Sách hướng dẫn du lịch quả là một thứ kỳ quặc. Độc giả vừa mới thấy những trải nghiệm mà một người liều mình leo từ Zermatt lên Khách sạn Riffelberg phải nếm trải. Thế mà Baedeker lại đưa ra những tuyên bố lạ lùng sau đây về vấn đề này:
1. Khoảng cách - 3 tiếng. 2. Đường không thể nhầm lẫn. 3. Không cần hướng dẫn viên. 4. Khoảng cách từ Khách sạn Riffelberg đến Gorner Grat, một tiếng rưỡi. 5. Đường lên đơn giản và dễ dàng. Không cần hướng dẫn viên. 6. Độ cao của Zermatt so với mực nước biển, 5.315 feet. 7. Độ cao của Khách sạn Riffelberg so với mực nước biển, 8.429 feet. 8. Độ cao của Gorner Grat so với mực nước biển, 10.289 feet.
Tôi đã dập tắt những sai sót này một cách khá hiệu quả bằng cách gửi cho ông ta những sự thật đã được chứng minh sau đây:
1. Khoảng cách từ Zermatt đến Khách sạn Riffelberg, 7 ngày. 2. Đường có thể nhầm lẫn. Nếu tôi là người đầu tiên làm điều đó, tôi cũng muốn được ghi nhận công lao. 3. Cần có hướng dẫn viên, vì không ai ngoài người bản xứ có thể đọc được mấy cái biển chỉ đường đó. 4. Ước tính về độ cao của các địa điểm khác nhau so với mực nước biển thì khá chính xác - với tiêu chuẩn của Baedeker. Ông ta chỉ sai lệch khoảng một trăm tám mươi hoặc chín mươi ngàn feet mà thôi.
Tôi thấy thuốc arnica của mình vô giá. Đám người của tôi đang đau đớn dữ dội vì cọ xát do phải ngồi quá nhiều. Trong suốt hai hoặc ba ngày, không ai trong số họ có thể làm gì khác ngoài việc nằm dài hoặc đi lại loanh quanh; thế mà thuốc arnica lại hiệu quả đến mức đến ngày thứ tư, tất cả đều có thể ngồi dậy được. Tôi cho rằng, hơn bất cứ thứ gì khác, tôi nợ sự thành công của công cuộc vĩ đại này là nhờ arnica và thuốc giảm đau paregoric.
Đám người của tôi đang dần hồi phục sức khỏe và thể lực, nỗi băn khoăn chính của tôi lúc này là làm sao đưa họ xuống núi. Tôi không muốn để những gã dũng cảm này phải phơi mình trước những hiểm nguy, mệt mỏi và gian khổ của lộ trình kinh hoàng kia một lần nữa nếu có thể tránh được. Ban đầu tôi nghĩ đến khinh khí cầu; nhưng tất nhiên, tôi phải từ bỏ ý định đó vì không thể tìm đâu ra khinh khí cầu. Tôi nghĩ đến vài giải pháp khác, nhưng sau khi cân nhắc lại loại bỏ vì những lý do riêng. Nhưng cuối cùng tôi cũng nảy ra ý tưởng. Tôi biết rằng việc sông băng di chuyển là một sự thật đã được xác lập, vì tôi đã đọc thấy điều đó trong cuốn Baedeker; nên tôi quyết định bắt chuyến "xe" xuống Zermatt trên con sông băng Gorner vĩ đại.
Rất tốt. Việc tiếp theo là làm sao để xuống sông băng một cách thoải mái—vì con đường mòn dành cho la đi đến đó vừa dài, vừa quanh co, lại vừa mệt mỏi. Tôi bắt tay vào suy nghĩ, và chẳng mấy chốc đã nghĩ ra một kế hoạch. Người ta có thể nhìn thẳng xuống dòng sông băng khổng lồ được gọi là Sông băng Gorner từ Gorner Grat, một vách đá dựng đứng cao mười hai trăm feet. Chúng tôi có một trăm năm mươi bốn chiếc ô—và ô thì có khác gì dù chứ?
Tôi đầy hào hứng kể cho Harris nghe ý tưởng cao cả này, và định ra lệnh cho Đoàn thám hiểm tập hợp trên đỉnh Gorner Grat với những chiếc ô của họ, chuẩn bị nhảy xuống theo từng trung đội, mỗi trung đội do một hướng dẫn viên chỉ huy, thì Harris ngăn tôi lại và giục tôi đừng quá vội vàng. Cậu ta hỏi tôi liệu phương pháp xuống núi Alps này đã từng được thử nghiệm bao giờ chưa. Tôi bảo không, tôi chưa nghe nói đến trường hợp nào cả. Thế thì, theo ý kiến của cậu ta, đây là một vấn đề khá nghiêm trọng; theo cậu ta thì không nên cho cả đội cùng vượt vách đá một lúc; một cách tốt hơn là nên cho một cá nhân xuống trước xem tình hình thế nào.
Tôi lập tức nhận thấy sự khôn ngoan trong ý tưởng này. Tôi nói như vậy, cảm ơn cộng sự của mình một cách chân thành, và bảo cậu ta hãy cầm lấy chiếc ô rồi thử ngay đi, nếu hạ cánh xuống chỗ mềm thì hãy vẫy mũ, rồi tôi sẽ cho những người còn lại xuống ngay sau đó.
Harris vô cùng cảm động trước sự tin tưởng này, và đã bày tỏ điều đó bằng một giọng run run thấy rõ; nhưng đồng thời cậu ta lại nói rằng mình không thấy xứng đáng với một đặc ân nổi bật như vậy; điều đó có thể gây ra sự ghen tị trong đội, vì có khối người sẽ không ngần ngại nói rằng cậu ta đã dùng mưu hèn kế bẩn để giành được vị trí này, trong khi lương tâm cậu ta làm chứng rằng cậu ta không hề tìm kiếm nó, thậm chí trong thâm tâm cũng chưa từng khao khát nó.
Tôi bảo những lời đó làm cậu ta rất đáng khen, nhưng cậu ta không được từ bỏ vinh dự bất diệt là người đầu tiên xuống núi Alps bằng dù, chỉ vì để chiều lòng vài gã cấp dưới đố kỵ. Không, tôi bảo, cậu ta phải nhận nhiệm vụ này—đây không còn là một lời mời nữa, đây là một mệnh lệnh.
Cậu ta cảm ơn tôi đầy xúc động, và nói rằng việc đặt vấn đề dưới hình thức này đã loại bỏ mọi sự phản đối. Cậu ta lui ra, rồi sớm quay lại với chiếc ô của mình, mắt rực lên lòng biết ơn và đôi má nhợt nhạt vì sung sướng. Đúng lúc đó thì người hướng dẫn viên trưởng đi ngang qua. Biểu cảm của Harris chuyển sang vẻ dịu dàng vô hạn, và cậu ta nói:
"Gã đó đã gây cho tôi một tổn thương tàn nhẫn cách đây bốn ngày, và tôi đã tự nhủ trong lòng rằng gã phải sống để nhận ra và thú nhận rằng cách trả thù cao thượng duy nhất mà một người có thể thực hiện với kẻ thù của mình là lấy ân báo oán. Tôi xin nhường lại vị trí này cho gã. Hãy bổ nhiệm gã đi."
Tôi choàng tay ôm lấy gã đồng đội hào hiệp này và nói: "Harris, cậu là tâm hồn cao thượng nhất trên đời. Cậu sẽ không phải hối tiếc về hành động cao cả này, và thế giới cũng sẽ không quên biết đến nó đâu. Nếu tôi còn sống, cậu sẽ còn có cơ hội vượt xa cơ hội này - hãy nhớ lấy."
Tôi gọi người hướng dẫn viên trưởng lại và bổ nhiệm gã ngay tại chỗ. Nhưng việc này chẳng làm gã hào hứng chút nào. Gã chẳng mặn mà gì với ý tưởng đó cả.
Gã nói:
"Buộc mình vào một chiếc ô rồi nhảy qua đỉnh Gorner Grat ư! Xin lỗi ông, còn khối con đường dễ chịu hơn để xuống địa ngục ngoài cách đó đấy."
Sau khi thảo luận vấn đề này với gã, có vẻ như gã coi dự án này là nguy hiểm một cách rõ ràng và chắc chắn. Tôi không bị thuyết phục, tuy nhiên tôi cũng không muốn thử nghiệm theo bất kỳ cách mạo hiểm nào—nghĩa là, cách có thể làm tổn hại đến sức mạnh và hiệu quả của Đoàn thám hiểm. Tôi gần như đã cùng đường thì chợt nảy ra ý định thử nghiệm trên anh chàng thông thạo tiếng Latinh.

Anh ta được gọi đến. Nhưng anh ta từ chối, với lý do thiếu kinh nghiệm, ngại ngùng trước đám đông, không tò mò, và tôi cũng chẳng biết là vì cái gì nữa. Một người khác từ chối vì bị cảm lạnh; nghĩ rằng mình nên tránh tiếp xúc với gió máy. Một người khác thì không biết nhảy—chưa bao giờ nhảy giỏi—không tin mình có thể nhảy xa đến thế nếu không luyện tập lâu dài và kiên trì. Một người khác lại sợ trời sắp mưa, mà ô của anh ta thì lại bị thủng. Ai cũng có lý do. Kết quả là điều mà độc giả giờ đây đã đoán ra: ý tưởng vĩ đại nhất từng được thai nghén đã phải từ bỏ, chỉ vì thiếu một người có đủ gan dạ để thực hiện nó. Vâng, tôi thực sự đã phải từ bỏ chuyện đó—trong khi chắc chắn rồi tôi sẽ phải sống để chứng kiến ai đó sử dụng nó và giành hết công lao của tôi.
Thôi được, tôi đành phải đi đường bộ—chẳng còn cách nào khác. Tôi chỉ huy Đoàn thám hiểm đi xuống con đường mòn dành cho la dốc đứng và tẻ nhạt rồi chọn một vị trí tốt nhất có thể ở giữa sông băng—vì Baedeker nói phần giữa di chuyển nhanh nhất. Tuy nhiên, như một biện pháp tiết kiệm, tôi đặt một số hành lý nặng hơn ở phần gần bờ, để đi theo diện vận chuyển chậm.
Tôi chờ mãi, chờ mãi, nhưng sông băng không hề nhúc nhích. Đêm đang buông xuống, bóng tối bắt đầu bao trùm—chúng tôi vẫn không hề xê dịch. Lúc đó tôi mới nghĩ rằng, có lẽ trong cuốn Baedeker có lịch trình; tốt nhất là nên tìm xem giờ khởi hành. Tôi gọi tìm cuốn sách—nhưng không thấy đâu cả. Cuốn Bradshaw chắc chắn phải có lịch trình; nhưng cũng không tìm thấy cuốn Bradshaw nào.
Thôi được, tôi phải xoay xở với tình thế này thôi. Thế là tôi dựng lều, buộc gia súc, vắt sữa bò, ăn tối, cho đám người uống thuốc paregoric, bố trí người canh gác, và đi ngủ—với mệnh lệnh gọi tôi dậy ngay khi chúng tôi nhìn thấy Zermatt.
Tôi thức dậy vào khoảng mười rưỡi sáng hôm sau, và nhìn quanh. Chúng tôi chưa nhích được một tấc nào! Ban đầu tôi không thể hiểu nổi; rồi tôi chợt nghĩ rằng cái vật cũ kỹ này chắc hẳn là bị mắc cạn. Thế là tôi chặt vài cái cây, dựng một cái cột trụ bên mạn phải và một cái bên mạn trái, rồi hí hoáy mất hơn ba tiếng đồng hồ cố gắng đẩy nó ra. Nhưng vô ích. Nó rộng nửa dặm và dài mười hoặc mười lăm dặm, và không thể biết chính xác nó đang mắc cạn ở chỗ nào. Đám người cũng bắt đầu tỏ ra lo lắng, rồi lát sau họ chạy bổ đến chỗ tôi với khuôn mặt tái mét, nói rằng nó bị thủng một lỗ.
Không gì khác ngoài thái độ bình tĩnh của tôi vào thời điểm nguy cấp này đã cứu chúng tôi khỏi một cơn hoảng loạn khác. Tôi ra lệnh cho họ chỉ cho tôi chỗ đó. Họ dẫn tôi đến một nơi có tảng đá khổng lồ nằm trong một vũng nước sâu trong vắt và lấp lánh. Nó trông đúng là một vết thủng khá tệ, nhưng tôi giữ kín điều đó. Tôi làm một cái máy bơm và bắt đám người làm việc để bơm cạn sông băng. Chúng tôi đã thành công. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng đó chẳng phải là một vết thủng gì cả. Tảng đá này đã lăn xuống từ một vách đá và dừng lại trên mặt băng ở giữa sông băng, mặt trời đã làm nóng nó mỗi ngày, và kết quả là nó đã tự làm tan chảy băng để lún sâu dần xuống, cho đến khi cuối cùng nó nằm nghỉ, đúng như chúng ta đã thấy, trong một vũng nước sâu nhất và lạnh nhất.

Sau đó, cuốn Baedeker được tìm thấy, và tôi háo hức tìm bảng lịch trình. Chẳng có gì cả. Cuốn sách chỉ đơn giản nói rằng sông băng di chuyển liên tục. Vậy là thỏa đáng rồi, nên tôi đóng sách lại và chọn một vị trí tốt để ngắm cảnh khi chúng tôi đi qua. Tôi đứng đó một lúc để tận hưởng chuyến đi, nhưng cuối cùng tôi chợt nghĩ rằng dường như chúng tôi chẳng tiến gần thêm chút nào so với phong cảnh cả. Tôi tự nhủ: "Cái thứ chết tiệt này lại mắc cạn rồi, chắc chắn là thế,"—rồi mở Baedeker ra để xem liệu có tìm được biện pháp khắc phục nào cho những gián đoạn khó chịu này không. Tôi sớm tìm thấy một câu làm sáng tỏ vấn đề một cách chói lọi. Nó nói: "Sông băng Gorner di chuyển với tốc độ trung bình ít hơn một inch mỗi ngày." Tôi hiếm khi cảm thấy bị xúc phạm đến thế. Tôi hiếm khi bị phản bội lòng tin một cách vô lối như vậy. Tôi tính nhẩm một chút: Một inch một ngày, coi như ba mươi feet một năm; khoảng cách ước tính đến Zermatt là ba dặm và một phần mười tám dặm. Thời gian cần thiết để đi bằng sông băng là hơn năm trăm năm một chút! Tôi tự nhủ: "Mình có thể đi bộ nhanh hơn—và thà đi bộ còn hơn là bảo trợ cho một trò lừa đảo như thế này."
Khi tôi tiết lộ cho Harris sự thật rằng phần hành khách của con sông băng này—phần trung tâm—phần "tốc hành chớp nhoáng" thì phải nói là như vậy—thì đến mùa hè năm 2378 mới đến Zermatt, và hành lý, đi dọc theo phần rìa chậm chạp, sẽ không đến nơi cho đến vài thế hệ sau đó, cậu ta thốt lên:
"Đó là cách quản lý kiểu châu Âu, hoàn toàn là như vậy! Một inch một ngày—nghĩ mà xem! Năm trăm năm để đi được hơn ba dặm một chút! Nhưng tôi không ngạc nhiên chút nào. Đó là một con sông băng Công giáo. Ông có thể nhìn ra ngay từ vẻ ngoài của nó. Và cái cách quản lý đó nữa."
Tôi bảo không, tôi tin là chỉ có phần tận cùng của nó mới nằm trong bang Công giáo thôi.
"Vậy thì, đó là một con sông băng của chính phủ," Harris nói. "Cũng thế cả thôi. Ở đây chính phủ điều hành mọi thứ—nên mọi thứ đều chậm chạp; chậm chạp và quản lý tồi tệ. Nhưng ở chỗ chúng ta, mọi thứ đều do doanh nghiệp tư nhân làm—và khi đó thì chẳng có chuyện lề mề đâu, ông cứ tin tôi đi. Tôi ước Tom Scott có thể nhúng tay vào cái phiến băng cũ kỹ uể oải này một lần—ông sẽ thấy nó chạy với một cái dáng khác hẳn cái kiểu này ngay."
Tôi nói tôi chắc chắn ông ta sẽ tăng tốc độ, nếu có đủ thương mại để biện minh cho việc đó.
"Ông ta sẽ tạo ra thương mại," Harris nói. "Đó là sự khác biệt giữa chính phủ và cá nhân. Chính phủ thì chẳng quan tâm, còn cá nhân thì có. Tom Scott sẽ thâu tóm hết thương mại; trong hai năm cổ phiếu Gorner sẽ tăng lên hai trăm, và trong vòng hai năm nữa, ông sẽ thấy tất cả các con sông băng khác đều bị đem bán đấu giá để trừ thuế." Sau một thoáng suy tư, Harris nói thêm, "Ít hơn một inch một ngày; ít hơn một inch đấy, nhớ lấy nhé. Chà, tôi đang mất dần sự tôn kính đối với các dòng sông băng rồi đây."
Bản thân tôi cũng có cảm giác tương tự. Tôi đã từng đi bằng thuyền kênh đào, xe bò, bè, và tàu hỏa tuyến Ephesus và Smyrna; nhưng khi nói đến sự chuyển động chậm chạp chân chính và chắc chắn, thì tôi đặt cược tiền của mình vào sông băng. Với tư cách là phương tiện vận chuyển hành khách, tôi coi sông băng là một thất bại; nhưng với tư cách là phương tiện vận chuyển hàng hóa chậm, tôi nghĩ nó rất đạt yêu cầu. Trong vấn đề tạo ra những sắc thái tinh tế cho loại hình kinh doanh đó, tôi cho rằng nó có thể dạy cho người Đức vài điều.
Tôi ra lệnh cho đám người nhổ trại và chuẩn bị cho cuộc hành trình đường bộ đến Zermatt. Đúng lúc này, một phát hiện cực kỳ thú vị đã được thực hiện; một vật thể tối màu, nằm vùi trong băng sông băng, được rìu băng đục ra, và nó hóa ra là một mảnh da chưa thuộc của một loài động vật nào đó—có lẽ là của một chiếc rương bọc lông; nhưng một cuộc kiểm tra kỹ lưỡng đã bác bỏ giả thuyết rương bọc lông, và các cuộc thảo luận cũng như kiểm tra thêm đã hoàn toàn phủ nhận nó—đó là theo ý kiến của tất cả các nhà khoa học, ngoại trừ người đã đưa ra giả thuyết đó. Người này bám lấy lý thuyết của mình với sự gắn bó trìu mến đặc trưng của những người khởi xướng các lý thuyết khoa học, và sau đó đã giành được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học hàng đầu thời bấy giờ cho quan điểm của mình, bằng một tập sách nhỏ rất tài tình mà ông viết, tựa đề: "Những bằng chứng cho thấy chiếc rương bọc lông, trong trạng thái hoang dã, thuộc về thời kỳ băng hà sơ khai, và lang thang trên những vùng hoang dã của hỗn mang cùng với gấu hang, người nguyên thủy, và các loài Ooelitic khác thuộc gia đình Silurian cổ đại."
Mỗi nhà khoa học của chúng tôi đều có lý thuyết riêng, và đưa ra một con vật của riêng mình làm ứng cử viên cho mảnh da đó. Tôi đứng về phía nhà địa chất của Đoàn thám hiểm với niềm tin rằng mảnh da này đã từng giúp che thân cho một con voi Siberia, vào một thời đại cũ kỹ đã bị lãng quên nào đó—nhưng chúng tôi chia rẽ ở đó, nhà địa chất tin rằng phát hiện này chứng minh Siberia trước đây từng nằm ở nơi Thụy Sĩ hiện nay, trong khi tôi giữ quan điểm rằng nó chỉ chứng minh người Thụy Sĩ nguyên thủy không phải là kẻ man di chậm chạp như người ta vẫn mô tả, mà là một sinh vật có sự phát triển trí tuệ cao, thích đi xem vườn thú.

Tối hôm đó, sau nhiều gian khổ và phiêu lưu, chúng tôi đến được một vài cánh đồng gần vòm băng khổng lồ nơi con sông Visp điên cuồng sôi sùng sục và trào ra từ bên dưới chân con sông băng Gorner vĩ đại, và tại đây chúng tôi cắm trại, những hiểm nguy đã qua và công cuộc vĩ đại của chúng tôi đã hoàn thành tốt đẹp. Chúng tôi tiến quân vào Zermatt vào ngày hôm sau, và được đón tiếp với những vinh dự và tán thưởng nồng nhiệt nhất. Một văn bản, có chữ ký và đóng dấu của chính quyền, đã được trao cho tôi để xác nhận và chứng thực rằng tôi đã thực hiện chuyến leo núi Riffelberg. Tôi đeo cái này quanh cổ, và nó sẽ được chôn cùng tôi khi tôi không còn nữa.