Những cây bạch dương lá vàng cao vút đu đưa dữ dội trong gió khi Hess dừng lại và đỗ chiếc xe cảnh sát ngay bên ngoài cửa chính của Viện Kỹ thuật hình sự. Bước tới quầy lễ tân ở tầng hai, anh chặn đứng bất cứ lời phản đối nào bằng cách chìa phù hiệu của mình ra và tuyên bố rằng anh có một cuộc hẹn. Lát sau, khi Genz xuất hiện, mặc một chiếc áo khoác trắng, anh ta nhìn Hess chằm chằm với vẻ kinh ngạc.
“Tôi cần anh giúp đỡ với một thí nghiệm nhỏ. Sẽ không mất nhiều thời gian đâu, nhưng tôi cần một căn phòng tương đối vô trùng và một chuyên viên giám định có thể sử dụng kính hiển vi.”
“Hầu hết chúng tôi đều làm được việc đó. Có chuyện gì vậy?”
“Trước hết, tôi cần biết liệu tôi có thể tin tưởng anh không. Đây rất có thể chỉ là một việc phí công vô ích, không đáng để tốn thời gian, nhưng tôi không muốn thông tin này lộ ra ngoài.”
Genz, nãy giờ vẫn nhìn Hess với vẻ hoài nghi, nhoẻn miệng cười.
“Nếu anh bóng gió đến những gì tôi đã nói hôm nọ, tôi hy vọng anh hiểu rằng lúc đó tôi cần phải thận trọng.”
“Chà, giờ thì tôi mới chính là người phải thận trọng.”
“Anh nói nghiêm túc chứ?”
“Tôi nói nghiêm túc đấy.”
Genz liếc nhanh ra sau, như thể đang nhớ đến khối lượng công việc trên bàn mình.
“Tôi sẽ giúp anh, nếu chuyện này có liên quan đến vụ án, và không vi phạm pháp luật.”
“Tôi tin là vậy. Trừ khi anh là người ăn chay. Giờ thì, tôi có thể lái xe vào chỗ nào nhỉ?”
Cánh cổng điện tử cuối cùng bên hông tòa nhà trượt mở, và khi Hess đã lùi xe vào trong, Genz nhấn nút đóng cánh cổng lại trước khi những chiếc lá rụng có thể bay vào theo. Căn phòng có kích thước tương đương với một xưởng làm việc của thợ cơ khí. Đó là một trong những phòng giám định xe cộ của Viện, và mặc dù chiếc xe không phải là thứ mà Hess muốn kiểm tra, nhưng nơi này vẫn hoàn toàn hợp với ý anh. Nó có những ngọn đèn neon sáng trưng trên trần và một lỗ thoát nước trên sàn nhà.
“Anh muốn thí nghiệm gì nào?”
“Nếu anh có thể túm lấy một đầu của thứ này.”
Hess mở cốp xe và Genz há hốc miệng sửng sốt khi thấy mình đang nhìn chằm chằm vào một cơ thể nhợt nhạt quấn trong lớp nylon dày, trong suốt.
“Cái gì thế?”
“Một con lợn. Khoảng ba tháng tuổi. Tôi mua nó ở chợ thịt, nó đã được treo trong một kho lạnh cho đến một tiếng đồng hồ trước. Hãy đặt nó lên cái bàn đằng kia.”
Hess cầm lấy hai chân sau của con lợn trong khi Genz ngập ngừng nhấc hai chân trước của nó lên. Họ cùng nhau khiêng con lợn lên cái bàn bằng thép kê dọc theo một mặt của căn phòng. Bụng nó đã được mổ phanh ra và bỏ hết tất cả cơ quan nội tạng; mắt nó đờ dại hướng vào bức tường.
“Tôi nghĩ là tôi không hiểu lắm. Chuyện này không thể liên quan gì đến vụ án được, và nếu đây là một trò đùa thì tôi không có thời gian đâu.”
“Đây không phải là một trò đùa. ‘Anh chàng’ này nặng bốn mươi lăm kí lô, nói cách khác, nó nặng tương đương một đứa trẻ mười một, mười hai tuổi. Nó có một đầu và tứ chi. Mặc dù sụn, cơ và xương của nó hơi khác với của con người, nhưng nó hoàn toàn phù hợp để làm vật so sánh. Sau khi bị phân thây.”
“Phân thây?”
Genz trố mắt nhìn Hess với vẻ ngỡ ngàng. Hess đã trở lại chỗ chiếc xe, lấy ra một tập hồ sơ và một vật dài được bọc kín từ ghế sau. Kẹp tập hồ sơ bên dưới cánh tay, anh xé lớp giấy gói dày của vật thể dài kia, để lộ một thanh mã tấu dài gần một mét.
“Đây chính là thứ chúng ta cần kiểm tra khi phân thây con lợn xong. Thanh mã tấu này gần như giống hệt thanh mã tấu được tìm thấy ở ga ra khu nhà của hung thủ trong vụ án Kristen Hartung, và tôi muốn chúng ta phân thây con lợn càng sát với lời khai của hắn trong cuộc thẩm vấn càng tốt. Cho tôi mượn một cái tạp dề nhé.”
Hess đặt thanh mã tấu và tập hồ sơ vụ án của Kristen Hartung lên mặt bàn thép bên cạnh Genz rồi lấy một cái tạp dề treo trên mắc xuống. Genz nhìn vào bản báo cáo rồi lại nhìn Hess.
“Nhưng tại sao chứ? Tôi tưởng vụ án của Kristine Hartung không liên quan gì. Thulin nói với tôi…”
“Nó không liên quan thật. Nếu có ai hỏi, chúng ta hãy nói rằng mình chỉ đang chặt một con lợn Giáng sinh để cho vào tủ đông thôi. Anh sẽ bắt đầu hay là tôi?”
Vào thời điểm này của tuần trước, Hess sẽ không đời nào hình dung ra cảnh mình phân thây một con lợn, nhưng rồi một chuyện đã xảy ra khiến anh có cách nhìn hoàn toàn khác về vụ sát hại Laura Kjær. Nó chẳng liên quan gì đến cảm giác bứt rứt của anh sau khi đến thăm Magnus ở bệnh viện Glostrup. Nếu một con búp bê người hạt dẻ có dấu vân tay của Kristine Hartung bị bỏ lại ở hiện trường vụ án cùng thời điểm xảy ra án mạng, vậy thì đó phải là một sự trùng hợp hy hữu, nhưng trên chuyến tàu từ bệnh viện Glostrup về nhà, anh thấy mình đang xem xét lại vụ án. Anh không nghi ngờ gì về việc cô bé Hartung đã bị sát hại và phân thây một năm trước, như Thulin đã nói. Làm việc trong lực lượng cảnh sát Đan Mạch không phải là công việc dễ dàng gì, anh biết điều đó từ chính kinh nghiệm của mình, nhưng sự kĩ lưỡng và tốc độ phá án của Ban Trọng án luôn nằm ở top đầu của châu Âu suốt nhiều năm qua. Sinh mạng con người vẫn có ý nghĩa quan trọng ở đất nước này, đặc biệt là sinh mạng của trẻ em, nhất là đó lại là con của một thành viên xuất chúng của quốc hội. Vì Kristine Hartung là con gái của một bộ trưởng nên chắc chắn đã có một cuộc điều tra tỉ mỉ, toàn diện, với các thanh tra, chuyên viên giám định kỹ thuật hình sự, chuyên viên giám định gen, đội SWAT và cơ quan tình báo làm việc suốt ngày đêm. Tội ác gây ra với cô bé có lẽ đã được coi là một cuộc tấn công tiềm tàng vào nền dân chủ, vì thế họ sẽ dồn toàn lực. Về cơ bản, Hess tin tưởng vào cuộc điều tra và kết quả của nó. Nhưng sự trùng hợp ngẫu nhiên kia và cảm giác bứt rứt cứ quấy rầy anh ngay cả khi anh đã trở lại chốn nương náu của mình ở Odin.
Ngày lại ngày trôi qua, mối nghi ngờ theo logic đổ dồn vào anh bạn trai, Hans Henrik Hauge, và Hess đành chấp nhận điều đó. Cuộc điều tra này nằm trong tay Thulin, cô dường như là người vừa kĩ lưỡng vừa kiên trì, rõ ràng đang chuẩn bị rời khỏi Ban Trọng án và leo lên một nấc thang mới trong sự nghiệp. Anh cũng có ấn tượng là cô cực kỳ lạnh lùng, tuy nhiên cũng là do những nỗ lực của anh trong công việc khá là ít ỏi - ngoài chuyến đến thăm Magnus Kjær đầy tính bột phát, và anh đã tận dụng mọi cơ hội để lánh mặt. Anh đã dành phần lớn thời gian để soạn một bản báo cáo nhằm gửi cho sếp anh ở Europol, và anh đã gửi cho François xem nó. Sau một vài chỉnh sửa, cuối cùng cả hai người đều đã nộp báo cáo cho Freimann, và trong thời gian chờ đợi sự đánh giá của ông sếp người Đức, Hess đã bắt đầu sửa sang lại căn hộ của mình. Vì hy vọng rằng mình sắp trở lại với guồng quay công việc ở Europol nên Hess thậm chí đã liên lạc với một tay môi giới bất động sản. Thực ra là vài tay môi giới. Ba môi giới đầu tiên mà anh gọi điện không muốn dính dáng gì đến căn hộ của anh. Môi giới thứ tư thì có, nhưng anh ta cảnh báo Hess rằng đừng mong đợi một kết quả nhanh chóng. Như anh đã biết, tiếng tăm của khu vực này không tốt lắm. “Trừ khi anh là một người Hồi giáo hoặc ốm yếu hoặc chán đời.” Anh ta nói thêm. Đương nhiên, người phụ trách trông nom tòa nhà nhiệt tình quá mức đã thuyết phục được anh cho phép anh ta tham gia vào việc trang hoàng lại căn hộ, và người đàn ông Pakistan nhỏ bé ấy đã cằn nhằn anh suốt trong lúc anh sơn nhà, nhưng quá trình đó đang diễn ra suôn sẻ.
Thế rồi, tối hôm qua, có một chuyện đã xảy ra. Đầu tiên, anh nhận được một cuộc gọi từ La Hay. Một thư ký có giọng nói lạnh lùng đã nói với anh bằng tiếng Anh rằng Freimann muốn có một cuộc họp qua điện thoại với anh vào lúc ba giờ chiều ngày hôm sau, và viễn cảnh đó đã khiến Hess phấn khởi hơn. Sự tiến triển tích cực ấy đã giúp anh có hứng sơn trần nhà, việc mà đáng lẽ anh sẽ chẳng buồn làm nếu không có sự động viên tinh thần này. Thật không may, anh đã hết bìa các tông, vì thế người phụ trách trông nom tòa nhà đã mang đến cho anh một chồng báo cũ lấy từ tầng hầm để trải lên sàn, nhưng ngay khi Hess sơn xong trần khu bếp, anh liếc nhìn xuống dưới chân cái thang và thấy Kristine Hartung đang ngước nhìn anh từ một trong các trang báo.
Sự cám dỗ ấy quá mạnh mẽ, và anh đã cầm tờ báo lên bằng những ngón tay lấm lem vết sơn. “Kristine đang ở đâu?” Nhan đề bài báo viết, và chẳng mấy chốc anh nhận ra mình đang tìm kiếm phần tiếp theo của bài báo ấy, nó nằm giữa những trang báo khác trên sàn nhà bên cạnh nhà vệ sinh. Đó là một bài báo chủ đạo được đăng vào ngày 10 tháng 12 năm ngoái, tóm tắt vụ án và cuộc tìm kiếm thi thể Kristine Hartung mà đến nay vẫn chưa có kết quả. Mặc dù vào thời điểm đó, cảnh sát đã kết luận được những gì xảy ra với Kristine, bài báo này vẫn có một giọng điệu bí ẩn và rùng rợn. Hung thủ - Linus Bekker - đã thú nhận việc tấn công tình dục, sát hại và phân thây cô bé trong cuộc thẩm vấn một tháng trước đó, nhưng các bộ phận cơ thể của cô bé vẫn chưa được tìm thấy, và bài báo còn kèm theo những tấm ảnh đen trắng đầy u ám chụp các sĩ quan cảnh sát đang rà soát cánh rừng. Nó trích dẫn lời của một vài cảnh sát giấu tên rằng có thể lũ cáo, lửng hoặc những loài động vật khác đã bới các mảnh thi thể của cô bé lên và ăn chúng, điều này có thể lý giải cho việc tại sao họ chẳng tìm thấy gì cả. Tuy nhiên, Nylander đã tỏ ra lạc quan, mặc dù ông ta cũng phát biểu rằng thời tiết có thể ngáng trở công việc. Phóng viên đã hỏi ông ta liệu lời thú tội của Linus Bekker có thể là giả không, vì cuộc tìm kiếm mãi vẫn không có kết quả, nhưng Nylander gạt đi ý kiến đó: ngoài lời thú tội của Bekker, họ còn có bằng chứng rõ ràng về việc hắn sát hại và phân thây cô bé, nhưng Nylander không cung cấp thêm bất cứ chi tiết nào.
Hess đã cố sơn tiếp, nhưng cuối cùng anh buộc phải chấp nhận rằng mình cần đến Sở Cảnh sát một chuyến. Một phần là để lấy một chiếc xe vì anh cần đi mua cái máy đánh bóng sàn nhà ở cửa hàng DIY vào ngày hôm sau, nhưng một phần là để tâm trí anh được yên ổn.
Lúc đó là gần mười giờ ngày Chủ nhật, các hành lang vắng tanh vắng ngắt, và anh may mắn gặp được nhân viên hành chính cuối cùng còn ở lại trực. Trên một màn hình ở cuối văn phòng sáng lờ mờ, anh đã đăng nhập vào cơ sở dữ liệu, giải thích rằng anh cần nghiên cứu vụ án Laura Kjær, nhưng ngay khi nhân viên hành chính đi khuất, anh đã tra cứu về Kristine Hartung.
Tài liệu rất đầy đủ. Gần năm trăm người đã được thẩm vấn. Hàng trăm địa điểm đã được rà soát và vô số đồ vật được gửi đi giám định. Tuy nhiên, Hess chỉ đang tìm kiếm bản tổng kết những bằng chứng chống lại Linus Bekker, và điều đó khiến việc tìm kiếm của anh dễ dàng hơn. Vấn đề duy nhất là sau khi đọc nó, tâm trí anh không hề thanh thản như anh mong muốn. Kết quả hoàn toàn trái ngược.
Điều đầu tiên khiến anh băn khoăn là việc phát hiện ra rằng Linus Bekker chỉ trở thành đối tượng tình nghi nhờ một lời tố cáo nặc danh. Đương nhiên, trước đó, vì là một kẻ quấy rối tình dục đã từng bị kết án, hắn đã bị triệu tập để thẩm vấn, nhưng cuộc thẩm vấn ấy chẳng đi đến đâu cả cho đến khi xuất hiện lời tố cáo nặc danh kia, và họ chẳng bao giờ xác định được ai đứng sau lời tố cáo đó. Một điều khác vẫn khiến Hess khó hiểu là việc Bekker khăng khăng rằng hắn không thể nhớ chính xác các địa điểm nơi hắn chôn các mảnh thi thể của cô bé, với cái cớ là lúc đó trời đã tối và đầu óc hắn cực kỳ không bình thường.
Về bằng chứng chống lại Bekker, họ đã tìm thấy món hung khí có vẻ đã được dùng để phân thây Kristine Hartung trong một cuộc lục soát ga ra ở nhà hắn, một căn hộ tầng trệt ở Bispebjerg; rõ ràng đây chính là bằng chứng quyết định mà Nylander ám chỉ trong bài báo nọ. Món hung khí này là một thanh mã tấu dài chín mươi centimet, đã được các chuyên viên giám định gen kiểm tra, và khi đối mặt với sự thật rằng những vết máu tìm thấy trên thanh mã tấu trùng khớp một trăm phần trăm với máu của Kristine Hartung, Bekker đã thú nhận tội ác. Hắn miêu tả lại việc mình lái xe đi theo cô bé vào trong rừng rồi khống chế, quấy rối và siết cổ cô bé. Sau khi quấn thi thể cô bé bằng những cái túi nylon màu đen lấy trong cốp xe, hắn đã lái xe về nhà để lấy thanh mã tấu và một cái xẻng từ ga ra. Tuy nhiên, hắn khăng khăng rằng mình đã bị mất trí nhớ tạm thời, và chỉ có thể nhớ được một vài khoảnh khắc của sự kiện ấy. Hắn nói với họ rằng trời đã sẩm tối khi hắn lái xe chở cái xác đi lòng vòng, cho đến khi dừng lại ở một khu rừng tại Bắc Zealand. Ở đó, hắn đã đào một cái hố, chặt xác cô bé và chôn một phần của nó, có lẽ là phần thân người, rồi tiếp tục đi sâu vào trong rừng và chôn chân tay của cô bé ở chỗ khác. Dựa vào phân tích của các chuyên viên giám định gen rằng thanh mã tấu chắc chắn đã được sử dụng để tấn công Kristine Hartung, vụ án đã được giải quyết.
Tuy nhiên chính bản phân tích về món hung khí ấy đã khiến Hess đi đến chợ thịt vào sáng nay. Trên đường đi xuyên qua thành phố, anh đã dừng lại ở một cửa hàng bán đồ đi săn và đi câu cá gần Gammeltorv mà anh vẫn còn nhớ từ hồi làm việc ở đội án mạng. Cửa hàng này vẫn bán những món vũ khí kỳ lạ, và Hess không thể ngừng tự hỏi liệu điều đó có hợp pháp không. Tại đây, anh đã tìm được một thanh mã tấu, mặc dù nó không giống hệt thanh mã tấu trong vụ án Kristine Hartung, nhưng lưỡi của nó cũng có chiều dài, trọng lượng và độ cong tương tự, và được làm từ cùng một chất liệu. Anh đã phân vân không biết nên nhờ giám định viên nào giúp đỡ với thí nghiệm của mình, nhưng vì anh biết Genz có danh tiếng tốt, ngay cả các chuyên gia của Europol cũng phải công nhận tài năng của anh ta, nên sự lựa chọn đã nghiêng về phía Genz. Sự lựa chọn này còn có ưu điểm là Hess có thể tránh được việc nói chuyện với bất cứ người quen cũ nào.
Họ đã gần chặt xong xác con lợn. Khi Hess vừa tách được một cái chân nữa, lần này là chân trước, với hai cú chặt mạnh, chuẩn xác vào phần khớp bên dưới xương bả vai, anh lau mồ hôi trên trán và bước lùi lại khỏi cái bàn bằng thép.
“Giờ thì làm gì nào? Đã xong chưa?”
Genz, nãy giờ giữ con lợn cho Hess, buông cái chân trước và thân mình của con lợn ra, nhìn vào đồng hồ đeo tay, trong khi Hess giơ thanh mã tấu lên trước ánh sáng để đánh giá tác động của sự tiếp xúc với xương trên lưỡi của nó.
“Chưa đâu. Chúng ta cần cọ sạch nó đã, sau đó, tôi hy vọng anh có một cái kính hiển vi cực tốt.”
“Để làm gì? Tôi vẫn không hiểu chúng ta đang làm gì ở đây.”
Hess không trả lời. Anh thận trọng lướt đầu ngón tay trỏ dọc theo lưỡi của thanh mã tấu.