Một buổi chiều cuối năm. Cửa hàng gia cầm gần thủ đô Paris rất đông khách đến mua ngỗng, mua gà tây… để ăn mừng Chúa giáng sinh. Hôm nay đã là ngày 24 tháng 12.
Một người đàn ông trán rộng và cao, tóc đen lượn sóng đứng lẫn trong dòng người xếp hàng. Anh chăm chú nhìn qua cặp kính gọng vàng cô thu ngân đang chăm chú đếm từng xấp bạc vừa nhận của khách. Vẻ mặt cô tươi tỉnh, rất hợp với không khí ngày lễ hôm nay. Cô nhìn kỹ giá tiền ghi trên từng khối hàng khách đã mua và nhanh nhẹn nhận tiền, trả lại tiền thừa đến từng xu lẻ không thiếu một đồng.
Đến lượt người đàn ông trán rộng và cao, tên Stacy. Mặt anh hơi tái, cất giọng hơi lạc đi một chút khi hỏi mua một con ngỗng. Một con ngỗng Noel thật béo, giá 200 frăng hồi đó. Bàn tay anh ta hơi run run đặt lên quầy tờ giấy 1.000 frăng màu xanh. Cô thu ngân trả lại tiền dư. Anh hơi loạng choạng như người mộng du, xách ngỗng đi về ga tàu điện ngầm. Đến đây dường như anh đã cảm thấy bớt căng thẳng, thản nhiên lên tàu điện, ngồi lặng lẽ ôm con ngỗng đặt trên đùi.
Một giờ sau, Stacy về tới nhà. Một ngôi biệt thự xoàng xĩnh nhưng tươm tất ở ngoại ô Paris. Chị vợ nhanh nhẹn mang con ngỗng vào bếp. Hai đứa con, đứa lên hai, đứa lên bốn ngồi chơi bi trong phòng. Stacy lặng lẽ ngồi nhìn con, trong lòng rối bời vừa hãnh diện lại vừa thấy mình đã đánh mất đi một cái gì đó… Anh vừa sung sướng vì đã thành công, vừa lo lắng tự hỏi: liệu cảnh sát có mò đến đây không?
Sau đó, trong nhiều ngày đêm liên tiếp Stacy nôn nao, thấp thỏm chờ đợi. Chờ cảnh sát có thể ập đến bất cứ lúc nào, đến để bắt anh, để khám nhà…
Stacy sinh ra ở Ba Lan năm 1912, năm 1939 là sĩ quan bất đắc dĩ trong quân đội Hitler, rồi tình nguyện xung vào đội quân lê dương năm 1944. Thế chiến 2 kết thúc, tuy có bằng kỹ sư cơ khí và bằng kiến trúc sư nhưng anh không tài nào kiếm nổi một chân trong cơ quan nhà nước. Chỉ vì anh nói tiếng Pháp quá tồi. Khi cưới được cô con gái một vị luật sư nổi tiếng và giầu sụ anh hí hửng tưởng chừng vận may đã đến với mình. Nhưng chỉ sau ít bữa, gia đình nhà vợ đã coi anh là một kẻ hèn kém không môn đăng hộ đối, coi khinh anh ra mặt, gần như cấm cửa không cho lai vãng nữa. Thế là Stacy lâm vào cảnh bị dồn tới chân tường: thất nghiệp không kiếm ra tiền, nhưng không có gan giết người cướp của, mà cũng không đủ tài và đủ can đảm đi xoáy tiền của người khác. Suy tính mãi, Stacy thấy chỉ còn mỗi một cách: tự mình làm lấy tiền mà xài.
Tờ 1000 frăng màu xanh anh ta đưa trả tiền ngỗng là một tờ bạc giả. Một tờ bạc giả, do một mình anh tự tay làm lấy từ A đến Z, từ đầu đến đuôi: làm giấy, vẽ hình, in… và tự tay mang đi tiêu thụ. Quả thật đó là một công trình tuyệt tác, khó ai phát hiện nổi. Bằng chứng: Stacy ngồi nhà đợi cảnh sát đã mấy ngày rồi mà không thấy họ đến. Vậy thì còn lo ngại nỗi gì mà không đem xài nốt mấy nghìn tờ xanh còn đang cất giấu kia?
Stacy biết rõ: chỉ có tay chuyên viên nào thật giỏi, soi kỹ từng nét vẽ, từng vệt màu mới có thể nhận ra tờ bạc giả do anh in ra. Và cũng biết rõ: tất cả các tờ bạc giả đó đều đánh số như nhau, theo con số sêri in trên một tờ bạc thật dùng làm mẫu. Vì thế, tốt nhất là nên đưa ra từng tờ một thôi. Mỗi lần anh sẽ mua vài thứ lặt vặt và nhận tiền thừa. Những thứ mua được sẽ đẩy đi ngay lập tức, còn tiền thừa cóp nhặt được sẽ dùng vào việc chi tiêu hàng ngày và dành dụm để mua tín phiếu của ngân hàng nhà nước. Cho đến ngày tích được một số vốn kha khá bằng tiền thật và tín phiếu, anh sẽ chấm dứt làm bạc giả. Từ nay tới ngày tươi sáng đó, anh nhất quyết sống thật đạm bạc, khắc khổ như xưa nay vẫn sống… Đó là tóm tắt kế hoạch hành động của Stacy, kế hoạch này sẽ được anh ta thực hiện đúng từng chi tiết.
Theo các chuyên viên về bạc giả Interpol thì hiếm có người nào trên thế giới có thể một mình làm ra bạc giả. Phải có một nhóm gồm ít nhất một thợ vẽ, một thợ khắc, một thợ chế bản, một thợ in và một số tên chuyên mang đi tiêu thụ.
Khó khăn lớn đầu tiên của bọn làm bạc giả là phải chế được thứ giấy in giống giấy in bạc thật. Năm 1950 trên toàn thế giới chỉ có vỏn vẹn ba nhà máy sản xuất được thứ giấy đặc biệt này. Số lượng giấy sản xuất ra được kiểm kê được canh giữ nghiêm ngặt như thể chúng là vàng ròng. Ngoài ba nhà máy đó không có một nhà máy nào khác làm nổi. Vì cần phải có rất nhiều thiết bị đồ sộ, ví dụ máy ép đủ mạnh để làm hình in bóng trên tờ giấy bạc. Vả lại ngân hàng nhà nước Pháp còn cho trộn vào bột giấy những sợi kim loại rất mảnh mắt thường không nhìn thấy nhưng nếu dùng máy quang điện kiểm tra thì trong một giờ có thể soi được 2500 tờ và phân loại dễ dàng bạc thật hay bạc giả. Hình vẽ trên giấy bạc cũng rất khó bắt chước vì đường nét vô cùng rối rắm, đan nhau chằng chịt, chồng chéo, rất nhiều họa tiết, hoa văn phức tạp. Bọn làm bạc giả tất nhiên tìm mọi cách vượt qua cửa ải này nhưng thường vẫn phạm sai lầm, nhiều tên phải chịu bó tay bỏ cuộc. Tóm lại kỹ nghệ làm bạc giả thường là lĩnh vực hoạt động của những băng rất mạnh, có đầy đủ phương tiện, được tổ chức hết sức chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Phương thức hành động của chúng: sản xuất cấp tốc một khối lượng thật lớn rồi đem đi tiêu thụ bằng hết và thật nhanh. Nhưng đấy cũng chính là nhược điểm chí tử của chúng: vào một thời điểm nhất định nhà chức trách thấy bỗng dưng xuất hiện một số đông những kẻ tiêu thụ bạc giả… Trường hợp của Stacy hoàn toàn khác hẳn: chỉ có một người, tiêu thụ từng tờ một. Nhưng phương thức Stacy lại chứa đựng một mối nguy khác: tuy sự xuất hiện những tờ xanh giả không ồ ạt, không đồng thời ở nhiều địa điểm vì không do nhiều người mang đi tiêu thụ, nhưng lại kéo dài, thường xuyên, đều đều.
Thông thường chu kì vòng quay của đồng tiền khiến cho mỗi tờ giấy bạc quay trở lại Ngân hàng Pháp quốc mỗi năm ba lần. Vì thế Ngân hàng nhanh chóng phát hiện ra những tờ xanh Stacy. Nhưng họ không thể biết chúng từ đâu ra. Năm 1953 Stacy lại tung ra loại 5000 frăng, được làm giả khéo đến nỗi cả các chuyên viên của ngân hàng và của cảnh sát đều nhất trí rằng: phải một nhóm rất đông người mới làm được như thế. Sở dĩ họ phát hiện được là nhờ một chi tiết nhỏ: tất cả các tờ bạc đều mang một con số sêri như nhau. Ngân hàng Pháp biết rõ dân chúng không thể phân biệt nổi thật giả, nên các quan chức ngân hàng chủ trương im lặng và bấm bụng chấp nhận tiêu thụ bạc giả Stacy, coi như giấy bạc do ngân hàng phát hành! Tuy tiêu thụ trót lọt được những tờ bạc giả nhưng Stacy vẫn thận trọng, vẫn sống đạm bạc như trước kia, không có dấu hiệu bất thường nào khả dĩ làm người xung quanh đánh dấu hỏi.
Năm 1963 Ngân hàng Pháp tung ra tờ 100 frăng có hình Napoléon Bonaparte. Nhờ áp dụng một kỹ thuật in màu hết sức tinh vi, họ cho đây là loại giấy bạc không ai làm giả được. Thế nhưng Stacy vẫn làm ra những tờ bạc y hệt. Chỉ có bốn chỗ sai rất nhỏ, các chuyên viên tài giỏi nhất phải soi qua kính hiển vi mới thấy.
Nếu như Stacy vẫn tiêu thụ bạc giả theo cung cách nhỏ giọt như trước thì có lẽ… Nhưng một bữa kia mười một tháng sau khi phát hành tờ bạc mới một nhân viên Ngân hàng Pháp chợt nhìn thấy một bó giấy bạc Bonaparte giả, tất cả đều cùng số sêri. Lần theo dấu vết bó tiền này Interpol giăng bẫy.
Hơn hai năm trôi qua…
Ngày 17 tháng Giêng 1967, cảnh sát trưởng Berthoux chỉ huy đội Chống Bạc giả nhấc điện thoại nghe báo cáo:
– Mời cảnh sát trưởng tới ngay. Tôi đã phát hiện một tên.
Trên đường FranÇois đệ Nhất, cảnh sát trưởng Berthoux thấy một người đàn ông gầy gò bận áo khoác dài, cổ áo dựng lên che kín mặt. Một thám tử bước tới báo cáo:
– Hắn vừa đẩy một tập mười tờ giả ở bưu điện gần đây!
Bất giác Berthoux thốt lên:
– Thằng ngu!
Đúng vậy. Nếu tên đó chỉ thò ra có một tờ giả lẫn trong nhiều tờ thật thì đã không bị cảnh sát bám theo. Hai tay đút túi quần, gã vào một căn nhà trên đường rồi trở ra sau mười lăm phút. Lúc này gã xách một chiếc cặp da. Berthoux đón đầu, đặt tay lên vai gã:
– Cảnh sát đây! Anh từ đâu tới?
– Từ nhà anh rể.
– Tên anh ta?
– Down Jines.
– Xin cảm phiền. Đưa cặp tôi xem.
Trong cặp có mười xấp, mỗi xấp mười tờ 100 frăng. Berthoux lấy kính lúp soi qua vài tờ, thấy rõ đó là bạc giả. Anh rể đưa cho anh thứ này?
Gã kia không có cách nào chối tội: khi vào nhà gã đi tay không, khi ra mới mang chiếc cặp này. Gã đành miễn cưỡng gật đầu.
Mấy phút sau Berthoux hỏi người “anh rể” Down Jines:
– Bạc giả này ở đâu ra?
– Mua ngoài chợ.
– Giá bao nhiêu?
– Mỗi tờ giá 65 frăng.
Anh rể không khai thật. Nhưng cảnh sát trưởng Berthoux nhanh chóng tìm ra cuốn sổ ghi địa chỉ và số điện thoại của những người có liên hệ làm ăn với Down Jines. Anh mở sổ đọc to tên từng người: Veriut… Michel… Godsek… Khi đọc đến tên Stacy cảnh sát trưởng thấy mặt Down Jines hơi tái đi.
– Stacy là ai vậy?
– Bạn thân.
– Loại bạn thế nào?
– Chiến hữu.
– Và là gì nữa?
– Chỉ thế thôi. Trong Thế chiến, hai chúng tôi đã cùng nhau trả qua nhiều đận gian nan.
– Hắn đưa cho anh số bạc này?
– Không phải anh ta.
– Nên khai thật sẽ có lợi cho anh hơn, vì chúng tôi sẽ tới nhà người này ngay bây giờ.
Down Jines hiểu là không thể quanh co giấu giếm được nữa. Hắn thú nhận: Stacy chính là người làm ra số giấy bạc này.
Xe cảnh sát kín đáo vây chặt căn nhà treo biển số 33 trên đại lộ Sénat gần Paris. Cảnh sát trưởng Berthoux xem ổ đạn khẩu súng ngắn rồi gõ cửa… Một người nhỏ nhắn ra mở cửa.
– Ông là Stacy?
– Vâng, chính tôi đây.
– Tôi, cảnh sát trưởng Berthoux, đội Chống Bạc giả.
– Thế ạ? Ông tới về việc gì vậy?
– Tất nhiên là về việc làm bạc giả.
Một người đàn bà hiện ra cùng một đứa trẻ mười sáu, một đứa mười tám tuổi. Đồ đạc trong nhà ngăn nắp, mọi chỗ đều sạch sẽ. Bữa ăn trưa đạm bạc dọn trên bàn. Hoàn toàn không có dấu hiệu nào của một xưởng in bạc giả: không có dây phơi, bàn ép, không một dụng cụ đồ nghề gì. Tất cả đều vẽ lên cảnh một tổ ấm của người trí thức hiền lành, nghèo túng. Cảnh sát trưởng Berthoux bắt đầu thấy phân vân. Nhưng Stacy phạm ngay một sai lầm nhỏ về tâm lí. Anh nói:
– Tôi không rõ ông cảnh sát trưởng có ý gì, nhưng xin phép cho vợ con tôi được dùng bữa. Họ không dính líu gì đến chuyện này.
– Được thôi. Xin cứ tự nhiên.
Trong lúc theo Stacy sang phòng khách, Berthoux nghĩ thầm: “nếu vô tội gã sẽ không nói ‘họ không dính líu gì đến chuyện này’ và nếu vô tội gã sẽ nghĩ rằng sự nghi ngờ của cảnh sát chỉ sau vài phút trò chuyện sẽ tan biến ngay, nhưng gã lại kéo ghế mời mình ngồi, tức là gã cho rằng sẽ phải tranh cãi kéo dài…” Berthoux bèn đưa tờ 100 frăng ra.
– Anh biết loại giấy bạc này chứ?
– Dĩ nhiên. Giấy 100 frăng loại mới.
– Anh thấy có gì lạ không?
– Không. Có gì lạ? Bạc giả hay sao?
– Bạc giả. Và anh đừng giỡn mặt tôi, nghe không? Chính anh đã bán mấy nghìn tờ thứ này cho Down Jines. Stacy kịch liệt phản đối:
– Cái gì? Ông nói gì lạ vậy? Tầm bậy quá. Không phải tôi.
Berthoux ra lệnh khám nhà. Cảnh sát khám rất kỹ trong bốn giờ liền, Berthoux cũng thẩm vấn Stacy trong bốn giờ liền. Cả cuộc xét nhà lẫn cuộc thẩm vấn chẳng thu được kết quả gì.
Tình cờ một thanh tra cảnh sát nhác thấy tấm thảm trải sàn bếp hơi khác thường, trên thảm có vết cắt hình chữ nhật ngay dưới chiếc bếp điện. Anh ta dịch chiếc bếp sang bên, lật mảnh thảm nhựa lên và phát hiện phía dưới có một nắp hầm.
Stacy giải thích:
– Đây là cửa xuống gian xưởng ngầm của tôi. Nhà chật quá, tôi phải làm thế để có chỗ thực hiện các sáng chế của tôi. Tôi là kỹ sư mà!
Berthoux mở nắp hầm. Một chiếc thang tự động dựng lên. Hầm rộng chừng 5 mét vuông, trên chiếc kệ ở vách hầm có ba chục tờ 100 frăng còn ướt. Berthoux chỉ vào các đồ nghề: bàn ép, dây phơi, kính hiển vi.
– Anh mua những thứ này ở đâu?
Stacy tỏ vẻ hãnh diện:
– Tôi tự tay làm lấy tất cả.
– Những hộp sữa kia đựng gì?
– Mực in. Chỉ có thứ đó là tôi phải mua, cùng với giấy cuốn thuốc lá.
– Anh hút thuốc cuốn à?
– Tôi trộn lẫn với giấy bóng và nước mưa để làm giấy in. Pha trộn mấy thứ đó có khó lắm không?
– Rất khó: tôi đã phải mất nhiều tháng mày mò thử đi thử lại mới tìm ra công thức thích hợp.
– Anh làm thế nào để in các hình bóng chìm?
– Phải có khuôn đồng chạm nổi các hình đó. Khi nhào xong bột giấy thì phủ lên chờ khô mới bóc ra.
– Chiếc máy sinh tố kia để làm gì?
– Để làm cho giấy bạc cũ đi.
Làm cho những tờ bạc giả có vẻ đã được lưu hành từ lâu là việc rất khó. Stacy đã tìm ra cách khá độc đáo: cải tiến máy xay sinh tố, cho giấy bạc vào bình cùng với ít tro và cát mịn rồi cho máy chạy trong nhiều giờ, tờ giấy bạc sẽ nhẵn lì và cũ đi.
Trong ngăn kéo có 220 triệu frăng bó thành từng xấp vuông vắn. Stacy đã tiêu thụ được 50 triệu. Khi bị bắt tháng giêng 1964 vốn liếng bằng tiền thứ thiệt và chứng chỉ ngân hàng của anh ta lên tới 70 triệu frăng.
Cảnh sát trưởng Berthoux không che giấu sự ngạc nhiên và khâm phục:
– Với kỹ thuật tinh xảo và phương pháp của anh, nếu cứ tiêu thụ ít một như trước chắc chắn chúng tôi chưa tóm được anh.
– Tôi cũng biết thế.
– Sau 13 năm làm ăn trót lọt chắc anh cho rằng không cần dè dặt như trước?
– Có thể một phần là vì thế. Nhưng đấy không phải là lý do chính. Lý do chính là vì mới đây tôi được biết mình mắc phải một chứng bệnh nan y nên thấy cần tăng nhanh tốc độ để sau này vợ con đỡ túng thiếu. Vả lại cũng thấy thích làm một cú thật bẫm. Để trả thù đời. Đời không thèm dùng đến tài của tôi, tôi phải cho đời biết tay!
… Hiện nay trong kho lưu trữ bạc giả của Interpol, các tờ bạc giả mệnh giá 1000 frăng, 5000 frăng và 100 frăng của Stacy vẫn được coi là thứ giấy bạc giả tinh vi nhất, khó phát hiện nhất.
Hơn nữa, trên thị trường nó là thứ bạc giả đắt giá nhất thế giới, đắt hơn bạc thật 10 ngàn lần. Những người sưu tập giành giật nhau, sẵn sàng trả 10 triệu frăng để mua một tờ Stacy 100 frăng!
Phiếm luận:
Xưa nay không hiếm những người có tài mà không được đời biết và trọng dụng. Nhưng nếu vì thế mà tìm cách trả thù đời thì không nên. Trong hoàn cảnh như vậy các bậc hiền nhân thường tìm thú tiêu dao hơn là làm bạc giả!