Những tuần lễ cứ thế trôi qua trong sự đơn điệu đến chán ngắt. Tại Quốc hội, các "thủ tục tiền đề" vẫn tiếp tục kéo dài lê thê, khiến cuộc sống của Sellers và Washington trở thành một sự chờ đợi đầy căng thẳng và mỏi mệt. Có lẽ trái tim họ đã tan vỡ từ lâu, nếu không nhờ những chuyến đi đổi gió đến New York để thăm Laura. Trong thời bình, việc túc trực ở Washington hay bất cứ đâu chẳng phải là công việc gì thú vị, nhưng đó lại là tất cả những gì hai người bạn có thể làm. Họ chỉ cần có mặt tại đó, sẵn sàng cho bất cứ tình huống khẩn cấp nào phát sinh. Công việc thực sự chẳng còn gì; mọi thứ đã xong xuôi cả rồi. Đây chỉ là kỳ họp thứ hai của Quốc hội mùa đông năm ngoái, và hành động của nó đối với dự luật thì chỉ có một kết cục duy nhất: chắc chắn sẽ được thông qua. Tất nhiên, Hạ viện phải làm lại phần việc của mình, nhưng với cùng một đội ngũ thành viên ở đó để giám sát thì chẳng có gì đáng lo. Thượng viện thì đã nắm chắc phần thắng—Thượng nghị sĩ Dilworthy hoàn toàn đủ khả năng dẹp tan mọi nghi ngờ về vấn đề này. Quả thực, chẳng phải bí mật gì ở Washington khi biết rằng Thượng viện đã sẵn sàng bỏ phiếu với đa số hai phần ba ủng hộ dự luật Đại học, ngay khi nó được trình lên cơ quan này.
Washington không còn tham gia vào những cuộc vui "đúng mùa" như mùa đông năm trước nữa. Anh đã mất hết hứng thú với những trò phù phiếm đó; giờ đây, anh bị đè nặng bởi những mối lo âu. Thượng nghị sĩ Dilworthy bảo với Washington rằng, khi phải chịu đựng trừng phạt thì thái độ khiêm cung là tốt nhất, và chỉ có một con đường duy nhất để trái tim đang sầu muộn tìm thấy sự tĩnh tại và an yên tuyệt đối. Lời gợi ý ấy đã chạm đúng vào lòng Washington, và vị Thượng nghị sĩ có thể thấy rõ dấu hiệu đó trên gương mặt anh.
Kể từ khoảnh khắc đó, người ta thấy chàng thanh niên này ở bên vị Thượng nghị sĩ còn nhiều hơn cả bên Đại tá Sellers. Mỗi khi vị chính trị gia chủ trì các buổi họp về phong trào kiêng rượu, ông lại đặt Washington vào hàng ghế đầu của những nhân vật quan trọng, những người góp phần tạo nên phong thái và vẻ uy nghiêm cho diễn đàn. Vây quanh anh là những cái đầu hói, điều đó càng làm cho chàng thanh niên trở nên nổi bật hơn.
Khi phát biểu tại các buổi họp này, vị chính trị gia không ít lần nhắc đến một cảnh tượng đầy khích lệ: một trong những người trẻ tuổi giàu có và rực rỡ nhất của giới thượng lưu đã từ bỏ sự phù hoa của kiếp bướm, để rồi cao thượng và đầy hy sinh hiến dâng tài năng cũng như của cải cho sự nghiệp cứu rỗi những đồng loại bất hạnh khỏi kiếp nhục nhã, khổ ải ở hiện tại và sự hối tiếc vĩnh viễn ở kiếp sau.

Trong các buổi cầu nguyện, Thượng nghị sĩ luôn khoác tay dẫn Washington đi dọc lối đi và xếp anh ngồi ở vị trí trang trọng nhất. Trong những lời cầu nguyện của mình, ông nhắc đến anh bằng thứ ngôn ngữ giáo điều mà ông sử dụng—có lẽ là một cách vô thức—và nhầm tưởng đó là tôn giáo, rồi còn nhiều cách khác nữa để thu hút sự chú ý vào anh. Ông đưa anh đến các buổi tụ họp vì người da đen, tụ họp vì người da đỏ, tụ họp vì những người ngoại đạo ở các vùng đất xa xôi. Ông hết lần này đến lần khác đưa anh ra trước các lớp học Kinh Thánh Chủ nhật, như một tấm gương để người đời noi theo. Trong mọi dịp ấy, Thượng nghị sĩ luôn buông những lời nhắc nhở bâng quơ về vô số dự án từ thiện mà người bạn trẻ nhiệt huyết của ông đang ấp ủ, chờ ngày dự luật Đại học được thông qua để có ngân sách giúp cải thiện cuộc sống cho những đồng loại bất hạnh của mình ở mọi quốc gia, mọi xứ sở. Thế là, qua những tuần lễ trôi đi, Washington lại một lần nữa trở thành một con sư tử đầy uy nghi, nhưng là con sư tử rong ruổi trên những cánh đồng bình yên của tôn giáo và phong trào kiêng rượu, không còn ghé thăm lãnh địa lấp lánh của giới thời thượng thêm một lần nào nữa. Một ảnh hưởng đạo đức to lớn nhờ đó đã được huy động để ủng hộ dự luật; những người bạn quyền thế nhất đã đổ xô về dưới lá cờ của nó; những kẻ chống đối năng nổ nhất cũng phải lên tiếng rằng chiến đấu thêm nữa cũng vô ích; họ đã ngầm đầu hàng ngay cả khi ngày quyết chiến còn chưa tới.