Thời Sa hoàng Nicola đệ Nhị còn trị vì nước Nga, một vị tướng của triều đình cho ra đời một thằng con trai. Nó là chắt của Sa hoàng đệ Nhất nên ông tướng bố nó đặt tên nó là Alecxan Wonfer. Khi nó mới được 5 tuổi thì ông tướng chết. Sa hoàng Nicola đệ Nhị đưa nó vào cung làm cận hầu.
Lúc Alecxan Wonfer lên 10 là năm 1917, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga thành công. Wonfer phải vào trại cải tạo. Ba năm sau nó trốn lên một chiếc tàu Đức, chạy sang Stertin trên bờ biển Baltic.
Năm 1920 cả gia đình Wonfer gồm: mẹ hắn, hắn và năm chị em gái tự họp ở Berlin trong cảnh nghèo rớt mùng tơi vì đã phải bỏ của chạy lấy người. Wonfer lúc đó mới 17 tuổi nhưng đã ra vẻ một chàng quí tộc: cao lớn, đẹp trai, dáng vẻ điệu bộ đài các cao ngạo. Chỉ phải mỗi tội: không một xu dính túi. Lúc tàu tới sân ga Berlin, toàn bộ cơ nghiệp của bẩy người chỉ có bẩy va li quần áo tàng tàng, trong túi Wonfer chỉ còn vừa đủ tiền thuê người khuân bẩy chiếc va li về khách sạn.
Wonfer thuê khách sạn loại sang chứ không thích loại xoàng. Và một mình nuôi sáu miệng ăn không ngồi rồi: người mẹ bốn mươi tuổi và năm chị em, tất cả đều là những mụ đàn bà con gái quen thói ăn chơi lêu lổng chẳng biết và chẳng thiết làm gì để kiếm sống. Chính Wonfer cũng thế nốt. Mà dù có kiếm ra việc làm điều vô cùng khó ở nước Đức thời những năm 1920 cũng không nuôi nổi sáu cái tàu há mồm quen ăn cao lương mĩ vị, mặc lụa là gấm vóc và tiêu tiền như rác kia! Cả nhà bẩy con người chẳng bao giờ bàn tính chuyện làm ăn lương thiện. Nhà quí tộc dòng dõi vua nước Nga mở đầu sự nghiệp bằng những trò ăn cắp vặt vãnh, sau đó được mẹ và các cô chị cô em nhiệt liệt khuyến khích, tiếp tay rất hiệu quả.
Dĩ nhiên đi đêm mãi ắt có ngày gặp ma. Một bữa kia, hắn và một cô ả bị bắt quả tang, bị truy tố ra tòa. Ngay trong lần đụng độ đầu tiên với cơ quan pháp luật Wonfer đã tỏ ra thông minh xuất chúng, khéo chối tội nên được tòa tha bổng “không phải chịu trách nhiệm hình sự” trong khi ả kia không sáng ý bằng hắn nên phải lĩnh ba năm rưỡi tù ngồi.
Năm 1926 cả bọn thấy chán thành phố Berlin không hiếu khách, bỏ đi lập nghiệp ở Vienna thủ đô nước Áo. Hồ sơ tư pháp của chúng được cảnh sát Đức chuyển cho Interpol.
Ở Vienna, nhà quí tộc Wonfer thi thố tài nghệ qua nhiều màn diễn xuất sắc, nhiều màn được dân chúng truyền tụng như những chuyện huyền thoại tân thời.
Nguyên tắc cơ bản chủ đạo mọi hành động của Wonfer là nguyên tắc “viễn chinh”. Để thực thi nguyên tắc này hắn thuê một xe hơi có tài xế, đưa người mẹ cùng đi với một cô em. Xe rong ruổi trên đường, chở bộ ba đến những thành phố ăn chơi, những sòng bạc sầm uất nhất như BadenBaden, Lugano, Monte Carlo…
Một chiều thứ Năm, hắn tới cửa hàng bán đồ lông thú ở BadenBaden đòi xem những tấm áo lông đẹp nhất. Hắn tỏ vẻ ưng ý chiếc măng tô lông cáo trị giá gần hai chục ngàn đôla.
– Tôi định mua tặng cô vợ chưa cưới nhân buổi dạ hội trong dịp nghỉ cuối tuần sắp tới. Nhưng tôi còn phải biết chắc cô ấy ưng ý mới mua.
Chủ tiệm đon đả:
– Để tôi cho nhân viên ra mặc thử ngài coi.
Cô người mẫu của cửa hàng khoác chiếc áo lộng lẫy lên mình, uốn éo đánh mông vài lần trước cặp mắt soi mói của nhà quí tộc ngồi chễm chệ trên phô tơi. Nhòm một lúc lâu rồi ngài phán xanh rờn:
– Cô này không cùng khổ người với vị hôn thê của tôi. Phải chính cô ấy mặc thử tôi mới yên tâm.
Wonfer gọi điện về khách sạn. Mẹ hắn nhấc máy.
– Mẹ ơi! Mẹ đưa Irina tới đây giúp con được không hử mẹ? Vừa kiếm ra tấm áo lông thú khá đẹp nên con muốn cô ấy tới đây thử xem có ưng ý không.
Người mẹ viện ra đủ thứ khó khăn này nọ. Nhà quí tộc vật nài:
– Con cho tài xế đánh xe về rước mẹ và Irina. Mẹ chỉ mất độ một tiếng đồng hồ là xong thôi mà! Chiều con một chút đi, mẹ yêu!
Người mẹ trả lời cho biết bà đang bận nhiều chuyện quan trọng hơn chuyện đi thử áo. Thất vọng, nhà quí tộc đành nhượng bộ:
– Thôi vậy, con tuân theo ý mẹ chứ biết làm sao giờ! Để con hẹn với cửa hàng.
Hắn quay sang chủ cửa hàng:
– Mẹ và vị hôn thê của tôi chưa thể tới ngay bữa nay. Ngày mai, khoảng năm giờ chiều, được không?
– Dạ, được ạ.
– Tôi trả tiền trước. Ông phải giữ chiếc áo này cho tôi.
Wonfer trao tấm séc 20 ngàn đôla.
Hôm sau đúng giờ hẹn, nhà quí tộc, mẹ và cô vợ chưa cưới của hắn trở lại cửa hàng áo lông thú. Thấy khách chuẩn bị ra về mang theo tấm áo, chủ cửa hàng tỏ vẻ bối rối. Ông ta muốn kiểm tra xem tờ séc có bảo chứng không. Nhà quí tộc ngạc nhiên:
– Ủa, thế ông chưa kiểm tra ư? Cứ việc!
Lúc này đã hơn năm giờ chiều, quá giờ làm việc của ngân hàng. Chủ cửa hàng không sao gọi được, đứng tần ngần nhìn vị khách bỏ áo vào hộp. Người mẹ, cô vị hôn thê, nhà quí tộc và ngay cả gã lái xe cũng đều có vẻ không bằng lòng. Nhà quí tộc lên tiếng, giọng hơi xẵng:
– Tôi đưa séc từ hôm qua, ông đã có thừa thì giờ để kiểm tra. Tôi cũng đã cho ông địa chỉ khách sạn tôi thuê. Và đã nói cần chiếc áo này cho dịp nghỉ cuối tuần của vị hôn thê tôi. Nếu có chuyện gì khúc mắc ấy là tôi phòng hờ thế chứ chắc chẳng có chuyện gì ông hẳn biết nơi tìm tôi và sáng thứ Hai tôi sẽ cho người mang áo trả lại ông.
Chủ cửa hàng thấy rõ trục trặc này do mình gây ra nên cúi đầu chấp thuận để khách mang áo đi.
Sáng thứ Hai tuần sau đó, ngân hàng trả lời chủ cửa hàng áo lông thú: tờ séc chẳng đáng giá một xu, sổ ngân phiếu đứng tên giả không có giá trị mảy may.
Chủ cửa hàng đành ngậm quả bồ hòn làm ngọt, chịu mất toi chiếc áo 20 ngàn frăng.
Một mẹo khác được Wonfer đặt tên là “bản nhạc cuối tuần” do hắn bỏ ra nhiều công sức tạo ra với nhiều khúc biến tấu lịm người. Ví dụ: hắn gửi một số tiền khá lớn vào ngân hàng gần nơi hắn định khua khoắng rồi tới cửa hàng đòi mua món hàng thật cao giá. Khi chủ cửa hàng điện hỏi nhà băng tất nhiên được xác nhận tờ séc hắn đưa có giá trị vì có bảo chứng đàng hoàng. Chủ cửa hàng để khách lấy hàng đi. Mươi phút sau Wonfer tới ngân hàng phàn nàn: chủ cửa hàng đòi thanh toán bằng tiền mặt. Ngân hàng cho hắn rút số tiền vừa gửi. Thế là Wonfer vừa chôm được hàng vừa rút được tiền.
Một hôm có chiếc RollsRoyce dừng bánh trước cửa tiệm kim hoàn lớn trên quảng trường Vendome, Paris. Trên xe bước xuống nam tước Volfgard rất trẻ, ăn bận cực kì sang trọng. Nam tước vào tiệm, ngỏ ý muốn xem những món nữ trang quí hiếm nhất. Chủ tiệm hớn hở đưa ra nhiều món quí giá, đặc biệt là viên ngọc “Trái Lê” rất to rất sáng, hình thon thả trái lê, một viên ngọc rất hiếm trị giá bằng cả một gia tài: khoảng 2 triệu frăng Nam tước có vẻ chần chừ.
– Viên ngọc khá đẹp. Nhưng tôi muốn món quà tặng của tôi phải là thứ gì thật độc đáo.
Chủ tiệm săn đón vị khách sộp.
– Thưa ngài, món này là độc đáo đấy chứ ạ.
– Chỉ một viên thì chưa thật đẹp. Vả lại mọi người thường hay kiêng được tặng một viên duy nhất. Nếu có hai viên y hệt nhau, món quà sẽ giá trị gấp bội.
– Ôi, làm sao có được hai viên ngọc y hệt nhau, thưa ngài. Không thể kiếm đâu ra một trái lê thứ hai cũng sáng cũng trong như thế này và kích cỡ cũng ngang bằng nhau. Dứt khoát không đâu có. Giả dụ có thì hai viên ngọc giống hệt nhau như viên này là thứ vô giá không ai mua nổi.
Đúng như chủ tiệm kim hoàn nói, viên ngọc này trị giá hai triệu, nếu có hai viên để gắn lên đôi bông tai chẳng hạn thì giá của nó tăng lên tới 6 triệu.
Sau một hồi cân nhắc suy tính, vị nam tước quyết định:
– Tôi bằng lòng mua. Nhưng ông phải cố tìm cho tôi một viên nữa y hệt viên này. Tôi sẽ đợi và sẽ trả một giá thỏa đáng.
Ông ta đưa tờ séc mang tên nam tước Volfgard rồi bỏ túi viên ngọc. Chủ tiệm hỏi:
– Xin nam tước cho biết nếu có viên thứ hai ngài sẽ trả cho tôi bao nhiêu?
– Ba triệu.
– Tôi sẽ cố hết mình. Nhưng xin thưa thật: ngài đừng quá trông chờ.
Mấy tháng liền sau cuộc mặc cả này, nam tước Volfgard tức Wonfer ba bốn lần dừng chiếc RollsRoyce trước của tiệm kim hoàn trên quảng trướng Vendome, thò đầu ra cửa xe hỏi:
– Có chưa?
Chủ tiệm nháo nhào chạy ra.
– Thưa nam tước chưa. Rất tiếc!
Nhiều tháng trôi qua. Mỗi tháng nam tước ghé một lần. Vẫn chưa kiếm ra hử? Này, tôi trả 4 triệu. Cố lên!
Tháng nào nam tước bận công việc không tới được thì tài xế tới hỏi:
– Kiếm được hàng cho nam tước chưa, ông chủ tiệm?
– Nhờ anh thưa giúp: chúng tôi vẫn cố sức tìm nhưng chưa có. Xin nam tước thứ lỗi.
Dần dần tất cả các chủ cửa hàng nữ trang của Paris đều biết tin chủ tiệm kim hoàn trên quảng trường Vendome đang lùng một viên ngọc “Trái Lê” cho vị khách sộp.
Một bữa kia, ông chủ tiệm kim hoàn lớn nhất trên đường Saint Honoré mừng hết biết khi một thiếu phụ tới dạm bán viên ngọc “Trái Lê” tuy với giá hơi đắt: 4 triệu. Ông điện hỏi chủ tiệm trên quảng trường Vendome:
– Có rồi. Họ đòi những bốn triệu, chưa kể phần trăm cho tôi. Lấy không?
Chủ tiệm Vendome không do dự:
– Lấy đại đi.
Chủ tiệm Saint Honoré mở két trả cho em gái Wonfer 4 triệu do thằng anh nó mua cách đây mười một tháng ở cửa hàng trên quảng trường Vendome với giá 2 triệu.
Trung tâm Interpol quốc gia của rất nhiều nước theo dõi tỉ mỉ các phi vụ làm ăn của Wonfer nhưng chịu bó tay không sao biết hết và thống kê nổi số vụ và số tiền hắn kiếm được bằng những thủ đoạn lừa bịp láu cá và luôn có sự trợ lực hữu hiệu của mẹ hắn hoặc chị em hắn. Những vụ lừa đảo của Wonfer diễn ra khắp nơi: Venice, Paris, Brussels, Budapest, Tyrol, Bồ Đào Nha, Milan, Grenoble, New York… Thỉnh thoảng lắm Wonfer mới chịu vào nghỉ chân trong tù vài bữa ngắn ngủi, đặc biệt lần nào bị bắt hắn cũng tìm được cách gỡ tội cho mẹ hắn. Vì thế mẹ hắn chỉ ngồi tù tổng cộng có ba tháng.
Năm 1949 mẹ Wonfer tám mươi chín tuổi, hắn năm mươi tư. Tóc Wonfer đã điểm bạc, vẻ mặt trở nên chững chạc, dày dạn, tinh nhanh hơn trước, trông càng có vẻ cao sang quí phái hơn. Do đó hắn làm ăn càng thuận lợi hơn. Nhưng đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma: Wonfer cũng vấp một vố khá đau.
Ngày 15 tháng Giêng năm đó Wonfer cùng mẹ hắn vào viện bảo tàng. Trong viện trưng bày nhiều bức tranh trong đó có một bức của nhà danh họa Goya. Hai mẹ con đứng lặng hồi lâu ngắm nghía, trầm trồ rồi bình luận cho tới khi chuông báo hết giờ tiếp khách tham quan. Sau khi ban tặng nhân viên bảo vệ nụ cười đầy thiện cảm của người mẹ kèm theo khoản tiền boa hậu hĩ của người con, hai mẹ con ra về. Bức Goya cũng biến theo như trong trò ảo thuật.
Khốn nỗi bà Wonfer đi đâu cũng bế theo một con khỉ con trên ngực. Đặc điểm này đã được Interpol thông báo khắp nơi. Vì thế ông chủ một khách sạn bên Thụy Sĩ thấy bà khách vãng lai tới thuê phòng mang theo con khỉ con tinh nghịch, ông báo ngay cảnh sát. Bức Goya được thu hồi ngay sau đó: bà Wonfer quấn bức tranh quanh bụng. Cảnh sát Thụy Sĩ gô cổ cả hai mẹ con. Chiếu cố cái tuổi tám chín của mụ già, nhà chức trách thả mụ ra, chỉ truy tố một mình Wonfer.
Tại phiên tòa họp ở Berlin, bị cáo Wonfer có vẻ mệt mỏi, đau yếu, hình như đang bị vi trùng lao phổi tấn công mạnh. Hắn năn nỉ đoàn hội thẩm:
– Quí ngài nhìn tôi thì biết tôi đang mắc bệnh nặng. Quá nghiêm khắc với tôi là quí ngài đẩy tôi vào tay tử thần. Tôi già rồi, yếu lắm rồi, tôi đáng được quí ngài mở lượng khoan hồng. Thực tình bây giờ tôi không còn sức để sống đời lang bạt kì hồ như trước nữa. Cũng không còn sức tái phạm bất cứ tội gì. Không còn sức chịu đựng những lo âu dằn vặt của kiếp giang hồ. Xin quí ngài rủ lòng thương xót kẻ này. Mãn hạn tù tôi sẽ lập gia đình tử tế, rẽ cuộc đời chuyển sang hướng khác.
Tòa tin lời hắn ta. Hơn nữa, trong những người ngồi dự phiên tòa có một bà mệnh phụ rất giầu có ở Berlin đứng lên dõng dạc tuyên bố: sẵn sàng kết hôn với tên đại bịp già có đầu óc lãng mạn, và sẵn sàng trang trải mọi khoản nợ nắn của lão.
Wonfer bị kết án ba năm rưỡi tù giam, tuy hắn đáng phải lĩnh án tù chung thân mới đúng. Nghe tòa tuyên án xong Wonfer kính cẩn cúi mình mỉm cười nói: Cám ơn quí tòa.
Hai tháng sau khi mãn hạn tù Wonfer kéo cả nhà về Roma. Trời xui đất khiến thế nào không biết, hắn gặp một họa sĩ chuyên vẽ tranh phiên bản. Wonfer bỏ ra một món tiền nhỏ mua bức tranh chép theo mẫu một bức của danh họa Vermeer. Hắn mang tới cho Valetta một họa sĩ thuộc trường phái hiện đại, tài năng và danh tiếng đều rất bình thường, thuê vẽ trùm lên phiên bản Vermeer một bức tranh khác. Rồi chuẩn bị mang đi Mĩ. Hắn bắt đầy tớ đóng gói thật cẩn thận bức tranh có thể còn chưa khô hẳn và giải thích:
– Bức tranh của Valetta che giấu một tài sản khổng lồ đấy nha. Vì thực ra nó là bức tranh của đại danh họa Vermeer người Hà Lan hồi thế kỉ XVII. Tôi thuê Valetta vẽ đè lên trên là để che mắt bọn hải quan, khỏi bị chúng đánh thuế cao. Sang tới Mĩ tôi tẩy bỏ lớp ngoài, Vermeer của tôi sẽ hiện ra nguyên vẹn.
Xong đâu đấy Wonfer đuổi việc cả hai người đầy tớ.
Đêm trước bữa lên đường sang Mĩ Wonfer bảo mẹ phôn cho hải quan cửa khẩu tố giác nhà quí tộc Wonfer đang âm mưu mang lậu sang Mĩ một bức Vermeer.
Nhân viên hải quan hỏi theo thủ tục:
– Hải quan cửa khẩu đây. Ai gọi?
– Khỏi cần biết tên tôi. Chỉ cần biết tôi là một người đầy tớ vừa bị ngài Wonfer sa thải rất vô lí.
Hôm sau ở trạm hải quan Wonfer xuất trình bức tranh. Thanh tra hải quan hỏi:
– Ông chỉ mang theo một bức này?
– Vâng.
– Ông khẳng định đây là tranh Valetta?
– Vâng.
– Vậy mời ông đi theo tôi.
Trong phòng kế bên, một chuyên viên của hải quan tẩy lớp thuốc vẽ ở một góc bức Valetta. Bên dưới lộ ra một lớp thuốc vẽ, cũ hơn. Wonfer tỏ ra vô vùng ngạc nhiên.
– Chết tôi rồi! Ai ngờ bức Valetta lại vẽ trên mảnh vải cũ như thế này!
Thanh tra hải quan mỉm cười chế giễu:
– Thôi thôi, xin ông đừng vờ vịt nữa. Và đừng hòng qua mặt con cáo già này. Vải thưa che sao được mắt thánh. Ông thừa biết đây không phải một mảnh vải cũ mà một Vermeer thứ thiệt ông định mang chui sang Mĩ!
– Vermeer thứ thiệt ư? Ai bảo các ông thế? Mấy ông điên hết rồi!
– Thôi đừng lắm mồm. Một người đầy tớ bị ông nhẫn tâm đuổi ra vỉa hè đã tố giác ông.
Dĩ nhiên hải quan cho Wonfer đối chất với hai người giúp việc cũ. Dĩ nhiên hai người này đều chối không hề tố giác ông chủ cũ. Nhưng Wonfer khăng khăng nói một trong hai người đã vu cáo, đã tìm cách trả thù chủ cũ một cách hèn hạ, làm gì có chuyện mang lậu thuế Vermeer ra nước ngoài v.v… và v.v…
Nhà chức trách không quan tâm tới chuyện có ai trả thù ai không, họ chỉ quan tâm tới bức Vermeer suýt bị xuất khẩu lậu thuế.
Trong phòng thí nghiệm, các chuyên viên vừa hoàn tất việc bóc lớp vỏ Valetta phủ ngoài bức gọi là Vermeer. Thế là dù đã gân cổ cãi lấy cãi để, nhà quí tộc Wonfer vẫn cứ phải đóng thuế hải quan khá nặng tính theo tỉ lệ phần trăm giá trị bức Vermeer được định giá 28 triệu frăng. Nét mặt Wonfer trông thật thảm hại khi móc ví lấy tiền nộp thuế, tay run run chìa ra nhận tờ biên lai ghi:
Hải quan cửa khẩu X… nhận của nam tước Wonfer số tiền…. triệu Mác là tiền thuế hải quan đánh vào bức Vermeer trị giá….. triệu Mác.
Vậy là từ lúc này trở đi bức Vemeer dỏm của Wonfer nghiễm nhiên được hải quan chính thức cấp giấy công nhận là Vermeer thứ thiệt và còn định giá cho nó nữa! Wonfer mang sang Mĩ tiêu thụ, thu một khoản lãi kếch sù!
Vụ bịp bợm nổi tiếng khắp thế giới này là tác phẩm cuối cùng của cháu gọi Sa hoàng Alếchxăng đệ Nhất bằng cụ cố nội. Sau đó hắn già đi rất nhanh. Mẹ hắn chết lúc chín mươi tuổi. Không còn người cộng sự đắc lực nữa, các mánh lừa đảo của hắn xuống cấp nhanh chóng, mất hết tính tinh khôn, trở thành rất tầm thường. Đã thế, khi đã bước sang chặng cuối đời Wonfer lại mắc chứng đồng tính dục. Hắn bị cảnh sát Đức bắt ở Luxembourg cùng với thằng nhỏ cặp bồ. Tòa án Berlin đưa hắn ra xử tội.
Nhiều người thời đó tuy lên án tên lừa đảo nhưng lại ca tụng Wonfer là người thông minh, có tài và tay không vấy máu.
Đó là do họ không biết rõ lai lịch hắn ta.
Theo Interpol thì từ năm 1941 Wonfer đã là tội phạm hình sự bị giam trong trại tập trung. Tại đây hắn được bọn phát xít cho hưởng nhiều đặc ân, mẹ hắn được thường xuyên vào thăm để chuyển ra ngoài những đồ nữ trang và vật quí hiếm do hắn tước đoạt của các tù nhân khi họ bị ném vào trại. Vì Wonfer là một tên chỉ điểm rất đắc lực của bọn SS.