tích tụ từ hàng ngàn cây bút nồng nhiệt, những người đã âm thầm đổ đầy chúng vào lòng bạn từng ngày, từng năm suốt cả cuộc đời; và giờ đây chúng trào ra như một cơn lũ, nhấn chìm lấy bạn; và bạn chẳng thể nào hạnh phúc hơn dù đó là cảm xúc của chính mình. Rồi dần dà, bạn tỉnh táo lại, và nhận ra rằng mình đã say sưa nhờ "hương thơm" từ cái nút bần của kẻ khác. Dẫu vậy, ký ức về cái nhìn đầu tiên đầy xa xăm của tôi về đền Taj Mahal sẽ mãi bù đắp cho những vất vả mà tôi đã trải qua khi lặn lội khắp địa cầu để hưởng đặc quyền lớn lao đó.

Nhưng đền Taj Mahal—với tất cả sự cường điệu về những cảm xúc hão huyền, những cảm xúc mà bạn có được một cách gián tiếp từ những người mà trong đa số trường hợp, chính họ cũng đang mang những ảo tưởng gián tiếp—một thứ mà may thay bạn đã không nghĩ tới, nếu không bạn có thể đã hoài nghi về những gì bạn ngỡ là của chính mình—thì cái đền Taj đó, xét như một kỳ quan, một cảnh quan và một tuyệt tác nâng tầm tâm hồn, thì thấm tháp gì so với một nhân vật bằng xương bằng thịt, biết nói, biết thở, người mà hàng triệu nhân loại tin tưởng một cách sùng đạo, chân thành và không chút nghi ngờ rằng đó là một vị Thần, và cúi đầu tôn thờ một cách khiêm nhường, biết ơn?

Ông ta sáu mươi tuổi khi tôi gặp. Ông được gọi là Sri 108 Swami Bhaskarananda Saraswati. Đó là một cách gọi. Tôi nghĩ đó là cái tên bạn sẽ dùng khi trò chuyện với ông—vì nó ngắn. Nhưng nếu viết thư cho ông thì bạn phải dùng tên đầy đủ hơn; phép lịch sự đòi hỏi như vậy. Dù vậy, bạn cũng không cần viết hết sạch, chỉ cần chừng này thôi:

Sri 108 Matparamahansrzpairivrajakacharyaswamibhaskaranandasaraswati.

Bạn không cần thêm chữ "Esq." vào sau, vì không cần thiết. Từ mở đầu cho cả tràng dài đó chính là một danh hiệu tôn kính: "Sri". Tôi tin rằng con số "108" đại diện cho những cái tên còn lại của ông. Vishnu có 108 cái tên mà ngài không dùng trong công việc làm ăn, và chắc chắn đó là tập tục của các vị thần, một đặc quyền thiêng liêng thuộc về đẳng cấp của họ là giữ 108 cái tên dự phòng. Chỉ riêng cái tên rút gọn nêu trên đã là một tài sản quý giá, chưa tính đến con số 108 kia. Theo cách đếm của tôi, nó có 58 chữ cái. Điều này khiến những từ dài ngoằng của tiếng Đức hoàn toàn bị loại khỏi cuộc chơi; chúng vĩnh viễn không có cửa so sánh.

Sri 108 S. B. Saraswati đã đạt đến cái mà người Ấn Độ gọi là "trạng thái hoàn hảo". Đó là trạng thái mà những người Ấn Độ khác phải đạt được bằng cách tái sinh hết kiếp này đến kiếp khác, qua bao lần luân hồi—một công việc dài hơi và mệt mỏi kéo dài hàng thế kỷ, thậm chí hàng chục thế kỷ, lại còn đầy rủi ro, như cái rủi ro chết nhầm phía bờ sông Hằng chẳng hạn, rồi tỉnh dậy trong hình hài một con lừa, thế là phải làm lại từ đầu và quay vòng với vô số chuyến đi mới. Nhưng khi đạt đến sự hoàn hảo, Sri 108 S. B. S. đã thoát khỏi tất cả những điều đó. Ông không còn là một phần hay một nhân tố của thế giới này nữa; bản chất của ông đã thay đổi, mọi sự trần tục đã rời bỏ ông; ông hoàn toàn thánh thiện, hoàn toàn thuần khiết; không gì có thể làm hoen ố sự thánh thiện hay vấy bẩn sự thuần khiết này; ông không còn thuộc về thế giới này, những mối bận tâm của thế gian là thứ xa lạ với ông, những nỗi đau, bi kịch và phiền muộn của nó không thể chạm đến ông. Khi ông qua đời, Niết bàn sẽ là của ông; ông sẽ hòa mình vào bản thể của Đấng Tối cao và an nghỉ vĩnh hằng.

Kinh thánh Ấn Độ giáo chỉ rõ cách thức để đạt được trạng thái này, nhưng có lẽ phải ngàn năm mới có một ứng viên làm được. Vị này đã đi hết con đường cần thiết, từng bước một, từ đầu đến cuối, và giờ chẳng còn việc gì để làm ngoài việc chờ đợi tiếng gọi giải thoát ông khỏi một thế giới mà ông không còn chút vướng bận hay ràng buộc nào. Đầu tiên, ông trải qua giai đoạn học trò, trở nên thông thái về kinh điển. Tiếp đến, ông trở thành công dân, chủ gia đình, người chồng, người cha. Đó là giai đoạn thứ hai bắt buộc. Sau đó—giống như nhân vật Christian trong tác phẩm của John Bunyan, ông vĩnh biệt gia đình như quy định, và bắt đầu cuộc hành trình lang thang. Ông đi sâu vào sa mạc và sống một thời gian như một ẩn sĩ. Tiếp theo, ông trở thành kẻ ăn xin, "theo đúng các nghi thức được ghi trong Kinh thánh", và lang thang khắp Ấn Độ, ăn bánh mì của sự khất thực. Một phần tư thế kỷ trước, ông đạt đến giai đoạn thuần khiết. Giai đoạn này không cần quần áo; biểu tượng của nó là sự khỏa thân; ông đã bỏ luôn chiếc khố mình từng mặc trước đó. Giờ đây ông có thể mặc lại nếu muốn, vì không thứ gì có thể làm ông ô uế, nhưng ông không muốn thế.

Tôi tin rằng còn vài giai đoạn khác nữa, nhưng tôi không nhớ rõ. Dù sao thì ông cũng đã vượt qua cả rồi. Trong suốt chặng đường dài đó, ông không ngừng hoàn thiện mình qua việc học hỏi thánh kinh và viết bình luận về chúng. Ông cũng thiền định về Brahma, và hiện tại ông vẫn đang làm thế.

Những bức chân dung phù điêu bằng đá cẩm thạch trắng của ông được bán khắp Ấn Độ. Ông sống trong một ngôi nhà đẹp đẽ, trong một khu vườn rộng lớn, uy nghiêm ở Benares, hoàn toàn phù hợp với đẳng cấp phi thường của ông. Tất nhiên, ông không đi dạo ngoài đường phố. Các vị thần sẽ chẳng bao giờ có thể di chuyển dễ dàng ở bất kỳ quốc gia nào. Nếu một người mà chúng ta công nhận và tôn thờ như thần mà đi dạo trên đường phố của chúng ta, và cái ngày đó được loan báo trước, thì mọi giao thông sẽ bị tắc nghẽn và công việc sẽ ngưng trệ hoàn toàn.

Vị thần này có chỗ ở thoải mái, nhưng xét cho cùng thì cũng khiêm tốn, vì nếu ông muốn sống trong cung điện thì chỉ cần cất lời là các tín đồ sẽ vui vẻ xây dựng ngay. Thỉnh thoảng ông tiếp các tín đồ trong chốc lát, an ủi và ban phước cho họ, họ hôn chân ông rồi ra về hạnh phúc. Đẳng cấp chẳng là gì với ông, vì ông là một vị thần. Với ông, mọi người đều như nhau. Ông gặp ai mình thích và từ chối ai mình muốn. Có lúc ông gặp một vị hoàng tử nhưng lại từ chối một kẻ bần cùng; lúc khác ông lại tiếp kẻ bần cùng mà đuổi hoàng tử đi. Tuy nhiên, ông cũng chẳng tiếp nhiều người thuộc bất kỳ tầng lớp nào. Ông phải dành dụm thời gian cho việc thiền định. Tôi nghĩ ông sẽ tiếp Mục sư Parker bất cứ lúc nào. Tôi nghĩ ông thấy thương cảm cho ông Parker, và ông Parker cũng thấy thương cảm cho ông; và không nghi ngờ gì nữa, sự cảm thông này đều tốt cho cả hai.

Khi chúng tôi đến, chúng tôi phải đứng loanh quanh trong vườn một lúc để chờ đợi, và triển vọng không mấy sáng sủa, vì hôm đó ông đã từ chối cả các vị Maharaja và chỉ tiếp những kẻ lôm côm, còn chúng tôi thì thuộc diện lửng lơ ở giữa. Nhưng rồi, một người hầu bước ra nói rằng mọi chuyện ổn cả, ông sắp ra.

Và quả nhiên, ông bước ra, và tôi đã nhìn thấy ông—đối tượng tôn thờ của hàng triệu người. Đó là một cảm giác kỳ lạ và đầy phấn khích. Tôi ước mình có thể cảm nhận lại luồng cảm xúc đó chảy qua huyết quản thêm lần nữa. Thế nhưng, đối với tôi, ông không phải là thần, ông chỉ là một đền Taj Mahal. Cảm giác phấn khích đó không phải là của tôi, mà nó đến gián tiếp từ hàng triệu tín đồ vô hình kia. Bằng một cái bắt tay với vị thần của họ, tôi đã chạm vào sợi dây dẫn và hứng trọn nguồn năng lượng khổng lồ từ "cục pin" của họ.

Ông cao và gầy, thực ra là hốc hác. Ông có gương mặt thanh tú, đậm chất trí tuệ, và đôi mắt sâu thẳm, nhân hậu. Ông trông già hơn nhiều so với tuổi thật, nhưng lối sống khổ hạnh, thiền định, nhịn ăn và cầu nguyện, cùng cuộc đời khô cằn của một ẩn sĩ và kẻ ăn xin có thể giải thích cho điều đó. Ông hoàn toàn khỏa thân khi tiếp người bản xứ, bất kể đẳng cấp nào, nhưng lần này ông quấn một tấm vải trắng quanh hông, chắc hẳn là để chiều theo định kiến kiểu Âu châu của ông Parker.

Ngay khi tôi bình tâm lại một chút, chúng tôi trò chuyện khá hợp ý, và tôi nhận thấy ông là một vị thần rất dễ mến và thân thiện. Ông đã nghe nói nhiều về Chicago, và tỏ ra quan tâm đến nơi này một cách đáng kinh ngạc, đối với một vị thần. Tất cả là nhờ Hội chợ Thế giới và Đại hội Tôn giáo. Nếu Ấn Độ không biết gì khác về Mỹ, thì họ cũng biết về những sự kiện đó, và sẽ còn nhớ mãi.

Ông đề nghị trao đổi chữ ký, một cử chỉ tinh tế khiến tôi bắt đầu tin vào ông, dù trước đó tôi vẫn còn nghi ngờ. Ông viết chữ ký của mình vào sách của ông, và tôi rất trân trọng cuốn sách đó, mặc dù các dòng chữ chạy từ phải sang trái, nên tôi chẳng đọc được gì. In theo cách đó quả là một sai lầm. Nó chứa đựng những bình luận đồ sộ của ông về thánh kinh Ấn Độ giáo, và nếu tôi hiểu được, tôi cũng sẽ thử tu hành để đạt tới sự hoàn hảo như ông. Tôi tặng ông một bản *Huckleberry Finn*. Tôi nghĩ nó có thể giúp ông thư giãn một chút khi đan xen với việc thiền định về Brahma, vì trông ông có vẻ mệt mỏi, và tôi biết nếu nó không làm ông khá hơn thì cũng chẳng hại gì.

Ông có một học giả đang thiền định dưới quyền mình—Mina Bahadur Rana—nhưng chúng tôi không gặp người đó. Ông ta mặc quần áo và còn rất "thiếu hoàn hảo". Ông ta đã viết một cuốn sách nhỏ về thầy mình, và tôi có giữ cuốn đó. Nó có một bản khắc gỗ hình người thầy và chính ông ta đang ngồi trên một tấm thảm trong vườn. Bức chân dung người thầy thực sự rất tuyệt. Tư thế ngồi chính xác là tư thế mà chính Brahma ưa thích, một tư thế đòi hỏi cánh tay dài và chân dẻo, chỉ có thần thánh và những người diễn xiếc uốn dẻo mới làm được. Trong vườn còn có một bức phù điêu cẩm thạch kích thước thật của Shri 108, S.B.S. Nó khắc họa ông trong cùng tư thế đó.

Ôi chao! Thế giới này thật lạ lùng. Đặc biệt là cái phần Ấn Độ của nó. Người học trò này, Mina Bahadur Rana, không phải là người tầm thường, mà là một người có năng lực và thành tựu xuất chúng, và rõ ràng là ông ta đã có một sự nghiệp xán lạn ở phía trước. Hai mươi năm trước, ông ta từng giữ một chức vụ cao trong chính phủ Nepal tại Tòa Phó vương Ấn Độ. Ông ta là một người có năng lực, được giáo dục, biết suy tư, một người giàu có. Nhưng khao khát cống hiến cuộc đời cho tôn giáo đã thôi thúc, và ông ta đã từ bỏ chức vụ, quay lưng với những phù hoa và tiện nghi của thế gian, ra đi vào nơi tĩnh mịch để sống trong túp lều, nghiên cứu thánh kinh, thiền định về đức hạnh và sự thánh thiện để tìm cách đạt tới những điều đó. Tôn giáo kiểu này cũng giống như của chúng ta. Chúa khuyên những người giàu hãy từ bỏ mọi của cải và theo Ngài trong sự nghèo khó, chứ không phải trong sự tiện nghi của thế gian. Các triệu phú Mỹ và Anh ngày nay vẫn làm điều đó, và qua đó xác nhận với thế giới về sức mạnh to lớn ẩn chứa trong tôn giáo. Thế nhưng, nhiều người vẫn chế giễu họ vì lòng trung thành với nghĩa vụ này, và nhiều người sẽ chế giễu Mina Bahadur Rana và gọi ông ta là gàn dở. Giống như nhiều người Cơ đốc giáo có nhân cách và trí tuệ lớn, ông đã biến việc nghiên cứu Kinh thánh và viết sách bình luận trở thành công việc lao động đầy yêu thương trong suốt cuộc đời mình. Giống như họ, ông tin rằng mình không lãng phí cuộc đời một cách vô ích và khờ dại, mà đó là một sự nghiệp xứng đáng và vẻ vang nhất. Thế nhưng, có rất nhiều người sẽ coi những người kia là những bậc đáng kính ngưỡng, còn ông thì chỉ là một gã gàn dở. Nhưng tôi thì không. Ông có được sự tôn trọng của tôi. Và tôi không trao sự tôn trọng đó như một thứ rẻ rúng tầm thường, mà như một thứ khác biệt và có giá trị. Sự tôn trọng thông thường, sự tôn trọng được từ điển định nghĩa và giải thích, chẳng tốn xu nào cả. Sự tôn trọng đối với những thứ thiêng liêng của chính mình—cha mẹ, tôn giáo, quốc kỳ, luật pháp, và sự tôn trọng đối với niềm tin của chính mình—đó là những cảm xúc mà ta không thể kìm nén được. Chúng đến với ta một cách tự nhiên; chúng là vô thức, giống như hơi thở vậy. Chẳng có công lao cá nhân nào trong việc hít thở cả. Nhưng sự tôn trọng đầy khó khăn, và chứa đựng công lao cá nhân trong đó, chính là sự tôn trọng mà bạn dành cho quan điểm chính trị hoặc tôn giáo của một người mà niềm tin không giống với bạn, dù không ai bắt buộc. Bạn không thể tôn trọng các vị thần hay chính trị của họ, và cũng chẳng ai mong bạn làm điều đó, nhưng bạn có thể tôn trọng niềm tin của họ nếu bạn cố gắng đủ nhiều; và bạn cũng có thể tôn trọng cả chính con người họ nếu bạn cố gắng đủ nhiều. Nhưng điều đó rất, rất khó; gần như là không thể, nên chúng ta hầu như chẳng bao giờ thử. Nếu người đó không tin giống chúng ta, chúng ta bảo họ là gàn dở, và thế là xong. Ý tôi là thời nay thì xong, vì giờ chúng ta đâu còn đốt họ được nữa.

Chúng ta luôn rao giảng đạo đức về sự "bất kính" của người khác, luôn quy kết tội danh này cho người này người kia, và qua đó ngầm ý rằng chúng ta tốt hơn người đó và không phạm phải tội đó. Bất cứ khi nào làm thế, chúng ta đều đang giả tạo, và lời nói của chúng ta chỉ là đạo đức giả; vì chẳng ai trong chúng ta là tôn trọng—theo một cách xứng đáng cả; sâu thẳm trong lòng, tất cả chúng ta đều bất kính. Có lẽ không có ngoại lệ nào cho quy tắc này trên trái đất. Có lẽ không có một ai mà lòng tôn trọng vượt lên trên sự kính trọng những thứ thiêng liêng của chính mình; và vì thế, đó không phải là điều để khoe khoang hay tự hào, vì ngay cả kẻ dã man đồi bại nhất cũng có thứ đó—và cũng giống như những người tốt nhất trong chúng ta, chẳng có gì cao cả hơn thế. Nói thẳng ra, chúng ta coi thường mọi sự tôn kính và mọi đối tượng được tôn kính nằm ngoài phạm vi những thứ thiêng liêng của chính chúng ta. Thế nhưng, thật mâu thuẫn lạ lùng, chúng ta lại bị sốc khi người khác coi thường và làm vấy bẩn những thứ thiêng liêng đối với chúng ta. Giả sử chúng ta bắt gặp một đoạn văn như thế này trên báo chí:

"Hôm qua, một đoàn khách quý tộc Anh đã tổ chức dã ngoại tại Mount Vernon, và ngay trong lăng mộ của Washington, họ đã ăn trưa, hát những bài hát phổ thông, chơi trò chơi, và nhảy các điệu waltz, polka."

Chúng ta có bị sốc không? Chúng ta có cảm thấy bị xúc phạm không? Chúng ta có kinh ngạc không? Chúng ta có gọi hành động đó là sự báng bổ không? Có chứ, tất cả sẽ xảy ra như thế. Chúng ta sẽ lên án những người đó bằng những từ ngữ đanh thép, và gọi họ bằng những cái tên khó nghe.

Và giả sử chúng ta tìm thấy đoạn này trên báo chí:

"Hôm qua, một đoàn triệu phú thịt lợn người Mỹ đã tổ chức dã ngoại tại Tu viện Westminster, và trong nơi thiêng liêng đó, họ đã ăn trưa, hát những bài hát phổ thông, chơi trò chơi, và nhảy các điệu waltz, polka."

Người Anh có bị sốc không? Họ có cảm thấy bị xúc phạm không? Họ có kinh ngạc không? Họ có gọi hành động đó là sự báng bổ không? Tất cả sẽ xảy ra như thế. Các triệu phú thịt lợn sẽ bị lên án bằng những từ ngữ đanh thép; họ sẽ bị gọi bằng những cái tên khó nghe.

Trong lăng mộ tại Mount Vernon nằm tro cốt của người con đáng kính nhất nước Mỹ; trong Tu viện, tro cốt của những người vĩ đại nhất nước Anh; còn ngôi mộ của các ngôi mộ, đắt giá nhất trên trái đất, kỳ quan của thế giới, đền Taj Mahal, đã được một vị Hoàng đế vĩ đại xây dựng để vinh danh ký ức về một người vợ hoàn hảo và người mẹ hoàn hảo, một người không tì vết, người mà tình yêu là chỗ dựa và niềm an ủi của ông, người mà cuộc đời là ánh sáng của thế giới đối với ông; trong đó tro cốt của bà yên nghỉ, và đối với hàng triệu người Hồi giáo ở Ấn Độ, đó là một nơi thiêng liêng; đối với họ, nó cũng như Mount Vernon đối với người Mỹ, cũng như Tu viện đối với người Anh.

Thiếu tá Sleeman đã viết bốn mươi hay năm mươi năm trước (chữ nghiêng là của tôi):

"Tôi xin mạn phép bày tỏ sự phản đối khiêm tốn của mình đối với những bữa tiệc trưa và khiêu vũ đôi khi được tổ chức cho các quý bà, quý ông châu Âu tại trạm dừng chân này, ngay tại lăng mộ hoàng gia; ăn uống và nhảy múa chắc chắn là những điều rất tốt vào đúng dịp, nhưng chúng thật đáng buồn khi diễn ra không đúng chỗ, nhất là trong một ngôi mộ."

Có người Mỹ nào trong số những bữa tiệc trưa đó không? Nếu họ được mời, thì chắc chắn là có.

Nếu những bữa tiệc trưa tưởng tượng của tôi tại Tu viện Westminster và lăng mộ Washington thực sự diễn ra, vụ việc sẽ gây ra một làn sóng hùng biện cay độc về Sự man rợ và Bất kính; và nó sẽ đến từ hai nhóm người mà ngày hôm sau, nếu có cơ hội, họ sẽ sẵn sàng nhảy múa ngay tại đền Taj Mahal.

Khi chúng tôi chào tạm biệt vị thần ở Benares và bắt đầu rời đi, chúng tôi để ý thấy một nhóm người bản xứ đang cung kính chờ đợi ngay bên trong cổng—một vị Rajah từ một nơi nào đó ở Ấn Độ, và vài người có địa vị thấp hơn. Vị thần ra hiệu cho họ lại gần, và khi chúng tôi bước ra, vị Rajah đó đang quỳ và cung kính hôn lên đôi chân thiêng liêng của ngài.

Nếu Barnum mà còn sống—nhưng tham vọng của Barnum đã nghỉ ngơi rồi. Vị thần này sẽ mãi ở lại trong sự bình yên thánh thiện và chốn riêng tư của khu vườn, không bị quấy rầy. Mà dù sao thì Barnum cũng chẳng thể nào có được ngài. Tuy nhiên, ông ta hẳn sẽ tìm được một thứ thay thế đủ dùng.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.