Lí lẽ của những tên làm bạc giả là “muốn có nhiều tiền để tiêu xài xả láng, cách tốt nhất là tự tay vẽ ra tiền”. Hơn thế nữa, đã từng có những tên xâm lược coi bạc giả là thứ vũ khí mầu nhiệm để đánh gục đối phương như đã từng xẩy ra trong Thế Chiến 2.
Hồi đó tên Himmler đầu sỏ Gestapo, bộ trưởng bộ Nội Vụ của Đức Quốc xã cùng với thống đốc xứ BohemeMoravi là Reinhard Heydrich đặt kế hoạch tung một số bạc giả rất lớn sang Anh quốc hòng làm kho bạc nhà nước Anh sập tiệm kéo theo muông vàn rối ren kinh tế và chính trị khiến nước Anh không còn sức đứng cạnh các nước đồng minh trong cuộc chiến chống phát xít Đức. Mặt khác với số sterling giả này chúng có thể đổi cho các nước trung lập lấy đôla Mĩ là thứ chúng rất cần.
Kĩ sư Bernhard Kruger nhận lệnh tổ chức in những tờ bạc Anh giả với yêu cầu rất khắt khe nêu trong chỉ thị tối mật của Heydrich: “Đây không phải là làm giả mà là thực thi một cuộc phát hành bổ sung giấy bạc không được cho phép. Các tờ bạc phải hoàn hảo tới mức các chuyên viên người Anh cừ khôi nhất cũng tìm thấy gì khác với bạc thật”. Chiến dịch mang tên “Bernhard” ra đời.
Bernhard biến khu 19 của trại tập trung Sachsenhausen thành xưởng in, dồn về đây tất cả các tù nhân Do Thái thạo nghề đồ họa. Khi khối 19 chật cứng, Khối 18 được thành lập thêm sau khi thống đốc Heydrich bị giết chết.
Công nhân và kĩ thuật viên Do Thái biết rõ ngày họ thành công cũng là ngày khai tử tất cả những người dính líu vào việc này. Bọn phát xít sẽ thủ tiêu họ để bịt đầu mối. Biết thế nên họ bảo nhau trì hoãn công việc, thực hiện nhiều cuộc phá hoại ngầm.
Tên kĩ sư Bernhard liền hạ tối hậu thư qui định ngày phải hoàn tất mọi việc, nếu không tất cả sẽ phải vào phòng hơi ngạt.
Đúng ngày qui định, đồng sterling giả ra đời, trông y như thật. Nhưng cuộc chiến đã bắt đầu xoay chuyển theo hướng bất lợi cho bọn phát xít Đức. Vì thế chúng không có điều kiện dùng máy bay rải số tiền đó xuống nước Anh như dự tính. Số bạc giả được dùng vào việc khác: mua sự đồng lõa của nhiều quan chức triều đình nhà vua Ý để giải thoát Mussolini bị giam giữ ở Gran Sasso, mua những tài liệu mật do Bazna đánh cắp trong tòa đại sứ Anh ở Ankara (Thổ Nhĩ Kì), mua vũ khí của các nước tự xưng là trung lập, mua 200 tấn vàng ròng của Liên Xô… qua trung gian của một người ở Thụy Điển.
Tuy nhiên số công nhân, kĩ thuật viên Do Thái không bị hành quyết vì mùa xuân 1944 phát xít Đức vẫn còn cần làm bạc giả, lần này là đôla Mĩ. Một gã người Ucraina tên Salomon Smolianof đã từng ngồi tù vì tội làm bạc giả được Bernhard mời tới trại làm bạc giả của hắn. Sau 225 lần thử, Salomon cho ra những tờ 50 và 100 đô la giả y như thật. Nhưng Hồng Quân đang tiến đến gần trại trong cuộc tấn công vũ bão buộc kĩ sư Bernhard phải chuyển toàn bộ tù nhân Do Thái, máy móc và số đô la mới in về trại Mauthausen. Ngày 2 tháng Năm 1945 kĩ sư Bernhard bỏ trốn. Ngày 6 quân Mĩ chiếm trại, thả hết những người làm bạc giả bất đắc dĩ. Trước đó các thùng đôla bị bọn Đức ném xuống hồ Toplitz, số thùng đang chở trên xe tải bị chết máy giữa đường thì bị chúng ném xuống sông Traun đang mùa nước lũ. Mấy ngày sau những thùng này bị vỡ, giấy bạc trôi kín mặt sông. Dân hai bên bớ và các chú lính Mĩ được một phen hốt bạc thỏa thích.
Sau Thế Chiến 2 có lẽ không chính phủ nước nào in bạc giả để phá hoại nền kinh tế các nước khác. Nhưng kẻ làm bạc giả để mưu lợi cá nhân thì không thiếu. Có nhiều tên hành nghề riêng lẻ. cũng không ít những băng nhóm liên quốc gia có tổ chức khá chặt chẽ, hoạt động khá hiệu quả trong thời gian dài khiến ngân hàng nhiều nước và các trung tâm Interpol quốc gia, quốc tế phải tốn nhiều công sức và tiền của mới triệt hạ được.
Hồ sơ Interpol có ghi một vụ khá li kì. Vụ này đã đăng trong Những vụ lừa đảo nổi tiếng thế giới tập 1 dưới tựa đề “Bạc giả có giá hơn bạc thật” nhưng những tư liệu tìm thấy sau đó cho biết thêm một số chi tiết thú vị, từ tính danh các can phạm cho đến quá trình phá án của cảnh sát Paris. Xin mời bạn đọc nhàn lãm.
Thủ phạm vụ bạc giả gây chấn động nước Pháp và nhiều nước châu Âu khác thời hậu Thế chiến 2 là Cseslaw Bojarski người Pháp gốc Ba Lan, đã tốt nghiệp hai bằng kĩ sư cơ khí và kiến trúc. Bojarski in bạc giả trong mười lăm năm, sau khi đã tuồn ra thị trường tiêu thụ được trên ba triệu frăng mới bị phát hiện. Tác phẩm đầu tay của anh ta là tờ 100 frăng cũ xuất hiện năm 1950. Mãi 13 năm sau, năm 1963 các chuyên viên ngân hàng mới nghi ngờ tờ bạc 100 frăng in hình Napoleon Bonaparte do một nhân viên mới nhận trong ngày. Lúc kiểm tiền, các chuyên viên có bàn tay vàng cực kì nhậy cảm nhận thấy một cách mơ hồ hình như tờ bạc có cái gì đó hơi khác thường đang tạo cảm giác là lạ nơi ngón tay họ. Nó hơi dày quá? hay có một nét nào vẽ sai trên hình chim trên hoa văn? Những tờ bạc đã qua tay nhiều người trong quá trình lưu thông khó tránh khỏi có những khiếm khuyết nhìn bằng mắt thường không thể thấy được. Vì thế các nhân viên thu ngân tuy không thật yên tâm nhưng sau hồi lâu ngắm nghía thường chép miệng bỏ chúng vào với những tờ khác. Hôm sau lại đưa ra lưu thông. Thảng hoặc có người thận trọng hơn, mang tờ bạc đó tới cấp trên. Quan chức cấp trên ngắm nghía, cân nhắc hồi lâu trên tay rồi phán:
– Tôi cho rằng anh bé cái nhầm rồi. Tờ bạc này hoàn toàn hợp pháp. Anh thấy cái gì đáng nghi nào? Mẹ kiếp! Nếu đây là bạc giả, tôi sẽ kiến nghị Ngân hàng Pháp quốc tuyển ngay cái thằng làm ra nó vào biên chế chính ngạch để nó phục vụ nền tài chính quốc gia.
Tuy nhiên cái kim bọc lâu ngày cũng phải thò ra. Nhiều tờ bạc bị nghi ngờ được để riêng ra rồi giao cho những chuyên viện đặc biệt của Ngân hàng Pháp quốc giám định. Họ tuyên bố: Đây là bạc giả chính hiệu. Họ đã cặm cụi nhiều ngày đêm trong những phòng thí nghiệm đặc biệt có trang bị nhiều máy móc rất tinh vi mới khám phá được đôi nét khác lạ trên những tờ bạc đó. Giấy in là thứ rất khó làm giả nhưng giấy in những tờ bạc này hoàn toàn giống loại giấy của Kho bạc Nhà nước về mọi chỉ tiêu: tính năng cơ lí, hóa học… Qua nhiều xét nghiệm công phu mới phát hiện ra đôi chỗ khác biệt trên vài mảng đậm nhạt của tấm hình chìm. Trên hình vẽ có bốn điểm hình như tên làm giả cố tình sửa cho vừa mắt hắn; ngôi sao trên góc trái bớt đi một vạch nhỏ, một tàu lá xanh có vết gãy li ty, lọn tóc trên má trái Bonaparte hơi rậm hơn, con số 100 gần mép tờ bạc hơn trong tờ bạc thật khoảng vài phần mười milimet.
Ngân hàng báo động, các cơ quan chức năng vào cuộc. Nhưng cuộc điều tra của cảnh sát trên toàn lãnh thổ nước Pháp cũng như của Interpol trên hầu khắp thế giới đều dậm chân tại chỗ. Cảnh sát trưởng Benhamou người đã lập chiến công phá rã sáu ổ làm bạc giả chỉ trong mười lăm tháng cũng chịu bó tay. Chỉ còn một kế cuối cùng: ngồi im chờ thủ phạm mắc sai lầm.
Quả nhiên, khoảng cuối tháng Chín 1963 một tên trong bọn đã mắc sai lầm: dùng một xấp bạc giả mua hẳn một xêri kì phiếu Kho bạc Nhà nước. Trước đó bạc giả chỉ được chúng dùng từng tờ một, để lẫn trong các tờ thứ thiệt.
Cảnh sát tới hỏi cô nhân viên đã nhận xấp bạc giả đó. Qua lời khai của cô, một nhân viên thứ hai nhận ra người chủ xấp bạc đó là khách hàng đã đôi lần tới gửi ngân phiếu đi các nơi, tính danh và địa chỉ người đó vẫn còn ghi trên cuống ngân phiếu. Người khách hàng đó là Chuvaloff ngụ tại số 4 Quảng trường Champeret.
Cảnh sát bí mật theo dõi, ghi đầy đủ những chuyến mua sắm lặt vặt, những lần mua kì phiếu Kho bạc, những hắn tới thăm Antoine người Thụy Sĩ em rể anh ta chủ một cơ sở dịch thuật ở Paris… Tuy thế cảnh sát vẫn chưa biết nhân vật chính, người chủ thực sự của những tờ bạc giả là ai. Họ tin chắc Chuvaloff liên lạc với ông chủ qua trung gian một người thứ ba.
Ngày 17 tháng Giêng 1964 cảnh sát thấy Chuvaloff tay không đi vào nhà em rể Antoine, khi quay ra trên tay có chiếc cặp da. Cảnh sát giữ lại, mở cặp khám xét. Trong cặp có hai tờ kì phiếu Kho bạc mệnh giá 1000 frăng và 100 tờ Bonaparte dỏm.
Chuvaloff khai:
– Antoine mua mỗi tờ Bonaparte với giá 62,5 frăng, nhưng người bán đòi trả bằng kì phiếu hoặc bằng vàng. Chắc anh ta không tin giấy bạc của Nhà nước. Nhưng anh ta là ai thì tôi không biết.
Bị thẩm vấn Antoine khai:
– Tôi chỉ là nạn nhân thôi. Tôi trót vay của anh ấy 200 000 frăng và không trả được nợ khi đáo hạn. Anh ấy buộc tôi phải đẩy những tờ bạc giả này từng tờ một cho đến khi trừ hết nợ.
Mỗi tờ được tính 62,5 frăng, chẳng bao lâu Antoine trả hết nợ. Nhưng thấy ngon ăn nên hắn cứ tiếp tục dài dài.
Lời khai của Chuvaloff không làm cảnh sát trưởng Benhamou hài lòng vì chưa khai ra kẻ chủ mưu. Bị thúc ép tới số, cuối cùng Antoine mở miệng khai: đó là Cseslaw Bojarski ở số nhà 33 đường Renart. Cảnh sát lao ngay tới.
Bojarski tỏ vẻ sửng sốt thậm chí tức giận khi cảnh sát bỗng dưng ập vào đầy nhà, đã thế lại không úp mở chụp ngay lên đầu gã cái mũ “làm bạc giả”.
– Cứ việc khám nhà, tôi cho khám đấy. Cứ thả sức lục soát. Đó là nghề của mấy ông mà!
Cảnh sát lần lượt khám xét từng căn phòng, trèo lên ghế chọc chọc lên trần nhà, bò bốn chân soi mói từng tấm sàn, chui vào gầm giường, khiêng tủ, lật bàn chổng bốn vó… cậu nào cậu nấy toát hết mồ hôi hột. Nhưng chẳng thấy gì. Sau gần một ngày trời mới vào tới phòng cuối cùng, do Bojarski đi trước dẫn đường. Cảnh sát trưởng đi thẳng tới trước chiếc két sắt, giơ tay ra hiệu chủ nhà mở khóa. Trong két có 615.000 frăng bằng kì phiếu Kho bạc, nhiều thỏi vàng, hàng xâu đồng tiền vàng.
Cảnh sát trưởng hỏi:
– Ông lấy đâu ra lắm của thế?
– Có gì đáng ngạc nhiên? Tôi là kĩ sư cơ khí và kiến trúc sư, kiếm ăn không đến nỗi tồi.
Cuộc thẩm vấn tại sở cảnh sát Paris không mang lại kết quả, Bojarski một mực kêu oan. Nhưng cảnh sát trưởng Benhamou tin chắc như đinh đóng cột: xưởng làm bạc giả nhất định nằm trong ngôi nhà số 33 đường Renart.
Cảnh sát trưởng lại hỏi tiếp; Ông tậu nhà hồi nào?
– Cách đây hai năm.
– Lúc mua, ngôi nhà vẫn như hiện trạng chứ?
Kĩ sư Bojarski hơi chần chừ;
– Không, lúc đó là mảnh đất trống. Tôi mới cất nhà.
– Là kiến trúc sư, chắc ông tự tay vẽ thiết kế và giám sát thi công?
– Phải.
Ngay sáng hôm sau cảnh sát trưởng dẫn một toán cảnh sát đi cùng với kĩ sư Bojarski về ngôi nhà số 33. Họ lục soát trong tám tiếng. Khi gõ lên sàn căn phòng có chiếc két sắt họ nghe tiếng hơi khang khác. Cảnh sát lột thảm, soi kĩ từng xăngtimet vuông tấm nhựa trải sàn và phát hiện có một mảnh rời được gắn khít tới mức nếu không có cặp mắt thám tử nhà nghề lâu năm thì không thể thấy được. Một viên cảnh sát mím môi định nhấc lên nhưng mảnh nhựa đó không nhúc nhích nửa li. Viên cảnh sát sờ tay mò mẫm một lúc rồi nhấn mạnh vào một điểm. Tiếng động cơ điện kêu vo vo, mảnh ván nhựa lật nghiêng để lộ một khung cửa có cầu thang dẫn xuống dưới hầm. Cảnh sát trưởng tìm thấy công tắc, bật đèn sáng choang rồi bước xuống cầu thang.
Tuy đã từng đặt chân vào nhiều xưởng vẽ, nhiều nhà in bí mật của bọn làm bạc giả nhưng ông ta không khỏi sửng sốt khi xuống căn hầm chỉ vỏn vẹn dăm ba mét vuông nhưng được trang bị như một phòng thí nghiệm khoa học với những dụng cụ quang học hiện đại: máy chụp, máy phóng… rồi máy xay bột giấy, mực in đủ màu, hóa chất, máy xén, máy in v.v…
Bojarski hết đường chối cãi. Viên kĩ sư 52 tuổi thú nhận:
– Một mình tôi thiết kế, lắp đặt tất cả những thứ này trong điều kiện hoàn toàn bí mật, ngay vợ tôi cũng không biết trong nhà có xưởng in này. Sau khi xuống hầm và đóng cửa sập, cầu thang sẽ tự động rút lên trần hầm để không choán chỗ. Trừ các thiết bị quang học phải mua, mọi thứ khác đều do tôi tự chế. Mấy cái máy này hơi gây ồn khi vận hành nên tôi tự làm lớp cách âm phủ vách hầm. Chiếc máy kia dùng để làm giấy bạc cũ đi sau khi ra lò.
Kĩ sư Bojarski chỉ vào chiếc máy trông như cái trống nhỏ xoay quanh trục giữa thẳng đứng, nói tiếp:
– Tôi cho cát và đá nhỏ vào trong trống. Tờ bạc được quay trong đó ít phút là thành cũ mèm, khó phân biệt thật giả.
Kĩ sư chợt sôi nổi hẳn lên.
– Giấy in mới là tuyệt tác đáng tự hào của tôi. Nó không khác tí nào so với giấy in bạc của Ngân hàng Nhà nước. Chẳng nói dài dòng chắc ông cảnh sát trưởng cũng hiểu tôi đã bỏ vào đó biết bao công sức và tâm trí. Ông muốn biết qua công thức chế biến ư? Đại khái là trộn giấy vấn thuốc lá với một tỉ lệ thích hợp giấy than, ngâm nước javel cho mủn ra rồi đưa qua máy cán cho thật nhuyễn.
Kĩ sư trình bày tiếp công thức pha chế mực in sao cho giống mực thật, cách sao chép các hình vẽ, hoa văn, đặc biệt khó là cách làm các hình chìm.
Kĩ sư kết luận:
– Tôi xui quá. Bị các ông tóm đúng lúc tôi quyết định ngưng sản xuất. Ông cảnh sát trưởng thấy đấy, tôi không làm thêm một mảnh giấy in nào nữa.
Ba triệu frăng đã được Bojarski tung vào lưu thông trót lọt. sai lầm của anh ta là đã tuyển thêm Antoine vào đường dây. Antoine lại đưa tên Chuvaloff vào, nó là tên vô kỉ luật không tuân thủ qui tắc tối quan trọng là chỉ tiêu thụ từng tờ một.
Kĩ sư Bojarski có hai con trai đang học trường trung học phổ thông, bản thân anh ta sống rất giản dị không tiêu xài xa hoa phù phiếm.
Trả lời câu chất vấn “Ông cần gì đến lắm tiền thế?” anh thú thật:
– Từ năm 1984 tôi bị chứng thoát vị đĩa cột sống, phải thường xuyên mặc áo bó. Lo sẽ tới ngày bị tàn phế, vợ con lâm vào cảnh nheo nhóc khốn khó nên tôi quyết định mình còn sống ngày nào thì phải cố làm ra thật nhiều tiền để lỡ có bề nào thì vợ con cũng không quá gieo neo…
Phiên tòa xử bộ ba can phạm tội “In và lưu hành bạc giả” diễn ra trong khung cảnh khá đặc biệt. Tất cả các nhân chứng, điều tra viên, cảnh sát… vừa kịch liệt lên án hành vi trái pháp luật gây tổn hại nặng nề cho lợi ích quốc gia và quyền lợi công dân… lại vừa hết lời ca ngợi tài ba của kĩ sư Bojarski. Thậm chí một quan chức của Ngân hàng Nhà nước còn khẳng định:
– Chỉ một mình anh ta đã làm nổi việc mà ngân hàng tôi phải huy động tới mười hai chuyên gia cực kì giỏi mới làm được.
Bojarski than thở với luật sư của anh:
Tôi ngửa tay đi xin việc hết cửa này đến cửa kia mà chẳng nơi nào thèm nhận vào. Tại sao Ngân hàng Pháp quốc không tuyển dụng tôi? Có việc làm đàng hoàng, can gì tôi phải làm bạc giả? Thêm vào đó, tôi có khả năng giúp Ngân hàng phát hiện bất cứ loại bạc giả nào.
Hội đồng xét xử tuyên án hai mươi năm tù ngồi cho Bojarski. Gã Chuvaloff lĩnh 5 năm, một mình Antoine được tha bổng vì có công tố giác tội phạm.