Khoảng giữa trưa, chuông điện thoại đổ hồi trong đồn cảnh sát Greenhill, một vùng dân cư ở ngoại ô Boston, Mỹ. Trung úy cành sát Brian Clifton nhấc máy.
—Allo! Báo cáo trung úy, cảnh sát viên Hamilton đây. Tôi vừa phát hiện có án mạng trong ngôi nhà số 216 đại lộ Lincoln. Một thiếu phụ trẻ bị giết trong nhà riêng cô ta.
Viên cảnh sát Hamilton ngưng một lát rồi tiếp bằng giọng gần như tâm sự.
– Một vụ cực kì… khó chịu đấy, thưa trung úy.
Vài phút sau trung úy Brian bước vào ngôi biệt thự sang trọng kiến trúc theo kiểu mặt tiền có hàng cột rất đồ sộ. Viên cảnh sát Hamilton đứng chờ sẵn trên bực cửa, sau lưng anh ta là một phụ nữ trạc sáu mươi, vẻ mặt thất thần.Viên cảnh sát dẫn thủ trưởng đi qua gian tiền sảnh lát đá cẩm thạch, vừa đi vừa báo cáo thêm:
—Tôi đang đi tuần tra ngoài đường thì bà giúp việc đây gọi. Xác nạn nhân hiện nằm trong phòng khách.
Hamilton đẩy cánh cửa. Trung úy Brian trông thấy ngay người phụ nữ nằm dưới thảm trải sàn. Người chết có lẽ là một phụ nữ rất đẹp: cao ráo, tóc nâu, mới khoảng hăm lăm tuổi. Váy áo rất sang trọng, chắc do một nhà thời trang nổi tiếng nào đó đo may. Trên đỉnh đầu có vết bầm tím chứng tỏ nạn nhân bị hạ gục bằng một vật nặng. Trước khi chết, thiếu phụ chắc đã chống trả quyết liệt nên mọi đồ đạc trong phòng đều bị vứt tung tóe.
Trung úy cảnh sát ngẩng lên hỏi bà giúp việc đang đứng nhìn, người run cầm cập.
– Đây là ai vậy?
– Cô Dolores Shapman, thưa ông cảnh sát.
Trung úy Brian nheo nheo mắt ngẫm nghĩ, cố lần theo kí ức.
– Nghe quen quen. Cô này từ Mexico di cư sang đây phải không?
– Thưa, đúng.
Trung úy nói tiếp, vừa để cảnh sát viên Hamilton nghe, vừa để chính mình cũng nhớ lại.
– Người này là con gái Bob Shapman, kẻ bị tình nghi là thủ phạm nhiều vụ dùng hung khí trấn lột. Thấy nguy cơ sắp bị tóm cổ, hắn bỏ trốn sang Mexico. Năm 1928 hắn và vợ bị một tên thủ hạ giết chết, sau đó tên này cũng bị cảnh sát Mexico bắn hạ. Hồi đó tôi đã nghe tin con gái hắn ta rời bỏ tổ quốc đi nơi khác, không ngờ thị lại sang đây.
Trung úy bảo cảnh sát viên Hamilton:
– Theo tôi vụ này chẳng có gì khó chịu như anh nói. Bọn bất lương thanh toán lẫn nhau, đơn giản thế thôi.
Hamilton đằng hắng dọn giọng rồi nói.
– Trung úy nghĩ thế vì trung úy chưa sang xem phòng kế bên đấy ạ.
Phòng kế bên là thư phòng, bày biện khá cầu kì. Hai tủ sách lớn che kín hai bức tường phòng, trong tủ toàn những sách thuộc loại quí hiếm. Tuy vậy trung úy cảnh sát chỉ chú ý tới bức tường thứ ba. Anh đứng ngây người, há hốc mồm kinh ngạc dán mắt lên tường. Một lúc lâu mới thốt lên:
– Thật khó tin!
Trước mắt trung úy là bức tường gần kín những khung ảnh lồng kính chụp những nhân vật nổi tiếng nhất thành phố, tất cả không dưới năm chục tấm, tấm nào cũng có mấy dòng chữ của nhân vật trong ảnh đề tặng chủ nhân ngôi nhà. Trung úy Brian bước tới gần, tình cờ tới trước tấm ảnh chụp tổng giám mục X. trên ảnh có dòng chữ “Em Dolores yêu quí, xin hãy nhận tình thương mến và lòng biết ơn sâu sắc của anh”. Ngay bên tổng giám mục là ông thị trưởng, tiếp đó là ngài thượng nghị sĩ, ngài chánh án tòa án thành phố… tất cả các vị tai to mặt lớn này đều viết những lời thật cảm động tặng Dolores Shapman.
Trước những tấm ảnh đó, trung úy Brian bất giác ôn lại quá trình mười lăm năm tận tụy với nghề của mình. Năm nay mới băm lăm, anh đã lập nhiều thành tích xuất sắc, được toàn thể đồng đội coi là người sẽ vươn tới đỉnh cao trong ngành. Nhưng bữa nay đứng trước bức tường này, anh tin chắc con đường sự nghiệp của mình sẽ chấm dứt từ đây. Dù có tài thánh cũng không thoát khỏi tổ ong vò vẽ khủng khiếp này. Trung úy ngập ngừng hỏi bà giúp việc.
– Những vị trong ảnh này là thế nào với bà chủ?
– Thưa, mấy quí ông đó là khách hàng của cô chủ tôi.
Trung úy Brian gần như muốn ngã khuỵu xuống.
– Khách hàng ư? Là khách thế nào?
– Là khách hàng ạ. Cô chủ tôi là nhà thông thái, có tài… dạ, tôi không nhớ mọi người gọi đó là tài gì. Chỉ biết cô chủ chuyên môn đọc chữ của người khác viết.
Nghe xong trung úy Brian cảm thấy dễ chịu hơn: thì ra nạn nhân là người xem tướng chữ, một nhà chiết tự chứ không phải là… như anh thoạt tưởng. Anh lùi lại vài bước, ngắm kĩ bức tường. Một vụ thanh toán lẫn nhau của bọn bất lương, đơn giản thế thôi ư? Không, đừng tưởng bở! Trong tất cả các quí ông đang mỉm cười với anh, người xoàng nhất cũng chỉ vẫy nhẹ tay cũng đủ sức hất đổ sự nghiệp của anh. Nhưng tất cả lại đều là những kẻ tình nghi mà anh phải dò xét, thẩm vấn, trong cuộc điều tra sắp tới!
Ba ngày sau, trung úy cảnh sát Brian tổng hợp các thông tin thu thập được. Dolores Shapman đúng là đã bị sát hại bằng một hung khí nặng, có thể là một món đồ mỹ nghệ bày trong phòng. Hạ thủ xong nạn nhân, nó đã lấy đi. Các chuyên viên sau khi khám xét kĩ mọi ngóc ngách đã lấy được bốn kiểu dấu vân tay, trong đó ba kiểu có rất nhiều gần như khắp mọi chỗ: của nạn nhân, của bà giúp việc, và của một người chắc là rất thân quen, có thể là nhân tình Dolores. Về người này, bà giúp việc không cung cấp được thông tin gì tuy trung úy Brian đã gặng hỏi rất lâu. Bà ta không biết gì vì mỗi ngày bà chỉ tới làm việc vào buổi sáng và chẳng quan tâm gì tới việc riêng, tới các khách hàng của cô chủ. Thậm chí chưa từng giáp mặt bất cứ người nào trong đám khách hàng danh tiếng của cô chủ, bởi lẽ Dolores chỉ tiếp khách vào buổi chiều.
Trung úy Brian chú ý nhiều nhất tới dấu vân tay thứ tư. Các chuyên viên phát hiện ra nó phía dưới mặt một chiếc bàn kê ngay trong phòng. Rõ ràng đây là dấu tay tên giết người. Nó đã cẩn thận tìm cách xóa sạch mọi dấu vết trước khi tẩu thoát, nhưng như thường vẫn xẩy ra, nó vẫn bỏ sót.
Trung úy lái xe chạy trên các con đường phố của Boston, mặt nhăn như chiếc bị rách. Việc gay go nhất đang chờ anh. Dấu tay thứ tư là của ông Thị trưởng, ngài Thượng nghị sĩ hay Đức tổng giám mục? Không lẽ lại là của nhà Tỉ phú lừng danh thế giới? Anh sẽ phải tìm biết sự thật. Phải tới gặp từng người một trong tất cả những vị tai to mặt lớn kia.
“Xin đức cha thứ lỗi, kính mong đức cha gí ngón tay trỏ vào hộp mực này rồi áp lên tờ giấy này. Kính xin đức cha đừng ngại, đây chỉ là thủ tục thông thường thôi ạ. Mọi người liên quan tới một vụ án mạng đều phải qua thủ tục này…”
“Xin ngài thượng nghị sĩ ấn mạnh ngón tay hơn chút nữa…”
“Thưa Vua Dầu mỏ, mong ngài không phiền trách tôi đã đến quấy rầy ngài. Tôi là cảnh sát hình sự đang thực thi công vụ…”
Mới chỉ tưởng tượng đến đây, trung úy Brian đã biết mình không có đủ can đảm tới vuốt râu từng ấy con hùm. Anh thừ người tính kế thoát khỏi tình thế hiểm nghèo. Nghĩ mãi, nghĩ mãi cuối cùng Brian cũng tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm, tìm thấy cứu tinh: thẩm phán Flint, người có bức ảnh treo ở chỗ dễ thấy nhất trên bức tường trưng bày ảnh.Trung úy đã nhiều lần gặp ông thẩm phán để phối hợp công tác, hai người không những đã quen biết nhau mà còn có thiện cảm với nhau. Điều tra vụ án mạng qua thẩm phán Flint tuy không dễ nhưng đây là phương án khả thi duy nhất.
Trung úy Brian thu hết can đảm khi bước qua cánh cửa bọc da của văn phòng vị thẩm phán hàng đầu trong thành phố. Thẩm phán Flint rời khỏi ghế, đứng lên niềm nở tiếp Brian. Ông đã trạc lục tuần, người cao lớn, dáng oai vệ nhưng lần nào gặp trung úy ông vẫn tỏ vẻ thân mật.
– Anh bạn thân mến! Lâu lắm chúng mình không gặp nhau rồi đấy. Quên ông bạn già này rồi chăng? Nào, mời ngồi… Vụ án nào đưa anh tới đây thế?
Trung úy cảnh sát rụt rè ngồi ghé vào mép ghế phôtơi, hít một hơi thật dài rồi nói:
– Vụ Dolores Shapman vừa bị giết hại.
Thẩm phán Flint chống hai ngón tay bên phải xuống mặt bàn, miệng vẫn mỉm cười hỏi tiếp:
– Nạn nhân là người như thế nào? Anh nói tôi nghe thử…
Trung úy Brian ngớ người nhìn ông thẩm phán.Con người lâu nay anh vẫn suy tôn là hiện thân của lòng chính trực, của đạo đức trong sáng, vậy mà lại giả bộ không biết Dolores là ai. Lão này giả dối quá chừng!
Thấy trung úy ngồi im, mặt thộn ra như người chợt nhận ra mình đi lạc đường, thẩm phán Flint sốt ruột nhắc lại:
– Nạn nhân như thế nào? Nói đi chứ anh Brian.
Trung úy thầm nguyền rủa số mệnh tàn nhẫn buộc anh phải tiêu hủy sự nghiệp ngay từ ngày đầu tiên mở cuộc điều tra. Nhưng lương tâm nhà nghề khiến anh vẫn cứ đặt nhiệm vụ lên trên hết.
– Bữa nay tôi tới gặp ông thẩm phán với tư cách ông là nhân chứng trong vụ cô Dolores bị giết hại. Bởi lẽ ông là một trong những người biết rõ nạn nhân.
Flint bật khỏi chiếc ghế đang ngồi.
– Cái gì? Tôi thậm chí chưa một lần nghe nói đến cái tên của người này. Anh điên rồi ư?
Đâm lao phải theo lao, dù nguy hiểm đến mấy trung úy vẫn cứ phải tiếp tục. Anh mở cặp da, rút bức ảnh lồng khung kính có lời đề tặng.
– Mời ông thẩm phán nhìn qua thì biết.
Đến lượt thẩm phán Flint hốt hoảng. Ông líu lưỡi, lắp bắp đọc:
– “Tặng Dolores Shipman, nàng phạm tội có quá nhiều sức quyến rũ và tài năng nên tôi kết án nàng phải chịu đựng tình thương mến của tôi đến chung thân”… Trời Đất Quỉ thần ơi! Tôi không sao hiểu nổi! Thế này là thế nào?
– Có phải chữ ông đây không?
– Đúng chữ tôi. Thế mới lạ!
Ông thẩm phán níu chặt cánh tay trung úy cảnh sát.
– Anh Brian thân mến! Tôi xin lấy danh dự thẩm phán mà thề độc với anh rằng tôi không hề viết mấy lời ngu ngốc ấy. Và cũng chưa lần nào gặp thiếu phụ đó. Anh có tin tôi không?
Trung úy cảm thấy trong lòng đang xen lẫn nhiều ý nghĩ trái ngược, rối tung như mớ bòng bong. Nhưng đồng thời cũng le lói một tia hi vọng nhỏ nhoi. Lần đầu tiên anh thấy hé mở một lối thoát cho mình. Nhìn thẩm phán Flint lâu nay vẫn là thần tượng được mọi người dân thành phố ái mộ tôn sùng nhưng giờ đây chỉ là một ông già đang van vỉ cầu khẩn mình với vẻ thành thực hiện rõ trên gương mặt và qua giọng nói, trung úy cảm động đáp:
—Tin, tôi rất tin. Tuy tình hình xem ra có vẻ đầy bí ẩn, nhưng chắc chắn tôi sẽ tìm ra sự thật. Dù có phải thức trắng nhiều đêm nhìn vào các bức ảnh đó.
– Ủa, thế ra còn có nhiều bức ảnh khác?
– Nhiều. Ảnh của tất cả những vị tên tuổi ở Boston.
Quá xúc động nên thẩm phán Flint không biết nói gì hơn khi tiễn chân trung úy cảnh sát Brian ra về, ông chỉ nói:
– Cầu Chúa che chở và giúp anh tìm ra sự thật!
Trung úy Brian không phải thức trắng nhiều đêm để khám phá bí ẩn các lời đề tặng trên các tấm ảnh. Anh đã nghĩ ra một mẹo trước đây chưa lường tới: tháo khung kính, nghiên cứu trực tiếp bề mặt các tấm ảnh. Phân tích kĩ bằng những biện pháp nghiệp vụ, trung úy kết luận: trên tất cả các tấm ảnh chỉ có duy nhất hai dấu vân tay, của Dolores và của một người thứ hai, chắc là gã phó nhòm. Những dấu tay này cũng là những dấu in khắp mọi chỗ trong căn phòng. Ngược lại, không phát hiện dấu tay bất cứ vị khách hàng nào của Dolores trên các tấm ảnh của họ. Viết lời đề tặng rồi kí tên bên dưới mà không để lại dấu vân tay là điều không thể…
Vậy là bài toán đầu tiên, bài toán hắc búa nhất đối với trung úy Brian đã có lời giải. Chính Dolores Shapman với tài xem chữ sẵn có đã bắt chước chữ viết của các nhân vật trên ảnh. Nhưng thị lấy mẫu ở đâu? Trung úy tự nhủ sẽ làm rõ điểm này. Trước mắt cần tìm ra gã phó nhòm bí ẩn rồi sẽ tính chuyện kia sau. Mỗi việc đều có thời điểm thích hợp của nó.
Gã phó nhòm chẳng phải một con người bí ẩn. Trung úy Brian dễ dàng tìm ra gã ta. Đó là Jack Crowley nhà nhiếp ảnh được tín nhiệm nhất thành phố. Tất cả các nhân vật tiếng tăm nhất đều là khách hàng của nhà chụp ảnh chân dung rất tài ba này. Vì thế nên Jack có trong tay ảnh của tất cả bọn họ.
Bữa xẩy ra án mạng, Jack không có nhà. Anh ta đâu phải tay xoàng: đích thân chánh văn phòng phủ tổng thống gọi Jack tới Washington thực hiện một loạt chân dung tổng thống và gia đình.
Dĩ nhiên, khi Jack trở về Boston sau khi hoàn thành nhiệm vụ cao cả, trung úy Brian đã chờ sẵn ở nhà ga.
– Chào anh Jack Crowley! Xin vui lòng đi theo tôi. Tôi có tin dữ cần báo anh biết và nhiều câu hỏi cần anh giải đáp.
Đưa Jack về tới phòng làm việc của mình trung úy mới cho Jack biết tin người tình của gã đã bị giết. Gã phó nhòm tái mét mặt, không cầm nổi nước mắt tuôn ra, luôn tay vò nát chiếc khăn tay lụa rồi thổn thức:
– Mong trung úy thứ lỗi. Vụ này quá bất ngờ, quá khủng khiếp!
Trung úy Brian miễn cưỡng:
– Tôi thông cảm, chia sẻ nỗi đau buồn của anh… Nhưng anh cũng phải thông cảm với tôi: tôi cần hỏi anh để biết rất nhiều điều, hơn nữa tôi sẽ tỏ ra tọc mạch nữa cơ…
Phó nhòm Jack ngẩng đầu nhìn trung úy, tỏ vẻ kiên quyết:
– Tôi sẽ làm hết sức mình tiếp tay trung úy tìm ra kẻ giết hại Dolores Shapman.
– Rất cảm ơn, Jack Crowley! Anh đã đưa những bức ảnh đó cho Dolores nhằm mục đích gì?
– Trước hết xin nói để trung úy biết Dolores là con người như thế nào. Chắc trung úy đã biết cô ấy sang đây từ bốn năm nay sau khi bố mẹ cô ấy bị giết. Sang đây hòng thay đổi môi trường sống, có điều kiện làm lại cuộc đời. Sẵn có tiền trong tay cô ấy theo học khoa chiết tự và rất thành công… Dolores có năng khiếu về môn này. Cô tin chắc với tài đó cô sẽ có cuộc đời tốt đẹp. Nhưng chẳng có điều gì suôn sẻ đến với cô ấy Jack thở dài não nuột.
– Tôi gặp Dolores vào thời điểm đó. Giữa lúc cô ta đang tuyệt vọng vì toàn gặp xui xẻo trong làm ăn.
Không có khách, vì phường cô ấy sống ở Boston là một phường gồm toàn những người giầu sang, sống theo những nguyên tắc chặt chẽ, không có lòng nhân ái, khoan dung. Họ biết rõ tung tích cô ta nên tuy Dolores cũng khá giầu có nhưng mọi người vẫn coi cô chỉ là con tên tướng cướp Bob Shapman.
Trung úy Brian hơi sốt ruột.
– Khỏi kể lể về người dân Boston. Tôi hiểu rõ họ không kém gì anh. Hãy đi thẳng vào vấn đề chính.
Gã phó nhòm buồn rầu nhìn trung úy.
– Những gì tôi vừa nói chính là chìa khóa của vụ án mạng này. Có lẽ vì muốn chuộc lại những lỗi lầm trong quá khứ tuy không phải do cô ấy gây ra nên cô ấy có tham vọng rất lớn về mưu cầu danh giá, rất thiết tha hội nhập vào xã hội thượng lưu của thành phố. Cô nghĩ ra mẹo dùng các bức ảnh. Trong khi tôi là người quen biết tất cả bọn họ, do nghề nghiệp của tôi lâu nay. Ông trung úy hiểu chứ?
– Hiểu. Dolores làm cách nào để giả mạo chữ kí của họ?
– Rất đơn giản. Tôi đưa cho cô ấy các tấm séc họ trả tiền công tôi chụp ảnh. Thế là đủ để cô ấy viết những lời họ đề tặng y như thật trên các tấm ảnh. Mẹo của cô ấy rất ăn tiền. Từ sau đó rất đông khách hàng tới lui. Nhưng theo tôi biết thì Dolores chủ yếu không nhằm kiếm tiền mà cần những ảo tưởng. Ngắm mãi các tấm ảnh, đọc mãi những lời đề tặng ngọt lịm cuối cùng chính cô cũng tin đó là sự thật.
Trung úy cảnh sát Brian lạnh lùng nhìn thẳng vào mắt gã phó nhòm.
– Jack Crowley! Anh đã đi Washington đúng vào ngày Dolores bị giết?
Jack hình như hơi chột dạ.
– Vâng, chắc ông trung úy cũng biết bữa đó tôi có đơn đặt hàng của nhà nước.
Mắt gã chợt ánh lên sắc lẻm như ánh dao cạo.
– Trung úy hãy tin tôi. Tôi không giết Dolores và có thể giúp trung úy tóm cổ tên sát thủ.
– Bằng cách nào, nói nghe thử?
– Tôi biết rất kĩ ngôi nhà đó. Còn ông trung úy thì chi biết những gì ông vừa trông thấy. Giả sử có đồ vật nào bị lấy đi liệu ông trung úy có biết không?
Jack Crowley rút trong ví một tấm ảnh.
– Tôi chụp Dolores đứng trước bức tường trưng bày các tấm chân dung. Theo ông trung úy, trên tường có bao nhiêu tấm ảnh?
Trung úy Brian Clifton đã thuộc lòng con số.
– Bốn mươi chín.
Jack dùng ngón tay đếm trên tấm ảnh gã vừa lấy ra cốt để Brian nhìn theo.
– Thưa trung úy, có tất cả vừa tròn năm chục cơ đấy. Ít ra cũng trước khi hung thủ lấy đi tấm ảnh chụp nó!
Vài giờ sau trung úy cảnh sát Brian ngồi trong phòng làm việc của Francis Miller giám đốc ngân hàng tư nhân Miller & Miller. Ông ta là một nhân vật rất quan trọng đang vận động tranh cử ghế thượng nghị sĩ và hạ gục vị thượng nghị sĩ đương nhiệm. Ảnh ông Miller tuy có trong tấm do Jack Crowley chụp, nhưng sau khi xẩy ra án mạng thì biến mất tăm, không hiểu tại sao, bằng cách nào.
Francis Miller tiếp trung úy Brian rất niềm nở. Người muốn nhận được nhiều phiếu bầu tất nhiên phải niềm nở với cử tri, đặc biệt với các cử tri cảnh sát.
– Rất sung sướng được tiếp trung úy. Ông cần tôi giúp gì, xin cho biết.
Trung úy quyết định đánh đòn phủ đầu thật mạnh.
– Có đấy. Tôi đang cần ông cho biết ông làm gì ngày 16 tháng Hai, lúc mười giờ ba mươi phút, thời điểm cô Dolores Shapman bị giết chết?
Đòn hiểm đã trúng đích. Vị chủ ngân hàng ứng viên thượng nghị sĩ lúng búng không ra hơi:
– Nhưng… Có chuyện gì…? Sao ông lại hỏi tôi…?
Lúc này trung úy Brian đã có đủ can đảm đặt câu hỏi mà lúc sắp mở cuộc điều tra anh nghĩ mình sẽ không dám nêu ra:
—Thưa ngài Miller, mong ngài vui lòng nhúng ngón tay vào hộp mực này rồi ấn lên tờ giấy này. Chắc ngài thừa biết tên hung thủ đã lấy đi tấm ảnh chụp nó treo trên tường nhà nạn nhân Dolores và xóa hết mọi dấu vết. Tất cả, trừ một dấu tay bỏ sót dưới mặt bàn.
Thế nào, ông Miller? Ông vui lòng nhúng tay vào hộp mực chứ?
Nhà tỉ phú biết khó thoát nên phải cúi đầu nhận tội.
—Tôi có nghe nói nhiều về tài đoán chữ của cô Dolores Shapman và tham vọng về địa vị xã hội của cô ta. Tôi đến thương lượng làm ăn với cô ấy. Thương lượng như thế này: nếu Dolores bắt chước chữ ông thượng nghị sĩ đương nhiệm để viết những lời làm mất thanh danh ông ta, tôi sẽ mở đường cho cô ấy vào thế giới thượng lưu.
Francis Miller ôm đầu gục xuống.
– Khốn nỗi tôi không hiểu rõ bản chất cô ta. Một ả khùng. Ả dám hù dọa tôi, vâng, ả đã hù dọa tôi. Ả lật ngược vấn đề, nói sẽ không giả mạo chữ ông thượng nghị sĩ kia mà sẽ giả mạo chữ tôi nếu tôi không giới thiệu và bảo lãnh ả gia nhập cộng đồng những người có vai vế ở Boston. Thế là hai người đánh lộn. Điên tiết lên, tôi không còn đủ sáng suốt nữa. Vớ được bức tượng đồng trên bàn, tôi…
Trung úy cảnh sát Brian Clifton khoái chí mỉm cười. Cuộc điều tra đầy rủi ro nguy hiểm đã kết thúc, cấp bậc trung úy của anh vẫn vững như đinh đóng cột, hơn nữa, tiền đồ thăng tiến của anh càng được củng cố hơn bao giờ hết. Anh liếc mắt lên bàn làm việc của vị chủ ngân hàng, nhìn những trang viết của nhà tỉ phú rải đầy mặt bàn. Trung úy kết luận:
– Xét cho cùng, Dolores Shipman tuy giỏi khoa chiết tự nhưng cũng đã phạm một sai lầm lớn khi hành nghề: không đoán ra nét chữ của ông là chữ của kẻ giết người.