Hess nhận ra rằng anh đã không nghe mọi người nói gì chừng vài phút. Anh đang ngồi bên trái Thulin ở cái bàn dài trong phòng tác chiến, đôi mắt hờ hững dán chặt vào những ô cửa sổ hướng ra ngoài cái sân tối om. Xung quanh anh là những giọng nói đều đều, căng thẳng, gợi nhắc mọi người về tính cấp bách của tình hình. Anh đã từng tham gia những cuộc họp như thế này. Dù là ở đâu trên thế giới, mọi sự vẫn luôn như vậy khi một vụ bắt cóc xảy ra. Có điều, vụ việc sẽ trở nên nghiêm trọng hơn nhiều khi nạn nhân là con của một chính trị gia lỗi lạc.
Chiếc xe dành cho bộ trưởng của Hartung được phát hiện bị bỏ lại gần năm tiếng đồng hồ trước tại một góc đỗ xe khẩn cấp trên đường cao tốc phía tây nam Copenhagen. Không có dấu vết gì của cậu bé, Benedikte Skans hay Asger Neergaard. Cũng không có yêu cầu gì từ những kẻ bắt cóc. Việc tìm thấy chiếc xe trống không đã dẫn đến một trong những cuộc tìm kiếm lớn nhất trong lịch sử Đan Mạch. Các biên giới, sân bay, nhà ga, cẩu, bến phà và đường bờ biển đều được canh gác và tuần tra, và Hess có cảm giác như toàn bộ đội xe tuần tra của cảnh sát đã được huy động đổ ra các đường phố để rà soát. Quyền chỉ huy chiến dịch được chia sẻ giữa cơ quan tình báo và cảnh sát Copenhagen, thậm chí ngay cả các thành viên của lực lượng tình nguyện cũng bị kéo đi khỏi bàn ăn tối để gia nhập cuộc truy lùng trong không khí ảm đạm của mùa thu. Các đồng nghiệp ở Na Uy, Thụy Điển và Đức đã được báo tin, Interpol và Europol cũng vậy, nhưng Hess hy vọng họ sẽ không tham gia gì trong cuộc tìm kiếm. Nếu các nhà chức trách quốc tế liên lạc với họ thì điều đó có nghĩa là có những dấu hiệu cho thấy những kẻ bắt cóc đã băng qua một vài biên giới, thế thì cơ hội tìm thấy Gustav Hartung sẽ giảm đi đáng kể. Đặc biệt là cơ hội tìm thấy cậu còn sống. Theo kinh nghiệm thực tế, trong các trường hợp bắt cóc, cơ hội lớn nhất để tìm thấy người là trong hai mươi tư giờ đầu tiên, khi các dấu vết vẫn còn rõ rệt. Tuy nhiên, theo từng ngày trôi qua, cơ hội ấy sẽ giảm đi, và từ các số liệu thống kê ở La Hay, Hess biết rằng sự ước lượng này căn cứ vào các trường hợp trẻ em bị mất tích ngoài đời thực. Anh cố gắng không nghĩ đến vụ bắt cóc mà anh đã tham gia vài năm trước, đòi hỏi sự hợp tác của cảnh sát Đức và Pháp. Một cậu bé hai tuổi ở Karlsruhe đã biến mất, và kẻ bắt cóc nói tiếng Pháp đã đòi hai triệu euro tiền chuộc từ cha cậu, một giám đốc ngân hàng người Đức. Hess đã có mặt trong cuộc trao đổi ấy, nhưng thủ phạm chẳng đến lấy tiền ở nơi chỉ định, và một tháng sau, họ tìm thấy thi thể của cậu bé trong một cái cống nằm cách ngôi nhà của viên giám đốc ngân hàng chỉ năm trăm thước. Kết quả khám nghiệm pháp y cho thấy sọ của cậu bé đã bị nứt, có lẽ vì kẻ bắt cóc đã đánh rơi cậu xuống đường gần chỗ nắp cống khi hắn bỏ chạy khỏi địa điểm ấy vào cái ngày hắn bắt cóc cậu. Họ chẳng bao giờ tìm ra hung thủ.
May mắn thay, trường hợp của Gustav Hartung lại khác, và vẫn có cơ sở để lạc quan. Các thanh tra hiện đang thẩm vấn những người đồng nghiệp của Asger Neergaard ở Bộ và Christiansborg cũng như các đồng nghiệp của Benedikte Skans ở bệnh viện Rigshospital. Tính đến thời điểm này, không ai có thể suy đoán cặp đôi ấy đã mang cậu bé đi đâu, nhưng vẫn còn quá sớm để loại trừ khả năng họ vẫn đang ở cùng cậu bé. Những tấm ảnh của Gustav Hartung đầy rẫy trên các bản tin, vì thế những kẻ bắt cóc sẽ khó có thể đi lại cùng cậu ở nơi công cộng. Điều này vừa có lợi vừa có hại. Có lợi vì hầu hết mọi người sẽ nhanh chóng nhận ra Gustav Hartung và báo cho chính quyền nếu họ nhìn thấy cậu. Có hại vì điều này sẽ gây áp lực lớn lên những kẻ bắt cóc, dễ dẫn họ đến một quyết định tai hại trong lúc bốc đồng. Vấn đề này đã trở thành chủ đề tranh cãi dữ dội giữa các sĩ quan cảnh sát cấp cao và các nhân viên tình báo, nhưng cuối cùng vẫn chẳng đi đến đâu cả. Gia đình Hartung đã kiên quyết yêu cầu cảnh sát phát đi thông báo tìm kiếm cậu bé, dập tắt mọi sự tranh cãi. Hess hiểu rõ quyết định của họ. Một năm trước, gia đình họ đã phải trải qua một cơn ác mộng mà đến nay họ gần như vẫn chưa thoát ra được, và bây giờ một cơn ác mộng khác lại bắt đầu. Họ không thể bỏ qua bất cứ cơ hội nào để lần ra dấu vết của cậu bé. Bên cạnh, anh nghe thấy giọng nói mất kiên nhẫn của Thulin với Genz, người đang cập nhật tin tức cho họ từ vị trí của mình ở Viện Kỹ thuật hình sự qua loa ngoài trên chiếc điện thoại di động được đặt trên bàn của Nylander.
“Nhưng không có tin tức gì về việc lần theo dấu vết điện thoại của họ sao?”
“Đúng vậy. Cả Benedikte Skans lẫn Asger Neergaard đều không bật điện thoại của mình lên từ lúc 4 giờ 17 phút chiều nay, tôi nghĩ có thể đó chính là thời điểm bắt cóc. Có thể họ còn có những chiếc điện thoại không đăng ký khác, nhưng chúng ta không thể…”
“Còn iPad hoặc laptop ở nhà họ thì sao? Có ít nhất một chiếc iPad và một chiếc laptop Lenovo, có thể có các biên lai điện tử cho việc mua vé máy bay, nhà hoặc tàu hỏa. Hoặc có bất cứ biên lai thanh toán thẻ tín dụng nào không?”
“Như tôi nói đây, chúng tôi chưa tìm thấy thứ gì hữu ích cả. Sẽ mất một thời gian để truy cập vào các tệp tin bị xóa trên chiếc Lenovo, bởi vì nó đã bị hư hại và…”
“Vậy là anh chưa kiểm tra được gì cả. Genz, chúng ta không có thời gian cho chuyện này đâu! Nếu trên chiếc Lenovo có những tập tin bị xóa, vậy thì tất cả những gì anh cần làm là chạy một chương trình khôi phục để mở chúng. Ý tôi là, vì Chúa…”
“Thulin, Genz biết mình phải làm gì. Genz, hãy báo cho tôi biết tin ngay khi anh tìm thấy thứ gì đó nhé.”
“Đương nhiên rồi. Tôi tiếp tục làm việc đây.”
Nylander ngắt máy và bỏ lại điện thoại vào trong túi. Thulin đang đứng như một võ sĩ quyền anh vừa nghe nói rằng cô không được phép lên võ đài.
“Còn gì nữa không? Tiếp tục nào.” Nylander nói. Jansen đẩy quyển sổ ghi chép đang đặt trên bàn về phía trước.
“Tôi đã nói chuyện với những người ở trại tâm thần tại Roskilde. Không có thông tin gì mà chúng ta có thể sử dụng ngay bây giờ cả, nhưng chắc chắn đầu óc Benedikte Skans đã có vấn đề trong một thời gian từ lúc con cô ta chết. Một trong các bác sĩ tham vấn khẳng định rằng cô ta đã bình phục hoàn toàn trongquá trình điều trị ở trại, nhưng không thể loại trừ khả năng cô ta vẫn có hành vi bạo lực. Hay ho gớm. Thế mà người ta cũng yên tâm cho cô ta làm việc ở khoa Nhi cơ đấy.”
“Vậy là chúng ta không biết cô ta đang ở đâu. Còn về Asger Neergaard thì sao?”
“Cựu quân nhân, ba mươi tuổi, từng được điều động đến Afghanistan hai lần để lái xe với đơn vị chiến đấu số 7 và 11. Hồ sơ đẹp, nhưng khi chúng tôi bắt đầu hỏi các đồng đội cũ cùng doanh trại với anh ta, một số người nói họ nghĩ anh ta rời quân ngũ không chỉ vì đã chán ngấy nó.”
“Nói rõ ra xem nào.”
“Một số người nói anh ta bị run tay và tránh tiếp xúc với những người khác. Anh ta đã trở nên nóng nảy, hung hăng, ngoài ra còn có một vài dấu hiệu khác của chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn, mặc dù anh ta chắc chắn chưa bao giờ điều trị bệnh đó. Tôi không hiểu tại sao cơ quan tình báo lại có thể tuyển anh ta làm lái xe cho Bộ trưởng và tôi cho rằng một, hai người sẽ phải chịu trách nhiệm cho chuyện này.”
“Nhưng không có ai trong số những người anh đã hỏi chuyện biết anh ta có thể đang ở đâu?”
“Vâng. Cả bà mẹ cũng không biết. Chí ít là bà ta nói vậy.”
“Vậy thì chúng ta hãy dừng cuộc họp ở đây và tiếp tục điều tra. Chúng ta chưa thu được manh mối gì cả, và điều đó không tốt chút nào. Không còn nghi ngờ gì về động cơ trong vụ Hartung, vì thế chúng ta cần dồn hết sức lực để tìm kiếm cậu bé. Bây giờ, chúng ta sẽ tạm thời chuyển các nhân lực trong cuộc điều tra bốn vụ giết người mà cặp đôi ấy đã thực hiện sang đội tìm kiếm, cho đến khi cậu bé bình an vô sự.”
“Nếu quả thực họ đã thực hiện những vụ giết người đó.”
Đây là lần đầu tiên Hess lên tiếng trong suốt cuộc họp, và Nylander nhìn anh như thể anh là một người lạ ở cửa muốn đi vào trong. Hess tiếp tục trước khi cánh cửa đóng lại.
“Cho đến giờ này, trong nơi ở của cặp đôi đó chẳng có thứ gì cụ thể để chỉ ra rằng họ là hung thủ của những vụ giết người kia. Họ đã gửi những lời đe dọa cho Rosa Hartung, lên kế hoạch và thực hiện vụ bắt Các con trai bà ấy. Nhưng ở đó chẳng có gì liên quan đến ba nạn nhân nữ, và Asger Neergaard có bằng chứng ngoại phạm cho ít nhất là một vụ giết người trong số đó - theo cơ quan tình báo, vào thời điểm Anne Sejer-Lassen bị sát hại, anh ta đang đứng cùng Rosa Harrung và thư ký của bà ấy ở một cái sân gần Bộ.”
“Nhưng Benedikte Skans thì không?
“Đúng vậy, nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là cô ta đã giết Anne Sejer-Lassen. Dù sao đi nữa, động cơ của họ là gì chứ?”
“Tôi không muốn nghe thêm bất cứ lời bào chữa vớ vẩn nào cho chuyến đến gặp Linus Bekker của anh nữa. Benedikte Skans và Asger Neergaard là những đối tượng tình nghi hàng đầu của chúng ta, và chúng ta sẽ bàn đến “chuyến du ngoạn nho nhỏ” của anh sau.”
“Nhưng không phải là tôi đang cố bào chữa…”
“Hess, nếu anh và Thulin dành thời gian của mình một cách khôn ngoan để kiểm tra các hồ sơ ở Bộ thì anh có thể đã tìm ra Skans và Neergaard sớm hơn, trong trường hợp đó, Gustav Hartung có thể sẽ không bị bắt cóc! Anh có hiểu tôi đang nói gì không?”
Hess im lặng. Anh cũng đang nghĩ như vậy, và trong một thoáng, anh cảm thấy tội lỗi, mặc dù anh biết như thế là không công bằng. Nylander rời khỏi phòng, Jansen và những người còn lại nối gót ông ta, trong khi Thulin nhấc áo khoác lên từ cái ghế đằng sau cô.
“Bây giờ, điều quan trọng là tìm ra cậu bé. Nếu họ không giết người, chúng ta sẽ tìm ra kẻ nào là thủ phạm.”
Cô không đợi câu trả lời. Hess nhìn cô bước đi dọc theo hành lang, rồi, qua các ô kính, anh nhìn các thanh tra đang hối hả, sốt sắng đi lại ngoài kia với năng lượng và sự quyết tâm mà họ có được mỗi khi một vụ án sắp đến hồi kết thúc. Nhưng Hess không thể có chung cảm giác đó với họ. Anh có cảm giác như những sợi dây điều khiển rối vẫn đang treo trên trần, và khi đứng dậy, anh liền đi ra ngoài và hít thở chút không khí trong lành.
Asger thường không gặp trở ngại gì khi đi trong bóng tối. Đôi mắt hắn thích nghi rất nhanh, và hắn thường cảm thấy bình tĩnh và tự chủ, ngay cả khi lái xe với tốc độ cao trong cơn mưa tầm tã, như lúc này.
Ở Afghanistan, hắn thực sự thích lái xe vào ban đêm. Đôi khi việc vận chuyển các binh lính hoặc quân nhu từ trại lính này sang trại lính khác phải được thực hiện sau khi mặt trời lặn, và các đồng đội lái xe của Asger cho rằng những chuyến đi ấy thật nguy hiểm, nhưng hắn lại luôn nghĩ khác. Nói chung, hắn thích ngồi sau vô lăng. Vào những lúc ấy, có vẻ như tâm trí hắn trở nên tĩnh lặng và tầm nhìn của hắn thay đổi theo nhịp điệu đổi thay của khung cảnh xung quanh. Nhưng ở Afghanistan, hắn nhận ra rằng hắn thích lái xe vào ban đêm nhất. Ngay cả khi có ít thứ để ngắm nhìn hơn. Bóng tối mang lại cho hắn cảm giác được chở che, mang lại cho hắn sự điềm tĩnh và cân bằng mà hắn thiếu, nhưng lúc này nó không còn như thế nữa. Con đường tối như hũ nút được cánh rừng rậm rạp bao bọc ở cả hai bên, và mặc dù không thể nhìn thấy nó, hắn có cảm giác mối nguy hiểm đang chực chờ nhảy xổ ra từ trong màn đêm đen kịt vào bất cứ giây phút nào và nuốt chửng hắn. Da hắn râm ran như bị kim châm và áp lực trong tai hắn cứ tăng dần lên, và hắn nhấn chân ga như thể đang cố trốn thoát khỏi cái bóng của chính mình.
Các chốt chặn của cảnh sát mọc lên ở khắp nơi, và họ đã phải đối hướng liên tục. Đầu tiên, họ hướng đến hải cảng ở Gedser, rồi chuyến phà đi Thụy Điển ở Helsingør, nhưng cả hai lần họ đều thấy xe cảnh sát hú còi inh ỏi vượt qua mình, và không khó để đoán được điểm đến của chúng là đâu. Giờ thì Asger định đi đến Sjallands Odde, nơi có những chuyến phà rời khỏi mũi bán đảo. Nếu đi trên cầu Storebltsbroen thì lộ liễu quá nên hắn đã không tính đến phương án đó, nhưng Asger hy vọng chuyến phà tới Jutland có thể không bị canh gác, mặc dù hắn biết rất khó có khả năng đó. Đầu hắn quay cuồng nghĩ xem họ nên làm gì nếu con đường đó cũng bị chặn, nhưng hắn không có phương án tiếp theo, còn Benedikte thì đang ngồi lầm lì và u sầu ở ghế phụ.
Asger vốn không thích mang thằng nhóc phiền toái này theo, nhưng hắn chẳng ý kiến nửa lời. Hắn hiểu. Nếu bỏ cuộc, toàn bộ công sức của họ sẽ hóa thành trò hề; và ả Bộ trưởng quỷ cái kia sẽ không bao giờ hiểu được ả đã gây ra chuyện gì. Ả cũng phải nếm trải cảm giác như dưới địa ngục chứ, và Asger chẳng thấy tội lỗi gì khi bắt cóc thằng nhỏ. Giờ nó đang bị quăng quật ở khoang sau chiếc xe van, và nó phải “cảm ơn” mẹ nó vì điều đó.
Asger đạp phanh. Trong một thoáng, hắn cảm thấy chiếc xe trượt đi một cách mất kiểm soát trên mặt đường nhựa trơn ướt, cho đến khi hắn nhả chân phanh và cho chiếc xe chạy thẳng trở lại. Xa xa trên con đường, hắn nhìn thấy ánh đèn xanh chớp nháy rực rỡ giữa những rặng cây đang nhỏ nước tong tỏng, và mặc dù không thể nhìn thấy những chiếc xe cảnh sát, hắn biết chúng đang đợi hắn ở một chốt chặn sau khúc quành tiếp theo. Hắn tấp xe vào lề đường, giảm tốc cho đến khi chiếc xe dừng hẳn lại.
“Chúng ta đang làm cái quái gì vậy?”
Benedikte không đáp. Asger quay đầu xe và bắt đầu phóng ngược trở lại con đường vừa đi vừa liệt kê thật to các lựa chọn của họ.
Cuối cùng Benedikte cũng cất tiếng, nhưng lựa chọn của cô ta lại là điều mà hắn không ngờ đến. “Vào trong rừng đi. Ở lối rẽ tiếp theo.”
“Sao lại vào đó? Chúng ta sẽ làm gì trong đó?”
“Em nói là rẽ vào rừng”
Khi họ tới lối rẽ tiếp theo, Asger cho xe quành vào trong rừng, và chẳng mấy chốc họ đã đi trên một con đường trải sỏi vừa nhỏ vừa gồ ghế. Rồi hắn hiểu ra Benedikte muốn gì. Đương nhiên cô ta đã nhận ra họ đang bị bao vây, vì thế bây giờ họ nên làm điều sáng suốt duy nhất: đó là chui thật sâu vào trong rừng để ẩn náu, chờ cho”cơn bão” tan đi. Asger từng là lính, vì thế đáng lẽ hắn phải nghĩ ra điều này mới phải, nhưng như mọi lần, Benedikte luôn là người tìm ra giải pháp. Sau chừng ba, bốn phút, trước khi khu rừng trở nên rậm rạp theo đúng ý Asger, Benedikte đột ngột bảo hắn dừng lại.
“Chưa, chưa được đâu. Chúng ta cần đi sâu hơn nữa. Họ sẽ nhìn thấy chúng ta nếu họ.”
“Dừng xe. Dừng xe ngay!”
Asger nhấn phanh, và chiếc xe dừng lại với một tiếng rít chói tai. Hắn tắt động cơ nhưng vẫn để đèn pha sáng. Benedikte ngồi yên tại chỗ trong một thoáng. Hắn không thể nhìn thấy mặt cô ta, chỉ nghe thấy tiếng cô ta thở và tiếng mưa gõ lộp độp trên nóc xe. Cô ta mở hộc để đồ và lấy ra thứ gì đó trước khi mở cửa xe.
“Em đang làm gì thế? Chúng ta không có thời gian để dừng lại ở đây đâu!”
Cánh cửa bên phía Benedikte đóng sầm lại, và trong một thoáng Asger ngồi trong buồng lái, lắng nghe âm vang từ giọng nói của chính mình. Trong ánh đèn pha, hắn thấy cô ta đi vòng qua đằng trước của chiếc xe, và khi cô ta vòng qua phía cửa chỗ ghế lái, anh ta mở nó ra theo bản năng và xuống xe.
“Em đang làm gì thế?”
Benedikte lách qua người anh ta, quả quyết bước tới chỗ cánh cửa trượt ở khoang sau của chiếc xe van. Asger lờ mờ nhìn thấy vật thể sắc bén trong bàn tay phải của cô ta, và nhớ ra rằng sáng hôm đó hắn đã để con dao đa năng trong hộc để đồ khi hắn lấy chiếc xe từ hãng Hertz. Hắn chợt nhận ra cô ta muốn gì, và mặc dù hắn ngạc nhiên vì hóa ra mình cũng có lòng trắc ẩn đối với thằng quỷ nhỏ, hắn vẫn tóm lấy Benedikte. Hắn cảm nhận được cô ta khỏe ra sao, cô ta muốn làm chuyện này nhiều đến mức nào.
“Buông em ra! Em bảo anh, buông em ra!”
Họ giằng co với nhau trong bóng tối, và Asger cảm thấy con dao cứa vào chỗ nào đó ở háng hắn khi cô ta cố vùng ra.
“Nó chỉ là một thằng bé! Nó chẳng làm gì chúng ta cả!”
Dần dần hắn cũng kéo được cô ta sát vào người mình. Hai cánh tay cô ta buông thống và cô ta bắt đầu nức nở. Những giọt nước mắt không kìm được tuôn xuống như mưa trên mặt cô ta, và Asger không biết họ đứng đó trong bao lâu, nhưng có cảm giác như một đời đã trôi qua. Đó là khoảnh khắc tuyệt vời nhất mà họ có trong suốt một khoảng thời gian dài đằng đẵng. Hắn biết Benedikte đã nhận ra điều mà chính hắn cũng đã nhận ra. Các lực lượng đang bày binh bố trận vây bắt họ quá đông đảo, nhưng họ còn có nhau. Hắn không thể nhìn thấy mặt cô ta, nhưng cô ta không còn rơi nước mắt nữa, và hắn tước con dao khỏi tay cổ ta, ném nó xuống mặt đất.
“Chúng ta sẽ thả thằng bé. Sẽ dễ dàng hơn nếu chỉ có hai chúng ta, và ngay khi nó tìm thấy lũ cớm, chúng sẽ nới lỏng sự vây ráp hơn một chút. Đúng không nào?”
Asger tin chắc mọi chuyện sẽ tốt đẹp. Benedikte đang ở trong vòng tay hắn. Hắn vuốt ve khuôn mặt cô ta và hôn lên những giọt nước mắt của cô ta, cảm thấy cô ta gật đầu và sụt sịt. Cô ta vẫn đang nắm chặt tay hắn, vì thế hắn dùng bàn tay còn lại để kéo cánh cửa trượt của chiếc xe sang một bên. Nếu hắn nói cho thằng bé biết phải đi về hướng nào, nó sẽ tới được chốt chặn gần nhất của cảnh sát trong vài tiếng đồng hồ nữa, và điều đó sẽ cho Asger và Benedikte khoảng thời gian mà họ cần.
Bỗng có tiếng động khiến Asger sưng lại và liếc nhìn quanh không gian u tối với vẻ cảnh giác. Đó là âm thanh văng vẳng của một động cơ đang tiến lại gần. Hắn nhìn ngược lại con đường họ vừa đi, vẫn nắm tay Benedikte. Cách chừng năm mươi thước, một cặp đèn pha ô tô loang loáng phản chiếu trong những vũng nước trên đường, và chẳng mấy chốc hắn và Benedikte đã bị ánh sáng rọi thẳng vào người, hấp háy mắt. Chiếc xe dừng lại. Sau khi người lái xe quan sát họ một lát, động cơ và sau đó là đèn pha đều được tắt đi.
Giờ thì con đường hoàn toàn tối om. Một ngàn ý nghĩ bùng nổ trong đầu Asger, Đầu tiên, hắn nghĩ đó là một chiếc xe cảnh sát không mang dấu hiệu đặc trưng, nhưng cảnh sát sẽ không điềm tĩnh như vậy trong một tình huống như thế này, và trong một thoáng hắn nghĩ đó có thể là một nông dân hoặc kiểm lâm viên. Rồi hắn chợt nghĩ ra rằng lý do duy nhất để ai đó lái xe trên con đường trải sỏi này vào giờ này là để tìm họ. Nhưng làm gì có ai nhìn thấy họ rẽ vào trong rừng chứ, và hắn đã tắt điện thoại từ lâu để đảm bảo rằng không ai có thể lần theo tín hiệu điện thoại của họ rồi cơ mà.
Asger cảm thấy bàn tay Benedikte căng cứng trong bàn tay hắn, và khi nghe thấy tiếng của xe mở ra, hắn cất lên một câu hỏi trong bóng tối, nhưng không thấy tiếng trả lời.
“Ai đấy?” Asger lặp lại. Từ những bước chân đang lại gần, hắn nhận ra hắn sẽ sớm biết được thôi, và hắn lập tức cúi xuống nhặt con dao trên thảm cỏ.
Thulin đổ rác lên hai tờ báo lót trên sàn phòng bếp, rồi lấy một cái dĩa từ ngăn kéo và bắt đầu bởi chúng. Cô đang đeo găng tay cao su, và mùi của thức ăn ôi thiu cùng những đầu mẩu thuốc lá và đồ hộp xộc thẳng vào mũi cô hôi rình khi cô mở những tờ biên lai bám đầy chất bẩn, hy vọng chúng sẽ tiết lộ nơi cặp đôi kia đang chạy trốn. Trước đây, Genz và các giám định viên kỹ thuật hình sự đã lục soát toàn bộ nơi này, song Thulin thích tự mình kiểm tra hiện trường. Nhưng chẳng có gì cả. Chỉ có những món đồ thường ngày mua ở siêu thị và biên lai giặt khô, có lẽ là để giặt bộ quần áo mà Asger Neergaard đã mặc khi hắn lái xe chở Rosa Harung. Thulin để mặc đống rác trên những tờ báo lót ở đấy và tiếp tục đi kiểm tra. Cô đang có mặt tại khu vực có thể ở được của lò mổ cũ, và ngoài có cùng một số đơn vị tuần tra đang giám sát các tòa nhà từ một khoảng cách không xa, nơi này chẳng còn ai khác. Tính đến giờ này, cô phải thừa nhận rằng Genz và người của anh ta đã làm công việc của mình một cách hoàn hảo. Ở đây chẳng có thứ gì cho thấy cặp đôi trẻ kia có bất cứ nơi nào khác để ở, cũng không có bất cứ dấu hiệu nào cho thấy họ đã tính toán các lộ trình bỏ trốn hoặc những nơi ẩn náu khác. Lúc nãy Genz đã xác nhận rằng một trong những kho lạnh ở khu chế biến cũ của lò mổ đã được trang bị một cái đệm trên sàn, một cái chăn, một bồn cầu di động và vài cuốn tạp chí Vịt Donald - rõ ràng đó là nơi cặp đôi này dự tính giam giữ Gustav Hartung Thulin rùng mình trước ý nghĩ ấy; tuy nhiên, từ những gì cô quan sát được trong nhà, không có dấu vết gì cho thấy họ đang đối mặt với những tên sát nhân máu lạnh. Ít nhất là không phải theo cái cách mà có hình dung ra chúng. Rõ ràng Asger Neergaard sống ở đây chứ không phải trong căn phòng mà hắn được cho là đang thuê từ một đồng đội cũ, và hắn thích đọc loại truyện tranh Nhật Bản có hình phụ nữ khỏa thân.
Nhưng đó chỉ là thứ cơ bản nhất mà cô tìm thấy trong số đồ đạc của hắn. Nhìn qua, đám đồ đạc này có vẻ tiết lộ nhiều hơn về tính cách của hắn. Hắn thích những bộ phim sitcom của thập kỷ bảy mươi và những bộ phim điện ảnh Đan Mạch cũ với sự tham gia diễn xuất của Dirch Passer và Ove Sprogøe; điều hay ho nhất mà ta có thể nói về những bộ phim này là chúng đều có bối cảnh ở một kỷ nguyên rực rỡ với những cánh đồng xanh ngát và những lá cờ Đan Mạch bay phấp phới. Hắn đã mở chúng bằng một cái đầu máy DVD phủ đầy bụi bặm và xem chúng trên một cái ti vi màn hình phẳng cũ kỹ trong lúc nằm trên chiếc sofa da dơ dáy, nhưng trong mắt Thulin, điều đó chẳng gợi nhắc gì đến một kẻ tâm thần hay điên loạn.
Các dấu vết tiết lộ về tính cách của Benedikte mà họ tìm thấy thì đáng lo ngại hơn: những cuốn sách viết về quyền chăm sóc trẻ em của các hội đồng địa phương, những tờ giấy in các đoạn văn bản pháp luật về phúc lợi xã hội - đã được giải thích và tra cứu kĩ lưỡng - cũng như những cuốn tạp chí pháp luật về phúc lợi trẻ em và những chủ đề tương tự. Trong số đồ đạc của cô ta ở vài ngăn kéo trong phòng khách, có những tập hồ sơ và bìa kẹp hồ sơ dành riêng cho vụ kiện liên quan đến đứa con trai nhỏ của cô ta, cũng như thư từ của cô ta với các nhà chức trách và luật sư được tòa án chỉ định. Hầu như trang nào cũng được cô ta viết thêm các ghi chú, một số chỗ chẳng thể đọc nổi, nhưng tất cả đều dày đặc các dấu chấm hỏi và chấm than, thể hiện rõ ràng sự phẫn nộ của cô ta. Tuy nhiên cũng có những cuốn album ảnh từ thời Benedikte còn đi học, trong đó có một bức ảnh chụp cô ta và Asger Neergaard trên bãi cỏ bên ngoài một hàng rào phân cách xấu xí, ngoài ra còn có bằng cấp, giấy tờ của khóa đào tạo y tá và những khóa học thêm khác về mang thai và sinh nở.
Càng nhìn, Thulin càng khó chấp nhận rằng cặp đôi này là những kẻ sát nhân mà cô và Hess đang điều tra. Ít nhất cũng thật khó để hình dung rằng họ có thể vượt mặt cảnh sát trong một cuộc điều tra án mạng quy mô lớn suốt vài tuần, vì thế cô kết luận rằng Hess đã đúng khi tỏ ra ngờ vực.
Khi nhìn thấy những bức tường trong căn hộ của anh ở Nørrebro vào buổi sáng hôm đó, cô đã bắt đầu nghĩ rằng anh đang mất trí. Rằng anh chỉ đơn giản không thể chấp nhận việc con gái nhà Hartung đã qua đời từ lâu. Quan điểm của cô cũng không mấy thay đổi khi anh rủ cô đến chỗ Genz hay trại giam dành cho tội phạm tâm thần. Cô đã tự nhủ mình thực sự chẳng biết gì về Hess hay quá khứ của anh, nhưng chuyến đi đến gặp Bekker đã để lại cho cô những mối nghi ngờ, và bây giờ cô thấy mình và Hess đang cố nói chuyện với hắn lần nữa, cố tìm hiểu xem hắn biết gì về những vụ giết người và Kristine Hartung.
Tuy nhiên, vào lúc này, điều quan trọng nhất là cứu Gustav Hartung, và sau khi Thulin lục soát xong các tủ ngăn kéo trong các phòng ngủ, cô đi xuống cầu thang. Nếu cô lái xe đến Viện Kỹ thuật hình sự, cô có thể giúp Genz xử lý chiếc laptop Lenovo có vẻ phức tạp. Cô rẽ ở chân cầu thang và đang đi dọc theo hành lang thì một tiếng động nhỏ khiến cô dừng phắt lại. Một tiếng chuông báo động vang lên đâu đó bên ngoài ngôi nhà. Âm thanh ấy có nhịp điệu chậm hơn tiếng chuông chống trộm ở một chiếc xe hơi, nhưng cũng dai dẳng như thế. Thulin bèn quay trở lại và đi xuyên qua bếp, tới hành lang dẫn đến khu chế biến cũ của lò mổ. Cô mở cửa, và âm thanh kia trở nên rõ ràng hơn. Tiền sảnh ở đây rộng và thuôn dài, tối om. Cô dừng lại, không biết tìm công tắc đèn ở đâu. Trong một thoáng, cô chợt nhận ra rằng nếu cặp đôi kia không phải là thủ phạm đứng đằng sau những vụ giết người, vậy thì hung thủ thực sự có thể đang ở đâu đó trong bóng tối. Cô cố gắng xua ý nghĩ đó đi chẳng có lý do gì để tin rằng hắn đến đây vào giờ này. Tuy nhiên, cô vẫn lấy súng ra và tháo chốt an toàn.
Nhờ ánh sáng từ điện thoại di động, Thulin rón rén đi khắp khu chế biến cũ của lò mổ. Cô di chuyển về phía âm thanh, băng ngang qua hết kho lạnh này đến kho lạnh khác, bao gồm cả nơi được dành để giam giữ Gustav Hartung. Một số kho lạnh hoàn toàn trống trơn ngoại trừ những cái móc treo thịt trên trần, nhưng phần lớn trong số chúng xếp đầy những cái hộp và những món đồ tạp nhạp cũ.
Cô dừng lại ở cửa kho lạnh cuối cùng. Âm thanh đang phát ra từ bên trong đó, và cô vừa bước được hai bước qua ngưỡng cửa thì nhận ra Neergaard hẳn đang sử dụng nơi này làm phòng gym. Dưới ánh sáng lờ mờ phát ra từ điện thoại của cô, cô nhìn thấy những cái tạ bình vôi cũ méo mó, một thanh tạ, một cái xe đạp ọp ẹp và một bao cát đang chen chúc với đôi giày quân đội dính đầy bùn đất và bộ quân phục rằn ri nhàu nhĩ trên mặt sàn chật hẹp. Tuy nhiên, thứ khiến cô chú ý là mùi hôi. Mặc dù cô đang ở trong một lò mổ cũ, nhưng chẳng có căn phòng nào khác bốc mùi thịt thối như thế này. Ý nghĩ đó vừa nảy ra trong đầu cô thì cô nhận thấy một sự chuyển động ở trong góc. Cô quét ánh đèn điện thoại về phía đó, và mặc dù luồng sáng trắng rọi thẳng vào những con vật ấy, song chúng không có phản ứng gì. Bốn, năm con chuột đang điên cuồng gặm nhấm ở chân một cái tủ lạnh mini méo mó. Cái tủ lạnh ấy đang đứng trong góc phòng, bên cạnh một vài dụng cụ làm vườn và một cái cầu là được gấp lại. Chuông báo cửa hở trên mặt trước tủ lạnh đang nhấp nháy và kêu bíp bíp, có lẽ vì lũ chuột đã cắn đứt dải cao su bên dưới vốn có tác dụng giúp cửa tủ khép kín, khiến nó mở he hé. Thulin lại gần cái tủ lạnh, nhưng phải đến khi cô đá vào lũ chuột thì chúng mới chạy tán loạn giữa hai chân cô. Chúng dừng lại cách cô một đoạn ngắn, chạy qua chạy lại, điên cuồng kêu chít chít. Khi Thulin rón rén mở cánh cửa và nhìn vào bên trong tủ lạnh, cô phải đưa tay lên bịt miệng để ngăn mình nôn mửa.