Tối tháng Mười năm 1920, tòa tư thất của ngài Quí tộc Spencer ở London đèn sáng hết cỡ. Giới thượng lưu tề tựu không thiếu vắng một ai, vì các buổi dạ tiệc của Ngài Spencer vốn là món không thể bỏ qua. Chúng nổi tiếng lộng lẫy nhất hạng. Mà đêm đó, Ngài Spencer còn chơi sang hơn tất cả mọi đêm, phá hết các kỉ lục về trí tưởng tượng về mức xa xỉ.
Chủ nhân tòa nhà tự tay đôn đốc việc biến nó thành sa mạc. Vâng, biến tòa nhà thành một bãi sa mạc theo đúng nghĩa. Không đồ đạc bàn ghế, toàn bộ sàn nhà trong ngoài trên dưới, các cầu thang gác đều phủ một lớp cát dầy. Bồi bếp đều là thanh niên da đen váy cộc, mình trần. Có cả một con lạc đà ngơ ngác diễu đôi bướu qua các căn phòng.
Đêm dạ tiệc này khác hẳn các đêm trước, vì Ngài Spencer sắp chia tay xã hội thượng lưu London trong nhiều tháng… Ngài là một nhân vật quan trọng ở thủ đô. Mới trạc ngũ tuần nhưng trông già trước tuổi, có lẽ do hậu quả của đủ thứ quá đáng đã thành quen trong cuộc sống của Ngài. Thân hình hơi phị, được tân trang thường xuyên bằng kem nền, phấn thơm cho thêm phần sáng láng… Bỏ qua nhược điểm ấy, phải công nhận Ngài rất thạo cách ăn diện. Các bộ đồ lớn đều do tay thợ giỏi nhất cắt may, trên ve áo lúc nào cũng trưng một bông phong lan trắng muốt.
Phụ với Spencer tiếp khách có George Bertrand cũng là một gương mặt sáng chói của cuộc sống London. Các bà quý phái phát điên phát cuồng lên vì mái tóc đen nhánh bờm xờm rất điệu nghệ, đôi mắt xanh trong veo thơ mộng, bộ ria sắc mảnh, nhất là vì nụ nốt ruồi trên gò má bên phải vẽ nên nét chủ yếu trong sức quyến rũ của chàng trai. Nói tóm lại, George thâu tóm trên con người anh ta toàn bộ hình ảnh cậu công tử bột hồi cuối thế kỉ trước, hình ảnh mà năm 1920 này mọi người tuy cho là lỗi thời nhưng vẫn rất bắt mắt. Đã thế, George cũng diện bảnh không thua kém Ngài Spencer, chỉ khác ở chỗ quần áo anh ta rất khít và thay vì cài bông phong lan màu trắng, trên ve áo lúc nào cũng tươi tắn một bông màu hồng.
Từ nhiều năm nay Spencer và George vẫn cùng nhau mở tiệc tiếp khách, đêm nay là đêm cuối cùng của hai người tại thủ đô. Sáng mai họ sẽ lên tàu đi Phi châu, đi từ Ai Cập tới Nam Phi, nơi George làm chủ một mỏ vàng anh chưa có dịp tới thăm.
Dạ tiệc thành công không chê vào đâu được. Khách được mời ngồi trên cát, dưới bóng cọ, bóng dừa chuyện trò vui vẻ. Mấy kẻ độc mồm không ngần ngại khẳng định Ngài quí tộc và anh bạn trẻ lên đường làm chuyến lữ hành trăng mật của cặp đồng tính. Spencer cầm ly sâmbanh trên tay, ra sức trấn an những tâm hồn nhạy cảm:
– Quí vị thân mến! Có những người phao tin tôi không thích đàn bà. Nói thế hơi quá. Xin bảo đảm với quí vị, tôi vẫn đang cố chịu đựng họ…
Hội tiệc kết thúc rất khuya.
Khi một cậu hầu tới dắt lạc đà đi trả vườn thú, mặt trời đã đứng sào. Spencer và George đã lên đường từ lâu. Các vương tôn công tử của London sẽ thiếu vắng họ biết chừng nào! Tuy vẫn còn có dịp bàn tán nhiều về họ.
Nhiều tuần trôi qua. Từ châu Phi, Ngài Spencer đều đều gửi thư về cho bạn bè đông đảo. Thư nào cũng tràn đầy nhiệt tình đầy phấn khởi. Hai người đã tới Alexandry, tham quan Ai Cập, xuôi sông Nil tới Xuđăng sau đó họ đi kiệu xuyên suốt châu Phi… Tóm lại, cuộc viễn du đầy tình đầy thơ trên mọi phương diện.
Tháng Mười hai 1920. Thư Spencer miêu tả rất cặn kẽ niềm vui vừa tìm được ở Nam Phi. Mỏ vàng của người bạn chí cốt George quả là một kì quan. Những cục quặng to bằng nắm đấm, bọn da đen trần trụi đào vàng dưới nắng trông đẹp như những vị thần. Ngài ngắm không chán mắt..
Đi mãi cũng phải quay về. Đầu năm 1921, Ngài Spencer báo cho bạn hữu London biết: dù quyến luyến nơi này nhưng hai người đang trên đường về. Họ lại xuyên qua châu Phi trên kiệu. Tới bờ sông Nil họ chợt nảy ra ý tạt qua sa mạc Nubia thay vì lên tàu thủy tiếp tục lộ trình đã định. Sa mạc Nubia không đảm bảo an toàn lắm đâu, nhưng rất hấp dẫn…
Sau đó, tháng Ba 1921, các bạn của Ngài Spencer nhận được tấm bưu thiếp có vài dòng viết vội: “George mất tích giữa sa mạc. Không sao tìm thấy. Tôi về nước”.
Một tháng sau Ngài Spencer về tới cảng Southampton. Rất nhiều người ra đón. Ngài thay đổi nhiều quá, phải có người dìu đi. Tuy nước da rám nắng nhưng mặt vẫn lộ rõ vẻ hoang mang. Và trên ve áo không gài bông phong lan, một điều chưa từng có.
Mọi người xúm lại hỏi, Ngài chỉ lắc đầu:
– Không bao giờ gài phong lan nữa! Không bao giờ!
Từ đó Spencer giam mình trong tòa tư thất London. Chấm dứt các dạ tiệc điên cuồng. Ngài quí tộc chỉ còn là con người bị số phận đè nặng.
Nhưng sự việc không dừng lại ở đây. Trong trụ sở Scotland Yard, trung úy cảnh sát Douglas Robertson nghiên cứu nhiều lần tập hồ sơ vụ George Bertrand mất tích. Trung úy Douglas mới ba muơi, giỏi giang, đang nhiều triển vọng, đặc biệt anh có một đức tính tuy khá phổ biến của người Anh nhưng ở Douglas nó phát triển tới đỉnh điểm: sự tinh tế.Vì vậy anh được cơ quan giao điều tra vụ án tế nhị này.
Anh hoàn tất đầy đủ mọi nghi thức xã giao, rồi tới nhà Spencer. Chủ nhân ngồi gục trong ghế bành, các cửa sổ đều đóng kín. Ngài quí tộc tiếp khách trong bầu không khí ảm đạm.
Trung úy kính cẩn chào rồi nói với giọng hết sức lễ phép.
– Thưa ngài, chúng tôi mạn phép cho rằng vẫn còn đôi chút hy vọng tìm thấy ông George còn sống. Có thể ông ấy đã bị một bộ lạc du mục nào đó bắt cóc. Vì vậy, mọi thông tin về vụ mất tích mà Ngài vui lòng cung cấp sẽ vô cùng quí báu cho chúng tôi. Ngài Spencer thở dài não nuột.
– Thật khốn khổ! Tôi nào có hay biết gì. Cả hai chúng tôi đang ở giữa sa mạc, lúc khoảng 6 giờ chiều. Cần thú thực với ông: sau bữa trà chiều hai chúng tôi có cãi lộn một chút. Chuyện chẳng đâu vào đâu. Nhưng George là người… biết nói thế nào đây… là người rất lãng mạn nên không chịu nổi mấy câu trách móc của tôi. Ông ấy bỏ đi một mình, đi sâu vào sa mạc. Lúc đó, tôi cho đấy chỉ là một cơn nóng giận thoáng qua thôi. Nào ngờ đêm xuống vẫn không thấy George về. Tôi và bọn hầu cận đành đợi sáng mới đi tìm. Chẳng làm gì được… Lỗi tại tôi hết, tôi ân hận suốt đời…
Douglas nhẹ nhàng hỏi sơ qua vài chi tiết địa hình nhưng Spencer không cung cấp được. Từ bé Ngài vốn vẫn dốt môn địa lí. Hai người bữa đó lại ở giữa sa mạc mênh mông. Ngài chỉ nói vậy. Douglas cám ơn và ra về, anh biết có ở lại thêm cũng vô ích.
Trung úy tiếp tục cuộc điều tra. Anh có thói quen đã làm việc gì thì làm thật nghiêm chỉnh. Được cấp trên cho phép, anh quyết định tới tận hiện trường. Trước tiên anh tới Nam Phi, tới tham quan mỏ vàng. Giám đốc mỏ xác định: ông chủ George Bertrand đã nghỉ lại đây nửa tháng cùng với Ngài Spencer. Sau đó hai ông đi theo hướng bắc để về nước Anh. Ngoài ra, giám đốc còn tiết lộ với chàng điều tra viên trẻ của Scotland Yard: mỏ vàng này là một tài sản khổng lồ, là một trong những mỏ quan trọng nhất Nam Phi.
Douglas đi theo hướng bắc, đi theo con đường cách đây ba tháng Spencer và George đã từng đi. Mỗi khi tới một làng anh lại đưa bức hình mang theo người, hình của George Bertrand với mái tóc bờm xờm điệu nghệ, bộ ria thanh mảnh, nốt ruồi trên gò má phải… Lần nào dân địa phương cũng gật đầu, chỉ tay ra hiệu:
“Phía bắc, ông này đi lên hướng bắc…”
Douglas lần theo dấu chân George đến tận bờ sông Nil. Khi chớm tới rìa sa mạc thì mất hút. Các bộ lạc du mục anh gặp không nhận ra tấm hình. Rõ ràng George đã mất tích ở sa mạc Nubia…
Trở về văn phòng trong trụ sở Scotland Yard, trung úy Douglas đành xếp vụ này lại. Nhiều năm trôi qua… Trung úy được tuần tự thăng cấp, trở thành một chỉ huy cảnh sát hình sự Anh, và cũng quên dần ngài quí tộc lập dị cùng với người bạn đồng hành trẻ tuổi của ông ta…
Mười năm sau, tháng Ba 1931, Douglas buộc phải mở lại tập hồ sơ cũ theo qui định của luật pháp. Theo qui định này, sau mười năm kẻ mất tích phải được chính thức coi là đã chết và do đó di chúc của George được mở ra.
Bản di chúc ngắn gọn nhưng tác động như một trái bom:
“Tôi để lại toàn bộ tài sản, kể cả mỏ vàng của tôi cho người bạn chí cốt: Ngài Spencer”.
Biết tin này, giới quyền quí London sôi nổi bàn tán. Ngài Spencer quen sống kiểu đế vương đã ném gần hết của cải gia tộc qua cửa sổ. Phen này nhờ được mỏ vàng của George ông ta lại trở thành một trong những triệu phú giàu nhất nước… Từ đó có thể nghĩ rằng…
Tất nhiên trung úy Douglas cũng nghĩ như mọi người. Anh gặp lại Ngài Spencer. Lần này anh không tới nhà mà mời ông ta tới văn phòng. Vị quí tộc tỏ ra rất buồn phiền.
– Thật khổ, giá như tôi biết trước…
– Nghĩa là Ngài không hay biết gì về tờ di chúc mang lại quyền thừa kế…
– Tuyệt đối không biết. Bữa trước nghe tin này tôi phát bệnh luôn.
Viên trung úy của Scotland Yard lại hỏi về diễn biến vụ mất tích, nhưng anh thấy ngay mình chỉ mất thì giờ vô ích. Ngài Spencer nói thế nào chả được! Chuyện xảy ra giữa sa mạc hoang vu không có nhân chứng, nếu có thì là những thổ dân dễ bị ông ta mua chuộc. Không hề có bằng cớ để buộc tội ông ta, thậm chí không có bằng cớ đã xảy ra án mạng…
Douglas tung các nhân viên cừ nhất của anh vào cuộc. Anh ra lệnh mở cuộc điều tra, song đúng là điều tra vô thời hạn. Vì không có kết quả. Các chứng cứ thu thập được còn mơ hồ hơn cuộc điều tra trước đây. Dấu chân George vẫn dừng lại trong sa mạc Nubia, không xa hơn… Một lần nữa, Douglas tự nhủ: có khả năng là một vụ mất tích thật. Anh cho qua, lần này là lần thứ hai.
Thế chiến bùng nổ. Ngài Spencer tuy có mỏ vàng trong tay nhưng không tiêu xài vung vãi như trước khi xảy ra tấn thảm kịch. Trái lại, ngày càng thu mình trong tòa tư thất London. Cho đến năm 1948 thì Ngài qua đời trong cô đơn. Chỉ vài ba người ưa hoài cổ mới còn nhớ những thú chơi điên rồ của Ngài hồi xa xưa…
Mùa hè năm 1950.
Douglas Robertson đã thành quan chức cao cấp của Scotland Yard và sắp sửa về hưu. Ông nghỉ phép, đi du lịch sang Ai Cập. Lần đầu tiên ông trở lại đất nước này từ sau vụ SpencerBertrand, nghĩa là cách đây gần ba chục năm. Từ rất lâu rồi ông không còn bận tâm đến nó nữa…
Như mọi du khách khác, khi tới Cairo ông không thể không tham quan viện bảo tàng đồ cổ. Cả buổi chiều hôm đó, ông dạo quanh các phòng trưng bày, tận hưởng không khí mát rượi của các căn phòng tranh tối tranh sáng trong khi ở ngoài nắng nóng như đổ lửa. Và cũng như nhiều người Anh khác, Douglas rất thích thú các hiện vật của Ai Cập cổ đại… Nhất là các xác ướp. Bảo tàng trưng bày rất nhiều xác ướp xếp dựa vào tường thành từng dãy dài trong hàng loạt phòng. Ông Douglas đặc biệt xem kĩ những xác không còn mặt nạ, mọi nét vẫn được bảo tồn một cách kì diệu qua hàng ngàn năm. Có những xác không chút nhăn nheo, tưởng chừng đây là những người vừa nằm xuống ngủ trong chốc lát sẽ tỉnh giấc.
Như xác chàng trai này chẳng hạn, quanh mình quấn kín băng… Douglas cúi đọc tấm bảng đồng nhỏ gắn trên quách: “Đạo sĩ ở Iris Khoảng hai ngàn năm trước Công nguyên”. Trông chẳng khác một người đương đại. Mọi nét đều rất mới, có thể dễ dàng hình dung anh ta diện bộ đồ của thế kỉ XX.
Bỗng Douglas thấy choáng váng, đưa vội hai tay đỡ cổ. Ông thấy khó thở quá, nhà cửa quay cuồng, ông phải dựa vào tường cho khỏi ngã. Những người đứng gần đó vội chạy tới vây quanh. Ông gạt họ ra. Rồi cố nén cảm giác ghê tởm, ông tới bên xác ướp… Tuy không thấy được mái tóc đen lượn sóng bị giấu dưới lần băng, tuy bộ ria thanh mảnh đã bị cạo nhẵn nhưng chiếc mũi kia, cặp môi kia không lẫn vào đâu được, nhất là mụn nốt ruồi trên gò má phải… Cái nốt ruồi tạo nét quyết định vẻ quyến rũ của George Bertrand hồi năm 1920.
Douglas lao như điên vào phòng giám đốc bảo tàng, nói rõ mối nghi ngờ đầy khủng khiếp của mình. Giám đốc mở phòng lưu trữ lấy ra tập hồ sơ đầy bụi và thông báo:
– Xác ướp do một chuyên gia Ai Cập học rất nổi tiếng trao tặng bảo tàng năm 1934. Căn cứ vào các đồ trang trí, bảo tàng xác định đây là một đạo sĩ của Iris thuộc triều đại XI.
Douglas không tự kiềm chế được, chồm dậy:
– Nguồn gốc? Nói rõ nguồn gốc xem nào!
Giám đốc viện bảo tàng hắng giọng:
– Theo tư liệu tôi có, hình như nhà Ai Cập học đó đã mua xác ướp này của một bộ lạc du mục. Chắc đây là bọn chuyên cướp phá các ngôi mộ cổ. Thực tình mà nói, mua như vậy là bất hợp pháp, nhưng biết làm sao được, thưa ông?… Vụ mua bán này đã thực hiện ở sa mạc Nubia…
Douglas cám ơn giám đốc. Ông tới trụ sở trung tâm của cảnh sát Ai Cập, đánh bức điện: “Gửi gấp phim X quang chụp hàm răng George Bertrand mất tích ở sa mạc Nubia tháng Ba 1921”.
Hai ngày sau, trong phòng thí nghiệm của bảo tàng Cairo, chuyên viên cảnh sát hình sự đối chiếu phim chụp hàm răng của người mất tích với hàm răng xác ướp. Làm xong việc anh ngẩng lên, mặt tái xanh: Không nghi ngờ gì. Chỉ là một người!
Tuần sau đó, Douglas Robertson về London. Ông tới tư thất Ngài Spencer lúc này do con trai ông ta làm chủ. Mới đầu, người con tỏ vẻ dửng dưng, nhưng càng nghe quan chức Scotland Yard nói anh ta càng cảm thấy ghê rợn.
– Ông già anh không lần nào kể lại chuyện này? Không lần nào nói bóng gió xa xôi gì sao?
– Xin ông chờ một lát… Trong số giấy tờ bố tôi để lại có lá thư đề “Không được mở trước năm 1960”. Nhưng có lẽ ta nên lấy ra đọc ngay bây giờ.
Con trai Ngài Spencer tới mở két sắt. Lấy lá thư ra, hai tay run lẩy bẩy phá niêm xi, liếc qua rất nhanh rồi lẳng lặng đưa cho viên sĩ quan cảnh sát. Mặt anh ta trắng bệch như tờ giấy.
Douglas cầm lá thư đọc… Trong hơn ba chục năm làm cảnh sát hình sự, chưa bao giờ ông thấy một lời thú tội kì lạ như vậy của kẻ giết người:
“Tôi, người thứ hai mươi hai của dòng họ quí tộc Spencer, thú nhận đã ám sát George Bertrand ngày 8 tháng Ba 1921. Cách đó một năm, George cho biết đã làm di chúc để lại tài sản cho tôi. Đó là lúc tôi nẩy ra ý giết anh ấy. Tôi đưa ra chương trình du lịch châu Phi, xếp đặt mọi chi tiết của chuyến đi. George khốn khổ không nghi ngờ gì. Tới sa mạc Nubia, tôi hạ gục anh ta bằng một phát súng lục. Tối hôm trước, tôi đã sa thải hết bọn hầu. Giết xong, tôi đợi có đoàn lữ hành đi ngang qua vì tôi biết dân du mục Nubia thường mua xác chết đem ướp để bán cho người thích chơi. Tôi bán xác George cho đoàn du mục đầu tiên đi qua…”
Hung thủ chết từ lâu rồi, vụ án không còn được đưa ra xem xét về phương diện tư pháp.
Con trai Ngài quí tộc Spencer biết dòng họ mình đã bị vấy máu. Anh tuyên bố từ bỏ quyền sở hữu mỏ vàng đáng nguyền rủa nọ, và được phép đặc biệt của Hoàng gia, anh từ bỏ luôn tước hiệu quí tộc mình được quyền thừa hưởng từ người bố.
Ngài Quí tộc Spencer thứ hai mươi ba từ nay chỉ là một ông Smith bình thường.