Một ngày nọ, tôi chợt nhận ra rằng đã nhiều năm rồi thế giới chưa được chứng kiến cảnh một con người đủ phiêu lưu để thực hiện một chuyến hành trình xuyên châu Âu bằng đường bộ. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi tự nhủ rằng mình chính là người phù hợp để mang lại cho nhân loại cảnh tượng hiếm có đó. Thế là tôi quyết định thực hiện. Chuyện này xảy ra vào tháng Ba năm 1878.
Tôi bắt đầu tìm kiếm một người thích hợp để đồng hành cùng mình trong vai trò người đại diện, và cuối cùng đã thuê một quý ông tên là Harris cho công việc này.
Tôi cũng có ý định học hội họa trong chuyến đi châu Âu. Ông Harris cũng rất đồng tình với tôi về điều này. Ông ấy là một người say mê nghệ thuật chẳng kém gì tôi, và cũng khao khát được học vẽ như tôi vậy. Tôi muốn học tiếng Đức; Harris cũng vậy.
Vào khoảng giữa tháng Tư, chúng tôi lên con tàu Holsatia, do thuyền trưởng Brandt chỉ huy, và quả thực đã có một chuyến đi vô cùng dễ chịu.
Sau khi nghỉ ngơi đôi chút tại Hamburg, chúng tôi chuẩn bị cho một chuyến đi bộ đường dài về phía nam trong tiết trời xuân dịu nhẹ, nhưng vào phút chót, vì một vài lý do riêng tư, chúng tôi đã thay đổi kế hoạch và quyết định đi bằng tàu tốc hành.
Chúng tôi dừng chân đôi chút tại Frankfort-on-the-Main và thấy đây là một thành phố thú vị. Tôi rất muốn ghé thăm nơi sinh của Gutenberg, nhưng không thể được, vì chẳng còn tài liệu nào ghi chép lại vị trí ngôi nhà ấy cả. Thế nên thay vào đó, chúng tôi dành một giờ tại dinh thự của Goethe. Thành phố này lại để cho tư nhân sở hữu ngôi nhà đó, thay vì tự làm mình thêm vinh dự và trang trọng bằng cách giữ gìn và bảo tồn nó.
Frankfort là một trong mười sáu thành phố tự hào nhận vinh dự là nơi đã diễn ra sự kiện sau đây. Charlemagne, trong lúc đang đuổi theo người Saxon (theo lời ông nói), hoặc đang bị họ truy đuổi (theo lời họ nói), đã đến bờ sông vào lúc bình minh trong một làn sương mù. Quân địch có thể đang ở phía trước hoặc phía sau ông; nhưng dù sao đi nữa, ông cũng rất cần phải vượt sông bằng mọi giá. Ông sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì để có một người dẫn đường, nhưng chẳng tìm đâu ra người cả. Chẳng bao lâu sau, ông nhìn thấy một con nai cùng đàn con tiến về phía mặt nước. Ông theo dõi nó, đoán rằng nó sẽ tìm một chỗ cạn để qua sông, và ông đã đúng. Con vật lội qua, và cả đội quân nối gót theo sau. Thế là một chiến thắng vĩ đại hoặc một thất bại thảm hại của người Frank đã được tạo ra hoặc tránh được; và để kỷ niệm sự kiện này, Charlemagne đã ra lệnh xây dựng một thành phố tại đó, ông đặt tên là Frankfort—tức bến cạn của người Frank. Không có thành phố nào khác trong số những nơi xảy ra sự kiện tương tự được đặt tên như vậy. Đây chính là bằng chứng rõ ràng cho thấy Frankfort là nơi đầu tiên sự việc này xảy ra.
Frankfort còn có một điểm đặc biệt nữa—nó là nơi khai sinh ra bảng chữ cái tiếng Đức; hoặc ít nhất là từ tiếng Đức chỉ bảng chữ cái—buchstaben. Người ta nói rằng những con chữ rời đầu tiên được khắc trên các thanh gỗ bạch dương—buchstabe—vì vậy mà có tên gọi này.
Tôi đã được dạy một bài học về kinh tế chính trị tại Frankfort. Tôi mang từ nhà theo một hộp đựng một nghìn điếu xì gà rất rẻ tiền. Để làm thí nghiệm, tôi bước vào một cửa tiệm nhỏ trên một con phố cổ kỳ lạ, lấy bốn hộp diêm sáp được trang trí rực rỡ và ba điếu xì gà, rồi đặt xuống một đồng bạc trị giá 48 xu. Người đàn ông đó trả lại tôi 43 xu tiền thừa.
Ở Frankfort, ai cũng mặc quần áo sạch sẽ, và tôi nghĩ chúng tôi cũng nhận thấy điều kỳ lạ tương tự như vậy ở Hamburg và tại các ngôi làng dọc đường đi. Ngay cả trong những khu phố hẹp nhất, nghèo nàn nhất và cổ kính nhất của Frankfort, quần áo chỉnh tề, sạch sẽ vẫn là quy tắc chung. Những đứa trẻ nhỏ cả trai lẫn gái hầu như lúc nào cũng dễ thương đến mức ai nhìn cũng muốn bế bồng. Còn về quân phục của những người lính, chúng mới tinh và sáng bóng đến mức hoàn hảo. Người ta không bao giờ có thể tìm thấy một vết bẩn hay một hạt bụi nào bám trên đó. Những người soát vé và tài xế xe điện mặc những bộ đồng phục đẹp đẽ trông như thể vừa bước ra từ hộp đựng mới tinh, và phong thái của họ cũng lịch thiệp y như trang phục họ mặc vậy.
Trong một cửa tiệm, tôi đã may mắn tình cờ tìm thấy một cuốn sách khiến tôi mê mẩn đến mức gần như phát cuồng. Tựa sách là Những Huyền Thoại Về Sông Rhine Từ Basle Đến Rotterdam, của F. J. Kiefer; do L. W. Garnham, B.A. dịch.
Mọi du khách đều nhắc đến những huyền thoại về sông Rhine—theo cái kiểu âm thầm ra vẻ như người nhắc đã quá đỗi quen thuộc với chúng cả đời rồi, và rằng người đọc chắc chắn không thể nào không biết đến chúng—nhưng chẳng có du khách nào kể lại những câu chuyện đó cả. Vậy nên, cuốn sách nhỏ này đã "nuôi dưỡng" tôi ngay tại nơi tôi đang "đói" kiến thức; và đến lượt mình, tôi dự định sẽ "đãi" độc giả một vài bữa ăn nhẹ từ chính cái kho chứa ấy. Tôi sẽ không làm hỏng bản dịch của Garnham bằng cách can thiệp vào tiếng Anh của ông ấy; vì điểm thú vị nhất ở nó chính là cái lối hành văn lạ lùng, xây dựng câu tiếng Anh theo cấu trúc tiếng Đức—và chấm câu thì chẳng theo bất kỳ quy tắc nào cả.
Trong chương dành riêng cho "Những Huyền Thoại Về Frankfort," tôi tìm thấy đoạn sau: