Những Vụ Lừa Đảo Nổi Tiếng Thế Giới

Lượt đọc: 116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ngôi nhà có ma

❊ ❊ ❊

Ông thị trưởng gò tấm thân phì nộn nặng nhọc ngồi xuống thân cây đổ, nhìn ngôi nhà trước mặt: nhà xây gạch, rất lớn, rui mè bị hỏa hoạn thiêu cháy gần hết, những mảng tường nứt nẻ xiêu vẹo có thể đổ ụp bất cứ lúc nào, vài thanh sắt cong queo rỉ sét gợi hình dáng một hành lang cũ không còn tồn tại, những dây leo rừng lủng lẳng trên cửa sổ, mấy bụi cây dại mọc kín khu vườn khiến nó giống một cánh rừng hoang… Thị trưởng đã từng thấy những ngôi nhà có vẻ kiêu kì, hoặc xấu xí, hoặc đáng nghi là ổ trộm cắp, còn ngôi nhà linh mục Dumley kia thì đầy vẻ bí ẩn, gợi lên cảm giác rờn rợn kinh hãi… Không những vì vẻ hoang phế mà còn vì kiểu kiến trúc quái gở của nó, vì vị trí của nó giữa hai rặng cây um tùm vừa che kín ánh mặt trời vừa rì rầm không ngớt giữa làn gió ẩm lạnh ngày đêm quét qua ngọn đồi vùng Essex này.

Vì thế chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi từ nhiều năm nay du khách người Anh kéo tới đây rất đông để tham quan những phế tích điêu tàn, nghe người hướng dẫn kể những chuyện ma rùng rợn, ngoài ra còn có rất nhiều người hành nghề khoa học huyền bí tới làm những thí nghiệm kì lạ giữa bóng tối âm u lạnh lẽo và mùi ẩm mốc nghẹt thở.

Cũng vì thế nên thị trưởng Carrroll bữa nay phải tới trước “ngôi nhà có ma thiêng nhất nước Anh” để quyết định một việc tối quan trọng: phá bỏ hay để mặc nó với các con ma thiêng?

Thị trưởng Carrroll do dự, chưa biết nên quyết định thế nào. Ông đứng lên, đi tới gần ngôi nhà. Gương mặt đầy vẻ đăm chiêu với chiếc cằm hai ngấn, ông nhướng đôi mắt nhỏ xanh biếc qua cặp kính lão nhìn vào khuôn cửa chính đang thấp thoáng ẩn hiện những bóng đen mơ hồ. Cuộc họp do ông cầm trịch sắp bắt đầu.

Cuộc họp tiến hành trong gian phòng lớn duy nhất còn sử dụng được của ngôi nhà linh mục Dumley. Những người tham dự phiên tòa xét xử số phận ngôi nhà ngồi trước bức tượng hai tu sĩ cụt mũi đứng hai bên đỡ thùng lò sưởi. Họ là thành viên hội đồng thành phố và các nhân chứng. Ngồi mấp mé trên mấy chiếc ghế xiêu vẹo mang vào từ ngoài vườn, họ lắng nghe viên thư kí tòa thị chính tóm tắt vụ việc. Viên thư kí để râu, cận thị nặng, giương mục kỉnh hắng giọng đọc to tờ biên bản:

– Hồi thế kỉ XIII, tại vùng quê nọ của nước Anh, người ta xây dựng một tu viện. Trong số tu sĩ có một người đã bỏ trốn, mang theo một nữ tu. Sau đó tu sĩ này bị bắt và bị xử tử, nữ tu bị chôn sống trong tường tu viện. Suốt nhiều thế kỉ qua hồn ma hai người bị bắt và người đánh xe không có đầu thường hiện lên cùng với chiếc xe chở họ.

Viên thư kí ngừng đọc. Thị trưởng đưa đôi mắt ti hí liếc nhìn xung quanh. Trong cử tọa, một người giơ tay xin phát biểu: mục sư Wesson.

– Tôi có một nhận xét nhỏ.

Thị trưởng gật đầu:

– Tôi sẵn sàng nghe.

Mục sư Wesson tiếp:

– Truyền thuyết do ông thư kí vừa nêu không chính xác. Diễn biến các sự kiện cho thấy một truyền thuyết khác hẳn.

Ông thị trưởng bất giác thở dài.

– Vậy là có những hai dị bản. Vấn đề lại càng thêm phức tạp. Thôi được, ta sẽ cân nhắc thêm. Mời ông thư kí tiếp tục.

– Đến thế kỉ XIV, mục sư Herbert Veal xây tại địa điểm này một tu viện. Mục sư ở tại đây cùng bà vợ và mười bốn người con, không gặp rắc rối gì. Con trai cả của ông nối nghiệp cha lên làm mục sư. Ngày 28 tháng Bẩy năm 1900 hồn ma nữ tu xuất hiện lần đầu tiên, sau đó tình hình trở lại yên tĩnh như trước, nhưng đây là sự yên tĩnh trước cơn bão lớn. Năm 1928, ngày 2 tháng Mười, mục sư Harry Wesson được bổ nhiệm về phụ trách ngôi nhà linh mục Dumley.

Viên thư kí lại phải dừng lời vì bị mục sư Wesson cắt ngang lần nữa.

– Xin phép nhận xét: câu chuyện ông thư kí vừa kể có dụng ý, không khách quan. Sự thực là trước khi tôi được cử về đây, ngôi nhà linh mục Dumley này đã do con trai mục sư Herbert Veal phụ trách trong ba chục năm. Và anh ta đã khẳng định: ngôi nhà có ma. Hơn nữa, chính anh ta đã nói trước khi chết: anh ta sẽ làm tất cả những gì cần làm để giữ liên lạc với người sống. Ý kiến tôi là như vậy, thưa thị trưởng.

Viên thư kí giương mục kỉnh đọc tiếp:

– Năm 1929, thấy ngôi nhà linh mục Dumley có ma, mục sư Wesson báo tin cho tòa soạn báo Daily Mirror. Tòa soạn tờ báo cử John Jewel một phóng viên chuyên điều tra các vụ ma quái về tìm hiểu tình hình. Cuộc điều tra của John Jewel bắt đầu ngày 12 tháng Sáu năm 1929. John Jewel ghi nhận: anh bị ném đá và nhiều thứ linh tinh khác, phía sau các tấm gương soi có tiếng gõ, bà giúp việc trông thấy ma hiện lên.

Cử tọa nhốn nháo làm viên thư kí lại phải dừng lời. Chuyên gia phát hiện ma John Jewel, thấp lùn, to ngang, đầu hói, mũi khoằm, cằm bạnh, cổ bò mộng lớn tiếng:

– Xin lỗi nhé! Đừng nghĩ sau khi tôi tới mới có những hiện tuợng kì quái đó! Nghĩ thế là sai bét! Chúng xẩy ra từ rất lâu trước đó. Tôi chỉ làm nhiệm vụ thông tin cho bạn đọc biết thôi.

Các nhân chứng xôn xao. Ông thị trưởng kiên quyết:

– Chuyện đó sẽ xét sau. Yêu cầu để ông thư kí tiếp tục tường trình vụ việc theo những sự kiện đã được biết.

Viên thư kí sốt ruột, tăng tốc độ đọc cho chóng xong.

– Ngày 16 tháng Mười năm 1930 mục sư Wesson sợ quá phải bỏ ngôi nhà linh mục Dumley đi nơi khác. Suốt sáu tháng sau đó, không có người phụ trách ngôi nhà. Cuối cùng các giáo chức phải cử mục sư Georges Forsyte tới trụ trì. Trong hai năm tiếp theo, các hiện tượng quái dị liên tiếp diễn ra với nhiều sắc thái khác nhau. Tháng Giêng 1932, một số nhà thông linh tới định thử trừ tà, kết quả có làm các hồn ma đỡ quậy phá nhưng chỉ được ít lâu chúng lại xuất hiện y hệt trước kia. Tháng Năm 1937 John Jewel tuyên bố sẽ làm rõ mọi nghi vấn và vào ở hẳn trong ngôi nhà. Anh ta dẫn tới đây nhiều nhà thông linh để bắt liên lạc với người nữ tu bị chôn sống. Các hiện tượng càng rộ lên. Nửa đêm 27 tháng Hai 1939, ngôi nhà linh mục Dumley bỗng dưng bốc cháy dữ dội. Nhiều nhân chứng trông thấy những bóng đen hình thù kì quái đi lại giữa ngọn lửa. Sau đó, càng có nhiều nhà nghiên cứu về ma quỉ, nhiều nhà thông linh tới điều tra trong các khu nhà đổ nát khiến khu vực này luôn náo động. Hội đồng thành phố phải ra quyết định: làm rõ vụ việc. Nếu quả thật có những hiện tượng khác thường như đã nêu trên, các phế tích sẽ được bảo tồn. Ngược lại, sẽ bị triệt phá vì để lại cũng chẳng có tác dụng gì.

Viên thư kí tháo kính đặt xuống tập hồ sơ. Ông thị trưởng tiếp lời:

– Những nhân chứng nắm được tình hình đều có mặt đông đủ tại đây. Ta sẽ nghe quí vị đó lần lượt cho ý kiến. Sau đó hội đồng thành phố sẽ biểu quyết. Nào… xin mời mục sư Wesson vui lòng thuật lại những ngày mục sư trụ trì ngôi nhà linh mục Dumley.

Mục sư Wesson nói:

– Tháng Mười năm 1928 vợ chồng tôi tới đây. Cảm tưởng đầu tiên khi vừa tới đã rất thê thảm. Ngôi nhà vừa bất tiện vừa xuống cấp nặng. Nhưng điều làm chúng tôi băn khoăn hơn hết là những lời đồn đoán về nó. Tôi không tin nên rất buồn khi thấy con chiên của mình đinh ninh ngôi nhà bị ma ám. Tuy không tin nhưng vẫn phải thừa nhận trong các phòng thỉnh thoảng dội lên tiếng chân bước, tiếng người nói lào xào, tiếng huýt gió qua cửa sổ lá sách. Rồi những cánh cửa ra vào và cánh cửa sổ tự dưng bật ra, sập vào. Ban đêm, trong các phòng không người ở có ánh đèn chợt sáng chợt tắt. Vợ tôi mướn một cô gái mười sáu tuổi, rất nhí nhảnh rất bạo dạn giúp việc nội trợ. Cô bé không sợ ma nên vẫn cứ ở lại tuy thỉnh thoảng lại thấy trên thảm cỏ bóng một nữ tu thấp thoáng rồi biến mất khi cô bé tới gần. Một tối kia, cô ta thấy gần nhà có cỗ xe ngựa “kiểu cổ”, có hai ngựa kéo chạy xuyên qua các thân cây. Và một người đàn ông không đầu nhô lên sau bụi rậm. Cô ta đuổi theo, bóng ma biến mất. Thấy vậy, tôi báo cho ông Rice biên tập viên báo Daily Mirror biết. Ông Rice thấy đây là đề tài thú vị nên ra sức khai thác gây thành một đợt quảng cáo rầm rộ thu hút hàng đống người hiếu kì thay nhau lũ lượt kéo tới suốt ngày này sang ngày khác. Một công ty xe ca tổ chức dịch vụ đưa đón khách tham quan đi tới đi lui. Không khí ồn ào, ô nhiễm làm tôi quá mệt mỏi nên quyết định dọn đi nơi khác. Chỉ có vậy thôi, thưa thị trưởng.

Mục sư Wesson ngồi xuống. Thị trưởng Carrroll quay sang một người tóc húi cua, thân hình dài ngoẵng như cây sào.

– Thưa ông Rice biên tập viên của Daily Mirror. Ông đáp ứng thông tin của mục sư Wesson như thế nào?

– Cũng như mọi nhà báo khác. Tôi tới ngay ngôi nhà Dumley. Nhưng vì không hiểu biết gì về ma quỉ nên tôi kéo theo vị chuyên gia về khoa học huyền bí: ông John Jewel.

– Xin nói rõ ông đã thấy những gì.

– Ngay tối bữa chúng tôi vừa tới đã thấy nhiều chuyện lạ. Khi đi dọc theo thảm cỏ John Jewel và tôi đều thấy những bóng ma hình dạng lờ mờ thoắt ẩn thoắt hiện sau các bụi cây. Chập tối trở về nhà, chúng tôi suýt vỡ đầu vì viên gạch bông từ trên mái hiên rớt xuống. Lát sau, một đài nến bằng thủy tinh đỏ lăn xuống cầu thang, đập vào lò sưởi gang và vỡ tan dưới chân chúng tôi. Một bàn tay vô hình ném cục băng phiến to đùng trúng giữa cánh tay tôi. Ngay sau đó hàng vốc sỏi từ trên lầu tuôn xuống tiền sảnh. Chưa hết. Tự nhiên các chuông nhỏ trong nhà đồng loạt reo, chìa khóa cửa nhẩy khỏi ổ rơi xuống sàn. Thấy vậy John Jewel quyết định gọi hồn ma lên xem sao. Anh ta ngồi trong một căn phòng cùng với vợ chồng ông mục sư Harry Wesson, hai cô em của vị mục sư tiền nhiệm và cô thư kí của John Jewel. Tôi nghe rõ tiếng anh ta khấn: “Nếu oan hồn đang lẩn khuất đâu đây tối nay, xin hiển hiện để người dương gian cúng vái”. Tất cả chúng tôi đều nín thở. Vài giây sau, có tiếng cọt kẹt từ chiếc bàn trong toalet. Rồi một tiếng gõ vào gương chiếc tủ phấn gỗ gụ. Không nghi ngờ gì nữa: oan hồn đang hiển hiện. John Jewel hỏi hồn có vui lòng trả lời vài câu hỏi chăng, theo qui ước truyền thống: gõ ba tiếng là có, một là không, gõ hai lần là câu hỏi không rõ ràng hoặc hồn không biết. Ngay lập tức có ba tiếng gõ rất nhanh rất mạnh phát ra từ tấm gương gắn trên tủ phấn gỗ gụ. John Jewel hỏi: có phải hồn là mục sư tiền nhiệm ở Dumley, anh ruột của hai cô ngồi đây?

Có ba tiếng gõ xác nhận. John Jewel lại hỏi:

– Tiếng chân bước trong nhà của hồn phải không?

– Phải.

– Hồn muốn quậy phá ai không?

– Không.

– Hồn có băn khoăn tiếc nuối vì không kịp làm điều gì khi còn sống không?

– Không.

John Jewel định chuyển sang phương pháp dùng bảng chữ cái để trò chuyện nhanh hơn nhưng hồn ma trả lời không rõ ràng, chắc vì không nắm vững kĩ thuật thông tin này, tuy vẫn tỏ ý muốn nói chuyện nữa. Khoảng hai giờ sáng, lúc hai ngọn đèn đã vặn lên hết cỡ, căn phòng sáng rực, tất cả chúng tôi đều chứng kiến cục xà phòng tự động nhẩy khỏi hộp đập mạnh vào miệng xô nước rồi nẩy tưng tưng trên sàn nhà. Hộp đựng xà phòng đặt trên lavabo ở cuối phòng, cách xa chỗ chúng tôi đang ngồi bên bàn phấn gắn gương. Vì thế, thưa quí vị, ngay hôm sau tôi rời Dumley vì đã biết chắc ở đây có ma ám.

– Cám ơn ông Rice. Mời ông John Jewel phát biểu.

Phía trên cái cằm vểnh ngược, chiếc mồm rộng đến mang tai của John Jewel thốt ra tiếng khàn khàn đơn điệu:

– Trước hết xin báo cáo ông thị trưởng: ngay từ tối đầu tiên, những hiện tượng trên đã hoàn toàn thuyết phục tôi, tôi lại càng tin hơn vì những gì xẩy ra sau đó. Chứ khi mới đặt chân tới Dumley tôi không có chút định kiến sẵn nào. Trước đó, khi nghiên cứu các truyền thuyết các dư luận đồn đoán tôi đã kết luận là chuyện ma quỉ này không có thật. Hồi thế kỉ XIII thầy tu và nữ tu sĩ nọ không thể chạy trốn bằng xe ngựa bởi lẽ rất đơn giản: hồi đó chưa có xe ngựa. Mặt khác, thời đó tại vùng này không có tu viện hoặc nhà dòng nào được xây cất. Sau hết, tôi không tin người ta có thể chôn sống một nữ tu. Nhưng về sau, khi đã liên lạc được với các hồn ma ở Dumley tôi mới biết sự thật: một nữ tu người Pháp tên MarieLaure đã từ Havre tới đây lấy chồng người địa phương Dumley này và bị chồng bóp cổ chết rồi chôn dưới chỗ chúng ta đang ngồi.

Thị trưởng hỏi:

– Ông John Jewel! Ông vừa nói tới một số sự kiện khác. Ông có thể nói rõ hơn không?

– Sự thể là thế này. Lúc tôi đang ăn tối với mục sư Wesson, nước trong ly của tôi đột nhiên biến thành mực. Hiện tượng này và nhiều hiện tượng khác nữa diễn ra ngay trước mắt nhiều người, trong số đó có ông kĩ sư âm thanh của BBC tới làm phóng sự cùng với nhiều nhân chứng được tôi mời tới, và đương nhiên có cả mục sư Forsyte và bà mục sư tới đây ở thay thế mục sư Wesson.

Mục sư Forsyte gầy như que củi, già như Bành tổ, bị bệnh phong thấp nặng. Mọi người phải nhăn mặt dỏng tai mới nghe được tiếng ông già thều thào kể chuyện các cuốn sách trong thư viện bỗng dưng nằm la liệt dưới đất, bàn ghề chổng ngược cả bốn vó, một hôm ông già nghe tiếng bà vợ Susan gọi tên mình tuy lúc đó bà không có nhà v.v…

Bà Susan còn trẻ và đẹp, rất sôi nổi khi kể câu chuyện của mình. Bà cho biết sức khỏe suy sụp rất nhanh khi về sống trong ngôi nhà vừa bất tiện vừa lắm bí ẩn. Và kể ra rất nhiều hiện tượng lạ bà đã tận mắt chứng kiến. Nào là bất ngờ bị một cú đấm khi đi ngang qua hành lang tối mò, sợ quá nên lúc nào cũng phải quấn khăn choàng thật kín để để phòng các con ma dữ đòn. Nào là các bức tường đang sạch sẽ bỗng dưng phủ đầy nét nguệch ngoạc, thậm chí ngay trước mắt một hôm bỗng hiện dòng chữ “Susan, đốt nến, cầu nguyện, cúng lễ”. Phải chăng oan hồn cô nữ tu Pháp đòi bà đọc kinh siêu thoát cho cô?

Chịu hết nổi, tháng Giêng 1935 cụ mục sư Forsyte ốm yếu và bà vợ trẻ thấm mệt đành bán xới ngôi nhà linh mục Dumley. Nhà báo John Jewel tới thay, ở đó ba năm. Vừa đủ thì giờ để phát hiện những chiếc xương người, có lẽ của người nữ tu bị chôn sống dưới tầng hầm. Trong ba năm được các hồn ma hàng ngày tới thăm, John Jewel viết được hai cuốn sách làm ngôi nhà linh mục Dumley được cả nước biết đến với cái tên “Ngôi nhà có ma thiêng nhất nước Anh”.

Ông thị trưởng quay nhìn mấy nhân chứng từ nãy vẫn chỉ nhếch mép cười ngạo mạn. Ông hỏi:

– Mấy vị chắc không đồng tình?

Bà vợ mục sư Wesson, sáu mươi tuổi, tóc trắng như cước, nét mặt gần như vô cảm lên tiếng trước tiên.

– Sau khi rời khỏi ngôi nhà linh mục Dumley, tôi suy nghĩ rất dữ và trái hẳn với ông nhà tôi, tôi không còn tin có ma có quỉ gì ở đây nữa. Ánh đèn ông ấy thấy lóe lên trong các phòng không người có thể chỉ là ánh đèn pha ôtô lấp loáng sau tán lá cây. Con nhỏ đã kể cho chúng tôi lắm chuyện kì quái là một đứa rất tò mò và thích đùa. Nó bịa ra những chuyện đó để giỡn mặt bọn tôi, để thử gân bọn tôi, và cũng có khi để bọn tôi quan tâm tới nó.

– Cám ơn bà. Mời vị kia phát biểu.

Chàng trai cao to, nét mặt tươi tỉnh, đứng lên.

– Tôi là tài xế xe ca đã chở khách hiếu kì tới đây trong suốt một năm.Tôi cam đoan những tiếng động mà các vị ở trong ngôi nhà linh mục Dumley nghe thấy chẳng có gì bí hiểm. Bởi lẽ rất đơn giản: các căn hầm đều nhung nhúc những chuột là chuột. Rui kèo xà gồ thì bị mối chén rỗng. Gió lùa hun hút qua đó suốt ngày đêm. Có một bữa, sau khi đổ khách gồm toàn những nhà thông linh và chờ lúc họ bắt đầu làm trò khỉ, tôi núp trong bóng tối, bịt mũi nói ồm ồm xưng mình là oan hồn mục sư Bull. Quí vị tin hay không thì tùy, nhưng sự thật là các nhà thông linh đã tưởng thật. Chính tôi cũng đã chở những pháp sư cao tay định tới trừ tà. Ông thị trưởng có biết họ trừ tà bằng thứ gì không? Họ đốt lá oải hương khô! Tất nhiên chẳng ăn thua mẹ gì, họ bèn thử rẩy nước thánh… Tóm lại toàn trò trẻ con!

Một chàng trai trang phục rất bảnh, từ London về đây với chủ định rõ ràng cũng đứng lên nói:

– Thưa thị trưởng, theo yêu cầu của ông, tôi đã phân tích các chữ viết trên tường. Kết luận: tất cả đều do bà Susan Forsyte viết.

Nhiều tiếng thét phẫn nộ nổi lên. Một giọng the thé át tất cả: giọng bà Susan Forsyte. Bà ta la lớn:

– Tôi làm thế để làm gì? Phải, để làm gì mới được chứ? Trả lời đi, trả lời ngay!

Lúc này thám tử Kendall mới đứng lên, mặt lạnh như tiền, áo mưa vắt cánh tay.

– Xin thưa: vì bà thấy nhàm chán đến muốn chết trong ngôi nhà mốc meo này. Vì bà không nghĩ ra mẹo nào khác để buộc mục sư Forsyte rời khỏi đây. Tiếng tăm của ngôi nhà ma do John Jewel tạo dựng nên đã cho bà một cơ hội quá tốt. Và bà đã theo bước anh ta với quá nhiều sáng tạo. Thưa ông thị trưởng! Có thể ở cuối thế kỉ trước ngôi nhà linh mục Dumley này đã từng bị bọn quỉ con tinh quái và bọn người bị ma ám vào đây quậy phá, nhưng hiện nay thì John Jewel mới là kẻ bầy trò lòe bịp này, làm mất hết uy tín hòn đảo thân yêu của chúng ta.

Cái trán hói của John Jewel đang ngồi giữa những tiếng nguyền rủa bỗng vã mồ hôi hột ướt đầm. Viên thám tử tiếp tục:

– Ban lãnh đạo mới của tờ Daily Mirror từ lâu đã nắm được bộ hồ sơ về vụ này nhưng chưa tiện công bố. Hôm nay, vì vụ việc đã mang tính chất chính thức với sự có mặt của ông thị trưởng và quí vị trong hội đồng thành phố nên tôi được ủy nhiệm thông báo những tư liệu trong hồ sơ này với quí vị. Trong hồ sơ có ghi vụ một nhà báo đã ở đây với John Jewel ba ngày đêm, sau khi chứng kiến một số hiện tượng phát tiếng động khó hiểu anh ta đã túm lấy người John Jewel. Và thấy trong túi anh này chứa đầy sỏi, thắt lưng gài một viên gạch. Anh ta hỏi những thứ đó định dùng làm gì, nhưng John Jewel không giải thích được… Tòa báo đã nghiên cứu các hiện tượng ở đây và đều thấy có cách giải thích. Ly nước biến thành mực chẳng hạn: chỉ việc bỏ vào nước một viên hóa chất. Chắc ông John Jewel sẽ bắt bẻ tôi: muốn làm được như vậy, phải nhanh tay lắm mới làm nổi. Đúng thế, thưa ông! Tài nhanh tay ấy, ông ta đã có sẵn từ lâu. Vì, thưa ông thị trưởng, chắc ông không biết trước khi làm chuyên gia săn bắt ma quỉ, ông John Jewel đây đã từng là… nhà ảo thuật trong một gánh xiếc!

John Jewel nhún vai. Ông thị trưởng quắc mắt:

– Ông làm thế nhằm mục đích gì, ông John Jewel?

Thám tử Kendall trả lời thay gã ta:

– Để kiếm cơm, thưa ông thị trưởng. Những cuốn sách, những bài báo viết về ngôi nhà linh mục Dumley “Ngôi nhà có ma thiêng nhất nước Anh” đã mang về cho anh ta vô khối tiền bạc.

Ông thị trưởng đứng phắt lên:

– Thôi khỏi! Thưa quí vị, khỏi cần nghe thêm nữa! Mời các vị trong hội đồng thành phố cho biểu quyết.

– Ai đồng ý giữ lại ngôi nhà đổ?

Không ai nhúc nhích.

– Ai đồng ý phá bỏ?

Các cánh tay nhất loạt giơ cao. Nhất trí trăm phần trăm.

Phương Hà (biên soạn)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.