Thời đại Vàng son: Một câu chuyện thời nay

Lượt đọc: 342 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

Eli Bolton và vợ đã nhiều lần bàn bạc về chuyện của Ruth với nỗi lo âu chẳng hề nhỏ. Trong số tất cả các con của mình, chỉ duy nhất mình Ruth là không chịu nổi sự gò bó và đơn điệu của Hội Giáo hữu (Friends’ Society), và hoàn toàn không muốn chấp nhận "ánh sáng nội tâm" như một kim chỉ nam cho một cuộc đời an phận thủ thường. Khi Margaret nói với chồng về dự định mới nhất của Ruth, ông không tỏ ra ngạc nhiên nhiều như bà hy vọng. Thực ra, ông còn bảo rằng ông chẳng thấy có lý do gì mà một người phụ nữ không thể theo đuổi ngành y nếu cô cảm thấy mình có thiên hướng về nó.

“Nhưng,” Margaret nói, “hãy xem xét việc con bé hoàn toàn thiếu kinh nghiệm với thế giới bên ngoài, lại thêm sức khỏe yếu ớt nữa. Liệu một thân hình mảnh khảnh như vậy có chịu nổi sự tôi luyện khắc nghiệt khi chuẩn bị, hay áp lực khi hành nghề không?”

“Bà có bao giờ nghĩ, Margaret, liệu con bé có chịu nổi việc bị cản trở trong một mục tiêu mà nó đã dốc lòng dốc sức như thế này không? Bà đã tự tay dạy dỗ con bé tại nhà trong suốt thời thơ ấu ốm yếu của nó, và bà thừa biết ý chí của nó mạnh mẽ đến mức nào, cũng như những gì nó đã đạt được trong việc tự học bằng chính nghị lực của bản thân. Nó sẽ chẳng bao giờ thấy thỏa mãn chừng nào nó chưa thử sức mình.”

“Tôi ước,” Margaret nói, với một sự thiếu logic không phải chỉ riêng phụ nữ mới có, “rằng con bé cứ bình thường yêu đương rồi lấy chồng cho xong. Tôi nghĩ điều đó sẽ chữa được mấy cái tư tưởng lạ đời của nó. Tôi không chắc lắm, nhưng nếu con bé đi xa, đến một ngôi trường ở tận đâu đó, bước vào một cuộc sống hoàn toàn mới, biết đâu tư tưởng của nó lại thay đổi.”

Eli Bolton suýt bật cười khi nhìn vợ, ánh mắt ông chưa bao giờ nhìn bà mà thiếu đi sự trìu mến, rồi ông đáp:

“Có lẽ bà quên mất rằng chính bà cũng từng có những tư tưởng lạ đời trước khi chúng ta cưới nhau, và trước khi bà trở thành thành viên của Hội. Tôi nghĩ Ruth thừa hưởng một số xu hướng mà bà vốn đã giấu kín dưới lớp áo của người Giáo hữu đó thôi.”

Margaret không thể cãi lại lời này, và trong lúc bà ngập ngừng, rõ ràng là ký ức đang gợi lên những điều khiến bà phải lung lay với quan điểm hiện tại của mình.

“Tại sao không để Ruth thử học một thời gian xem sao,” Eli gợi ý; “trong thành phố này có một trường Y cho Phụ nữ mới mở cũng khá ổn. Rất có thể chẳng bao lâu nữa con bé sẽ nhận ra rằng trước hết nó cần một nền tảng văn hóa rộng hơn, và rồi sẽ đồng ý với mong muốn của bà là con bé nên mở mang tầm mắt tại một ngôi trường lớn hơn.”

Thực sự thì chẳng còn cách nào khác, và cuối cùng Margaret đành đồng ý dù lòng chẳng lấy làm ưng thuận. Và họ thống nhất rằng, để đỡ vất vả, Ruth sẽ ở trọ cùng người quen gần trường và thử dấn thân vào cái ngành khoa học mà tất cả chúng ta đều đang mang ơn, đôi khi là nhờ vào một phép màu thoát chết.

Hôm đó, ông Bolton đưa một người khách lạ về dùng bữa tối, đó là ông Bigler của công ty lớn Pennybacker, Bigler & Small, chuyên thầu các dự án đường sắt. Ông ta lúc nào cũng đưa về nhà những kẻ có mấy cái kế hoạch trên trời dưới biển; nào là xây đường, mở mỏ, trồng mía trên đầm lầy để làm bột giấy, lập bệnh viện, đầu tư vào bằng sáng chế máy tách xương cá trích, hay khởi công một trường đại học nào đó ở vùng biên giới, gần nơi đang đầu cơ đất đai.

Nhà Bolton giống như một cái khách sạn cho những hạng người này vậy. Họ cứ lũ lượt kéo đến. Ruth đã biết họ từ thuở bé và con bé thường nói rằng cha nó thu hút bọn họ tự nhiên như hũ đường thu hút lũ ruồi. Ruth cho rằng một phần lớn thế giới này sống bằng cách lôi kéo những người còn lại vào các kế hoạch làm ăn của mình. Ông Bolton thì chẳng bao giờ biết từ chối ai, Ruth lại nói, ngay cả với cái hội đóng dấu kinh thánh lên vỏ hàu trước khi đem bán lẻ ông cũng chẳng nỡ từ chối.

Kế hoạch lần này của ông Bigler, thứ mà ông ta thao thao bất tuyệt suốt bữa tối với cái miệng đầy ắp thức ăn, là xây dựng tuyến đường sắt Tunkhannock, Rattlesnake và Youngwomans Town. Ông ta bảo tuyến đường này không chỉ là con đường huyết mạch tới miền Tây mà còn mở ra cơ hội tiếp cận những mỏ than vô tận và trữ lượng gỗ khổng lồ. Phương thức hoạt động thì rất đơn giản.

“Chúng ta sẽ mua đất,” ông ta giải thích, “trả chậm, dùng thương phiếu của mấy người có uy tín để bảo đảm; rồi thế chấp chỗ đất đó để lấy tiền xây đường. Sau đó, thuyết phục các thị trấn dọc tuyến đường phát hành trái phiếu để mua cổ phần, rồi bán số trái phiếu đó lấy tiền hoàn thiện và trang bị cho tuyến đường, nhất là nếu chúng ta thế chấp từng đoạn đường ngay khi vừa xong. Sau đó, chúng ta có thể bán số cổ phiếu còn lại dựa trên viễn cảnh làm ăn của tuyến đường xuyên qua một vùng đất đã phát triển, đồng thời bán cả đất với giá cao nhờ sự có mặt của con đường. Tất cả những gì chúng ta cần,” ông Bigler tiếp tục với vẻ thẳng thắn, “chỉ là vài ngàn đô-la để bắt đầu khảo sát và thu xếp mọi chuyện ở cơ quan lập pháp. Có vài nhân vật cần phải được ‘gặp gỡ’, kẻo họ gây rắc rối cho chúng ta.”

“Sẽ tốn kha khá tiền để khởi động dự án này đấy,” ông Bolton nhận xét. Ông biết quá rõ cái cụm từ “gặp gỡ” cơ quan lập pháp ở Pennsylvania nghĩa là gì, nhưng vì lịch sự, ông không muốn nói thẳng suy nghĩ của mình về ông Bigler khi hắn đang là khách trong nhà; “liệu có sự bảo đảm nào không?”

Ông Bigler nở một nụ cười cứng đờ và nói: “Ông sẽ là người trong cuộc, ông Bolton ạ, và ông sẽ là người có cơ hội đầu tiên trong thương vụ này.”

Lời này hơi khó hiểu với Ruth, dù con bé cũng có chút thú vị khi quan sát một mẫu người mà nó đã từng thấy trước đây. Cuối cùng, nó cắt ngang câu chuyện bằng cách hỏi:

“Ông sẽ bán cổ phiếu cho bất cứ ai bị thu hút bởi bản quảng cáo, phải không, ông Bigler?”

“Ồ, tất nhiên rồi, phục vụ mọi người như nhau cả,” ông Bigler nói, lúc này mới để ý đến Ruth, và hơi lúng túng trước khuôn mặt điềm tĩnh, thông tuệ đang hướng về phía mình.

“Vậy, những người nghèo tội nghiệp đã bị dẫn dụ đổ chút tiền ít ỏi của họ vào vụ đầu cơ này sẽ ra sao, khi ông rút lui và bỏ dở giữa chừng?”

Nói ông Bigler cảm thấy lúng túng thì cũng giống như nói một đồng đô-la giả bằng đồng sẽ đổi màu khi người ta từ chối nhận vậy; câu hỏi đó làm ông ta hơi khó chịu khi có mặt ông Bolton ở đó.

“À, vâng, cô ạ, tất nhiên rồi, trong một dự án lớn vì lợi ích cộng đồng thì đôi khi sẽ có những chuyện nhỏ xảy ra, mà, mà… và tất nhiên, người nghèo thì cần phải được quan tâm; tôi vẫn nói với vợ tôi rằng phải quan tâm đến người nghèo; nếu cô có thể phân biệt được ai là người nghèo—vì có quá nhiều kẻ giả danh. Và rồi, trong cơ quan lập pháp cũng có bao nhiêu người nghèo cần phải lo liệu,” vị nhà thầu nói với một giọng cười khục khục, “phải không ông Bolton?”

Eli Bolton đáp rằng ông chưa bao giờ dính dáng nhiều đến cơ quan lập pháp.

“Phải,” vị ân nhân công chúng này tiếp tục, “năm nay bọn chúng nghèo một cách bất thường, bất thường lắm. Thành ra cái giá cũng đắt đỏ. Sự thật là, ông Bolton ạ, cái giá cho ghế Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ bây giờ bị đẩy lên cao đến mức nó ảnh hưởng đến cả thị trường; ông không thể nào thông qua bất kỳ công trình cải thiện công cộng nào với các điều khoản hợp lý được. Tôi gọi đó là tội mãi thánh, đúng là mãi thánh,” ông Bigler lặp lại, như thể vừa nói được một câu rất hay ho.

Ông Bigler tiếp tục đưa ra vài chi tiết rất thú vị về mối quan hệ khăng khít giữa đường sắt và chính trị, ông ta tự giải trí suốt cả bữa tối và làm Ruth chán ngán, khiến con bé không thèm hỏi thêm câu nào, còn cha nó thì chỉ trả lời bằng những từ đơn âm.

“Con ước,” Ruth nói với cha sau khi người khách đã rời đi, “cha đừng đưa thêm những kẻ kinh khủng như thế về nhà nữa. Chẳng lẽ tất cả đàn ông đeo ghim cài áo đính kim cương bự, quơ dao nĩa loạn xạ trên bàn ăn, nói năng sai ngữ pháp và lừa lọc đều như vậy sao?”

“Ôi, con gái, con đừng quá để ý. Ông Bigler là một trong những nhân vật quan trọng nhất bang này; chẳng ai có nhiều ảnh hưởng ở Harrisburg hơn ông ta. Cha cũng chẳng ưa gì hắn như con đâu, nhưng thà cho hắn vay ít tiền còn hơn là chuốc lấy ác cảm của hắn.”

“Cha ơi, con nghĩ thà cha nhận ác cảm của ông ta còn hơn là phải chịu đựng sự có mặt của ông ta. Có phải sự thật là ông ta đã bỏ tiền giúp xây nhà thờ St. James the Less xinh xắn, và ông ta còn là một trong những thành viên hội đồng nhà thờ không?”

“Đúng vậy. Hắn cũng không phải kẻ quá tệ đâu. Một người ở phố Third hỏi hắn hôm nọ, nhà thờ của hắn là nhà thờ cao (High Church) hay nhà thờ thấp (Low Church)? Bigler bảo hắn không biết; hắn đã vào đó một lần, và hắn có thể chạm tay tới trần nhà ở lối đi bên cạnh.”

“Con thấy ông ta thật kinh khủng,” đó là lời kết của Ruth về ông ta, theo phong cách phán xét nhanh gọn của phụ nữ mà chẳng buồn đếm xỉa đến những tình tiết giảm nhẹ. Ông Bigler không hề hay biết rằng mình đã không tạo được ấn tượng tốt với cả gia đình; rõ ràng ông ta đã cố tỏ ra dễ mến. Margaret đồng tình với con gái, và dù bà chẳng bao giờ nói gì với những hạng người như thế, bà vẫn cảm ơn Ruth vì đã “châm” cho hắn một cú dù là nhỏ nhất.

Sự điềm tĩnh trong nhà Bolton lớn đến mức một người lạ khi bước vào sẽ chẳng bao giờ ngờ được rằng lại có sự phản đối đối với việc Ruth đi học trường Y. Và con bé lặng lẽ dọn đến ở trong thành phố, bắt đầu đi học như thể đó là điều tự nhiên nhất trên đời. Nó không bận tâm, nếu như có nghe thấy, những lời đàm tiếu tò mò của họ hàng và người quen, thứ chuyện phiếm lan truyền trong giới Giáo hữu không kém gì bất cứ đâu, chỉ khác là nó được thì thầm lén lút và lan truyền bằng giọng điệu nhỏ nhẹ.

Ruth say mê, và lần đầu tiên trong đời, con bé thực sự hạnh phúc; hạnh phúc trong sự tự do của chính mình, và trong niềm vui sướng tột độ khi được nghiên cứu, mở mang kiến thức ngày qua ngày. Con bé luôn hăng hái khi trở về nhà vào những ngày chủ nhật (First Days); ngôi nhà ngập tràn sự tươi vui và tiếng cười giòn tan của nó, lũ trẻ ước sao Ruth đừng bao giờ phải rời đi nữa. Nhưng người mẹ nhận thấy, với một chút lo âu, khuôn mặt đôi khi ửng đỏ, dấu hiệu của một tâm hồn đang bừng cháy trong đôi mắt rực sáng, và cả vẻ nghiêm nghị đầy quyết tâm, chịu đựng trên khuôn mặt con gái vào những lúc nó không đề phòng.

Trường Y là một trường nhỏ và phải chật vật lắm mới duy trì được ở thành phố bảo thủ này, nơi lại chính là khởi nguồn của biết bao phong trào cấp tiến. Tổng cộng chỉ có hơn một tá người theo học, nên dự án này mang dáng dấp của một cuộc thử nghiệm, đầy vẻ cuốn hút của sự tiên phong đối với những ai tham gia. Có một nữ bác sĩ thường đánh xe khắp phố, tấn công những căn bệnh hiểm nghèo ở khắp nơi bằng lòng dũng cảm kiên trì, giống như một nữ thần Bellona hiện đại trên chiếc chiến xa, được dân chúng đồn đại là kiếm được từ mười đến hai mươi ngàn đô-la một năm. Có lẽ một vài sinh viên ở đây cũng mong chờ đến ngày mình có thể đạt được tầm vóc đó và còn nuôi được cả chồng, nhưng chẳng ai biết được có ai trong số họ thực sự tiến xa hơn việc thực tập trong bệnh viện và tại nhà trẻ của riêng mình, và người ta sợ rằng nhiều người trong số họ cũng sẵn sàng “gọi đàn ông” đến giúp mỗi khi tình thế cấp bách như bao phụ nữ khác thôi.

Nếu Ruth có bất kỳ kỳ vọng viển vông nào về đời sống nghề nghiệp, con bé giữ kín cho riêng mình, và chỉ được bạn học biết đến như một sinh viên vui vẻ, chân thành, ham học hỏi và chẳng bao giờ thiếu kiên nhẫn với bất cứ điều gì, ngoại trừ việc nghe ai đó bóng gió rằng phụ nữ không có tư duy khoa học bằng đàn ông.

“Người ta thực sự bảo rằng,” một cậu ấm đạo Quaker nói với một thanh niên cùng tuổi, “Ruth Bolton sắp thành một tay ‘đồ tể’ (bác sĩ phẫu thuật), đi học, mổ xác người, đại loại thế. Dù sao thì cô ta cũng đủ lạnh lùng để làm phẫu thuật đấy.” Cậu ta nói với vẻ đầy cảm xúc, vì rất có thể cậu ta đã từng bị đôi mắt bình thản của Ruth cân đo đong đếm, và sợ chết khiếp bởi nụ cười nhẹ đi kèm với câu trả lời đầy hóc búa cho mấy câu chuyện nhạt nhẽo của cậu ta. Những thanh niên như thế, vào thời điểm này, không xuất hiện rõ nét lắm trong tầm mắt của Ruth, trừ phi là những tình huống gây cười.

Về những chi tiết trong đời sống sinh viên, Ruth nói rất ít với bạn bè, nhưng sau này họ có lý do để biết rằng, con bé đã phải dốc hết thần kinh và gần như kiệt quệ sức lực mới có thể trụ vững. Con bé bắt đầu thực hành giải phẫu trên những bộ phận cơ thể người tách rời được mang vào phòng thực hành—mổ xẻ con mắt, cái tai, và một mớ cơ bắp, dây thần kinh rối rắm—một công việc chẳng có chút mùi vị chết chóc nào hơn việc phân tích một phần của cái cây vốn đã chết khô ngay khi bị nhổ tận gốc. Quen dần khiến những người nhạy cảm nhất cũng trở nên chai sạn trước những điều mà lúc đầu họ thấy ghê tởm nhất; và trong cuộc chiến tranh vừa qua, chúng ta đã thấy những phụ nữ mảnh mai nhất, những người vốn chẳng thể chịu nổi cảnh máu me tại nhà, đã trở nên quen thuộc với cảnh tượng chém giết đến mức họ đi lại trong các bệnh viện và ven các chiến trường, giữa những tàn tích tội nghiệp của thân xác con người tan nát, với sự bình thản như thể đang dạo bước trong vườn hoa.

Có lần vào một buổi tối, Ruth đang mải mê với một chuỗi nghiên cứu mà con bé không thể hoàn thành hay hiểu thấu nếu không thực hành, và con bé nôn nóng đến mức dường như không thể đợi đến ngày hôm sau. Vì vậy, con bé thuyết phục một bạn học cùng đọc sách tối hôm đó, rủ nhau xuống phòng giải phẫu của trường để tìm câu trả lời qua một giờ thực hành. Có lẽ, Ruth cũng muốn thử thách thần kinh của chính mình, xem liệu sự liên tưởng trong tâm trí có mạnh hơn ý chí của bản thân hay không.

Người lao công của tòa nhà cũ kỹ, tồi tàn này cho hai cô gái vào, không khỏi nghi ngờ, rồi đưa cho họ những cây nến thắp sáng mà họ cần, không nói gì thêm ngoài câu “có một cái mới đấy, cô ạ” khi hai cô gái bước lên cầu thang rộng.

Họ leo lên tầng ba, dừng lại trước một cánh cửa, mở khóa và bước vào một căn phòng dài, với một dãy cửa sổ ở một bên và một cửa ở cuối phòng. Căn phòng tối om, chẳng có ánh sáng nào ngoài ánh sao trời và những cây nến trên tay hai cô gái. Ánh nến mờ ảo hiện ra hai cái bàn dài và vài cái bàn nhỏ, một vài chiếc ghế dài và ghế tựa, một cặp bộ xương treo trên tường, một cái bồn rửa, và những đống đồ vật được phủ vải nằm rải rác trên bàn.

Các cửa sổ đang mở, gió đêm mát lạnh lùa vào đủ mạnh để thỉnh thoảng làm lay động tấm vải phủ trắng và khiến những khung cửa sổ lỏng lẻo rung lên. Nhưng tất cả những làn gió ngọt ngào của đêm tối vẫn không thể xóa đi trong căn phòng một cảm giác mơ hồ về cái chết.

Hai cô gái dừng lại một lát. Bản thân căn phòng này đã quá quen thuộc, nhưng đêm tối khiến bất cứ căn phòng nào cũng trở nên kỳ quái, đặc biệt là căn phòng giam giữ này, nơi mà những phần thân xác hữu tử của những người chưa được chôn cất gần như—có thể tưởng tượng—đang được những linh hồn lang thang của người quá cố ghé thăm trên những làn gió đêm thở dài.

Phía đối diện và cách một khoảng xa qua những mái nhà thấp hơn, hai cô gái nhìn thấy một tòa nhà cao, tầng trên cùng có vẻ là một phòng khiêu vũ. Các cửa sổ ở đó cũng mở, và xuyên qua đó họ nghe thấy tiếng rít gào của cây vĩ cầm bị tra tấn, tiếng “bùm, bùm” của kèn oboe, nhìn thấy những bóng người nam nữ chuyển động thoăn thoắt, và nghe tiếng gào của người dẫn nhịp.

“Tớ tự hỏi,” Ruth nói, “những cô gái đang nhảy múa ở kia sẽ nghĩ gì nếu họ nhìn thấy chúng ta, hoặc biết rằng có một căn phòng thế này ngay gần họ.”

Con bé không nói to lắm, và có lẽ vô thức, hai cô gái xích lại gần nhau khi tiến về phía chiếc bàn dài ở giữa phòng. Một vật dài nằm trên đó, được phủ một tấm vải liệm. Đây chắc chắn là “cái mới” mà ông lao công nhắc đến. Ruth tiến lên, với bàn tay không mấy vững vàng, con bé nhấc tấm vải trắng phủ phần trên của cái xác và lật xuống. Cả hai cô gái đều giật mình. Đó là một người da đen. Khuôn mặt đen bóng dường như thách thức cả sự nhợt nhạt của cái chết, và khẳng định một vẻ sống động xấu xí đáng sợ.

Ruth tái mét như tấm vải trắng, và người bạn đi cùng thì thầm: “Đi thôi Ruth, ghê quá.”

Có lẽ do ánh nến chập chờn, hoặc có lẽ chỉ là nỗi đau đớn từ một cái chết đầy đau đớn, nhưng khuôn mặt đen đầy vẻ ghê tởm kia dường như mang một cái cau mày nói rằng: “Các người vẫn chưa tha cho người da đen bị ruồng bỏ, bị ngược đãi sao, đến mức bây giờ còn phải lôi hắn từ dưới mộ lên, và phái cả đàn bà của các người đến để phanh thây hắn ra ư?”

Cái xác này là ai, một trong hàng ngàn người đã chết hôm qua, và chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành bụi tro, để phản đối việc khoa học biến cái thân xác vô dụng của hắn thành thứ gì đó có ích?

Ruth chắc không thể có suy nghĩ đó, vì với lòng trắc ẩn hiện rõ trên khuôn mặt ngọt ngào, thứ cảm xúc trong khoảnh khắc đã chiến thắng nỗi sợ hãi và ghê tởm, con bé cung kính đắp lại tấm vải, rồi đi về bàn của mình, như người bạn cũng quay về bàn của cô ấy. Và ở đó suốt một giờ, họ làm việc với các vấn đề của riêng mình, không nói lời nào, nhưng không phải không thấy kinh sợ trước sự hiện diện ở đó, “cái mới”, và không phải không có một cảm giác rợn ngợp về sự sống, khi họ nghe thấy nhịp điệu của âm nhạc và tiếng cười giòn tan vọng lại từ phòng khiêu vũ.

Khi cuối cùng họ rời đi, khóa căn phòng đáng sợ đó lại sau lưng và bước ra đường, nơi mọi người đang qua lại, lần đầu tiên họ mới nhận ra, trong cảm giác nhẹ nhõm, mình đã phải chịu đựng một áp lực thần kinh lớn đến nhường nào.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.