Sử gia, dù có thiện chí đến đâu, cũng chẳng thể nào kiểm soát nổi dòng sự kiện hay ép buộc các nhân vật trong câu chuyện của mình hành xử khôn ngoan hoặc đạt đến thành công. Dễ dàng nhận thấy mọi chuyện có thể đã khác nếu được sắp xếp khéo léo hơn; chỉ cần thay đổi đôi chút ở chỗ này, chỗ kia thôi, lịch sử của tập truyện này đã khác xa hiện tại.
Nếu Philip chịu chọn một nghề nghiệp đàng hoàng, dù chỉ là một nghề buôn bán tầm thường, thì giờ đây có lẽ chàng đã là một biên tập viên phát đạt, một gã thợ sửa ống nước tận tụy, hay một luật sư trung thực; chàng có thể đã vay tiền ngân hàng để dựng một mái ấm, và giờ đang bận rộn sắm sửa nội thất để cùng Ruth dọn về ở. Thay vì thế, với chút kiến thức kỹ thuật dân dụng nửa vời, chàng lại đang ru rú ở nhà mẹ, hết càu nhàu về vận rủi của mình lại chửi rủa sự cứng đầu và gian trá của lòng người, chẳng nghĩ ngợi gì ngoài việc làm sao đào được than dưới những ngọn đồi Ilium.
Nếu Thượng nghị sĩ Dilworthy không cất công ghé thăm Hawkeye, thì gia đình Hawkins và Đại tá Sellers đâu phải vất vả chầu chực ở Quốc hội, cố tìm cách dụ dỗ cái cơ quan "tinh khiết" kia phê duyệt những khoản ngân sách tư lợi – thứ mà các vị nghị viên thấy khó mà giải trình với cử tri của mình. Và nếu không có chuyến thăm đó, Laura đâu phải nằm trong nhà tù Tombs, chờ ngày ra tòa vì tội giết người, và đâu phải cố hết sức nhờ cậy những luật sư tài ba để làm vẩn đục dòng suối trong sạch của thủ tục tố tụng hình sự tại New York.
Nếu Henry Brierly tan xác trên chiếc tàu hơi nước đầu tiên ở sông Mississippi mà gã đặt chân lên – cái kết mà ai cũng đoán trước được – thì gã và Đại tá Sellers đâu bao giờ lao vào dự án Hàng hải Columbus, và chắc chắn chẳng dính dáng gì đến dự án Đất đai Đông Tennessee. Khi đó, gã cũng chẳng bị kẹt lại New York, lỡ dở bao công việc quan trọng ở bờ Tây, chỉ vì phải ở lại làm chứng cho vụ án giết người của chính người phụ nữ mà gã yêu thương còn không bằng một nửa tình yêu gã dành cho bản thân mình. Nếu ông Bolton chịu nói lời “không” với ông Bigler, thì Alice Montague có lẽ đang hưởng mùa đông ở Philadelphia, cùng với Philip (người đang đợi mùa xuân đến để tiếp tục công việc khai thác mỏ); và Ruth đâu phải làm trợ lý trong bệnh viện Philadelphia, ngày ngày vắt kiệt sức lực với những công việc hành chính nặng nề, chỉ để gánh bớt phần nào nỗi lo đè nặng lên vai gia đình bất hạnh của mình.
Thật là một mớ hỗn độn. Một sử gia trung thực, nếu đi được đến chặng đường này và thấy mọi thứ dẫn đến tình cảnh thảm hại và bế tắc như vậy, hẳn sẽ có lý do chính đáng để kết thúc câu chuyện của mình ở đây bằng dòng chữ: “Sau đây là đại hồng thủy.” Niềm an ủi duy nhất của ông ta là việc mình chẳng phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ nhân vật hay sự kiện nào.
Vần đề gây bực bội nhất là một chút tiền, nếu được sử dụng khôn ngoan, có thể giải tỏa mọi gánh nặng và lo âu của hầu hết những con người này; nhưng trớ trêu thay, cuộc đời dường như luôn sắp đặt để tiền bạc trở thành thứ khó kiếm nhất ngay lúc người ta cần nó nhất.
Một phần nhỏ trong số tiền mà ông Bolton đã yếu đuối đem cho kẻ chẳng xứng đáng, nếu được giữ lại, có lẽ đã giúp gia đình ông có được sự an nhàn, và giải thoát Ruth khỏi sự lao dịch quá sức mà vốn dĩ thể chất cô không hề chịu đựng nổi. Chỉ một chút tiền thôi cũng đủ biến Đại tá Sellers thành một ông hoàng; và thêm chút nữa sẽ làm dịu đi nỗi lo của Washington Hawkins về Laura, vì dù phiên tòa kết thúc ra sao, anh ta vẫn chắc chắn có cách cứu cô thoát tội. Còn nếu Philip có chút tiền trong tay, chàng có thể mở khóa cánh cửa đá trên núi, nơi dòng suối giàu sang lấp lánh sẽ tuôn trào. Cần một chiếc đũa thần bằng vàng để khai mở khối đá đó. Nếu dự luật Đại học Knobs chỉ cần được thông qua thôi, thì cuộc đời của hầu hết các nhân vật trong câu chuyện này đã thay đổi biết bao. Ngay cả bản thân Philip cũng sẽ cảm nhận được những lợi ích đó; vì Harry sẽ có chút vốn liếng, Đại tá Sellers cũng vậy; và chẳng phải hai kẻ thận trọng kia đã bày tỏ quyết tâm sẽ góp vốn vào mỏ Ilium khi họ “bắt được những con sơn ca” sao?
Philip không thể cưỡng lại ý định ghé thăm Fallkill. Chàng đã không tới nhà Montague kể từ lần cuối nhìn thấy Ruth ở đó, và chàng muốn tham khảo ý kiến của Ngài Squire về việc tìm một nghề nghiệp. Chàng quyết tâm không lãng phí thêm thời gian để trông chờ vào vận may nữa, mà phải bắt tay vào làm việc gì đó, dù chỉ là dạy học ở Trường dòng Fallkill, hay đi đào nghêu trên bãi biển Hingham. Có lẽ chàng có thể vừa đọc sách luật tại văn phòng của Ngài Squire vừa kiếm cơm bằng nghề dạy học.

Phải thừa nhận rằng, không hoàn toàn là lỗi của Philip khi chàng lâm vào hoàn cảnh này. Xã hội Mỹ đương thời có bao nhiêu thanh niên như chàng, cùng độ tuổi, cùng cơ hội, giáo dục và năng lực, nhưng thực tế chẳng được đào tạo để làm gì cả, cứ thả trôi đời mình với hy vọng rằng bằng một bước ngoặt may mắn nào đó, họ sẽ tìm thấy con đường vàng dẫn đến giàu sang. Chàng không phải kẻ lười biếng hay vô dụng; chàng có nghị lực và ý chí muốn tự vạch lối cho mình. Nhưng chàng lại sinh ra vào thời đại mà mọi thanh niên cùng lứa đều mắc bệnh sốt đầu cơ, và mong đợi thành công bằng cách bỏ qua những quy trình chính thống đã được thiết lập từ bao đời nay.

Và không thiếu những tấm gương để khích lệ chàng. Xung quanh chàng đầy rẫy những kẻ hôm qua còn nghèo túng, hôm nay đã giàu sang, phất lên nhờ những phương cách mà chẳng ai có thể liệt kê vào bất kỳ nghề nghiệp chính đáng nào. Một cuộc chiến tranh có thể mang lại sự nghiệp và rất có thể là cả danh tiếng cho một kẻ như thế. Hắn có thể đã trở thành một “ông trùm đường sắt,” một chính trị gia, một nhà đầu cơ đất đai, hay một trong những kẻ bí ẩn đi tàu hỏa và tàu thủy miễn phí, ngày đêm ngược xuôi vượt Đại Tây Dương, chẳng ai biết bận bịu việc gì, mà vẫn kiếm bộn tiền. Thỉnh thoảng, với một nụ cười mỉa mai, chàng lại nghĩ có lẽ cuối cùng mình sẽ kết thúc đời mình bằng nghề đại lý bảo hiểm, đi nài nỉ người ta mua bảo hiểm nhân thọ vì lợi ích của chính mình.
Có lẽ Philip không nghĩ đến việc sự hiện diện của Alice đã làm Fallkill trở nên thu hút nhường nào. Chàng biết cô quá lâu, hình bóng cô đã in sâu vào đời chàng như một thói quen, đến mức chàng cứ mặc nhiên tận hưởng sự bầu bạn của cô mà chẳng mảy may suy nghĩ. Dạo gần đây, mỗi khi nghĩ đến Alice là chàng lại nghĩ đến Ruth; và nếu có chút lưu tâm đến vấn đề này, thì đó chỉ là cảm giác mơ hồ rằng cô cảm thông với tình yêu của chàng và luôn sẵn lòng lắng nghe chàng thổ lộ. Nếu có bao giờ chàng tự hỏi tại sao bản thân Alice không yêu ai và chẳng bao giờ nói đến khả năng kết hôn của chính mình, thì đó cũng chỉ là một ý nghĩ thoáng qua, bởi tình yêu dường như không thật sự cần thiết đối với một người điềm tĩnh, cân bằng và có nhiều nguồn lực nội tại như cô.
Dù suy nghĩ của cô là gì đi nữa, Philip hay đám sử gia này cũng chẳng thể nào biết được; nếu cô có đang cố tỏ ra mình không phải như vậy, và đang phải mang một gánh nặng mà không ai khác phải gánh, chỉ vì cô phải chịu đựng nó một mình, thì cô cũng chỉ đang làm điều mà hàng ngàn phụ nữ khác vẫn làm: với sự hy sinh bản thân và chủ nghĩa anh hùng mà những gã đàn ông vốn thiếu kiên nhẫn và hay cằn nhằn kia chẳng thể nào hình dung nổi. Chẳng phải những gã "trẻ con to xác" có râu này đã lấp đầy văn chương bằng những tiếng kêu gào, đau khổ và than vãn của họ đó sao? Thế mà lúc nào họ cũng đổ lỗi cho phái yếu là cứng rắn, độc ác, bạc bẽo và không bao giờ biết tha thứ.
“Anh có nghĩ mình sẽ bằng lòng sống ở Fallkill và hành nghề tại Tòa án hạt không?” Alice hỏi khi Philip mở lời về chương trình mới của mình.
“Có lẽ không mãi mãi,” Philip đáp, “có khi tôi sẽ đến Boston hành nghề, hoặc tới Chicago.”
“Hoặc anh có thể đắc cử vào Quốc hội.”
Philip nhìn Alice để xem cô có đang nghiêm túc hay chỉ trêu chọc mình. Khuôn mặt cô hoàn toàn nghiêm nghị. Alice là một trong những phụ nữ yêu nước ở các vùng nông thôn, những người vẫn nghĩ rằng đàn ông được chọn vào Quốc hội dựa trên năng lực và phẩm chất.
“Không,” Philip nói, “bây giờ, khả năng một người lọt được vào Quốc hội mà không phải dùng đến những thủ đoạn bẩn thỉu là rất thấp; tất nhiên vẫn có ngoại lệ; nhưng em có biết rằng nếu là luật sư mà bước chân vào chính trị, tôi không thể giữ vững vị thế trong nghề nghiệp của mình mà không dấy lên sự nghi ngờ về động cơ và lòng vô tư của bản thân không? Chẳng phải cả nước đang đưa tin rầm rộ và coi đó là điều kỳ diệu khi một nghị sĩ bỏ phiếu trung thực, vô tư và từ chối lợi dụng vị trí để trục lợi từ chính phủ đấy sao?”
“Nhưng,” Alice khăng khăng, “em nghĩ đi vào Quốc hội là một hoài bão cao đẹp, nếu nó thực sự tồi tệ đến thế, thì đó là cơ hội để giúp cải cách nó. Em không tin nó lại mục nát như Quốc hội Anh thời xưa đâu, nếu mấy cuốn tiểu thuyết nói đúng, và em cho rằng nơi đó giờ đã được cải cách rồi.”
“Tôi thực sự không biết cải cách sẽ bắt đầu từ đâu. Tôi đã nhiều lần thấy một người đàn ông tài năng, trung thực tranh cử với một gã bịp bợm mù chữ, rồi bị đánh bại. Tôi cho rằng nếu dân chúng muốn những nghị sĩ tử tế thì họ đã bầu rồi. Có lẽ,” Philip tiếp lời với một nụ cười, “phụ nữ sẽ phải đi bầu thay.”
“Vâng, em sẽ sẵn lòng, nếu đó là điều cần thiết, cũng như việc em sẽ ra trận và làm những gì có thể nếu đất nước không còn cách nào khác để cứu vãn,” Alice nói với khí phách khiến Philip ngạc nhiên, dù chàng nghĩ mình hiểu cô rõ đến thế nào. “Nếu em là một quý ông trong thời đại này—”
Philip cười phá lên. “Đúng là câu Ruth hay nói, ‘nếu cô ấy là đàn ông’. Anh tự hỏi liệu tất cả các quý cô đều đang có ý định đổi giới tính hay sao.”
“Không, chỉ là một giới tính đã đổi thay thôi,” Alice đáp trả; “phần lớn chúng em đang ngắm nghía những gã đàn ông chẳng thèm quan tâm đến bất cứ điều gì mà họ đáng ra phải quan tâm.”
“Chà,” Philip nói, vẻ khiêm nhường, “anh có quan tâm đến vài thứ, ví dụ như em và Ruth chẳng hạn; có lẽ anh không nên thế. Có lẽ anh nên quan tâm đến Quốc hội và những thứ đại loại thế.”
“Đừng ngốc thế, Philip. Hôm qua em có nhận được thư của Ruth.”
“Anh có thể đọc thư cô ấy không?”
“Không, tất nhiên là không. Nhưng em e rằng công việc vất vả cộng với nỗi lo cho cha đang vắt kiệt sức cô ấy.”
“Em có nghĩ,” Philip hỏi, với một trong những suy nghĩ ích kỷ vẫn thường xen lẫn trong tình yêu thực sự, “rằng Ruth ưu tiên nghề nghiệp của cô ấy hơn—hơn là hôn nhân?”
“Philip,” Alice thốt lên, đứng dậy rời khỏi phòng, giọng nói gấp gáp như thể những từ ngữ này bị ép phải thốt ra, “anh đúng là mù quáng như con dơi; Ruth sẵn sàng chặt tay phải của mình vì anh ngay lúc này đấy.”
Philip không hề nhận ra mặt Alice đỏ bừng và giọng cô run rẩy; chàng chỉ nghĩ đến những lời nói ngọt ngào mình vừa nghe được. Còn cô gái tội nghiệp, trung thành với Ruth, trung thành với Philip, đi thẳng về phòng, khóa trái cửa, đổ gục xuống giường và nức nở như thể trái tim mình sắp vỡ vụn. Rồi cô cầu nguyện Cha Trên Trời ban cho mình sức mạnh. Sau một lúc, cô bình tâm lại, bước đến ngăn kéo tủ, lấy từ chỗ giấu ra một mẩu giấy nhỏ, ố vàng theo năm tháng. Trên đó ghim một nhánh cỏ ba lá bốn cánh, cũng đã khô héo và vàng úa. Cô nhìn thật lâu vào kỷ vật ngớ ngẩn này. Dưới lá cỏ ba lá là dòng chữ viết tay của một nữ sinh— “Philip, tháng Sáu, 186-.”

Ngài Squire đánh giá rất cao đề nghị của Philip. Đáng lẽ chàng nên bắt đầu học luật ngay khi rời đại học thì tốt hơn, nhưng giờ vẫn chưa phải là quá muộn, vả lại chàng cũng đã tích lũy được đôi chút vốn sống.
“Nhưng,” Ngài Squire hỏi, “anh định bỏ mảnh đất của mình ở Pennsylvania sao?” Mảnh đất này đối với vị luật sư kiêm điền chủ vùng New England này trông như một gia tài tiềm năng khổng lồ. “Chẳng phải nó có gỗ tốt và đường ray xe lửa gần như chạm đến nơi sao?”
“Giờ cháu chẳng thể làm gì với nó cả. Có lẽ sau này thì được.”
“Căn cứ nào khiến anh cho rằng ở đó có than?”
“Ý kiến của nhà địa chất giỏi nhất mà cháu có thể tham khảo, cộng với sự quan sát của bản thân cháu về vùng đất đó, và cả những vỉa than nhỏ chúng cháu đã tìm thấy. Cháu cảm thấy chắc chắn nó ở đó. Thế nào cháu cũng sẽ tìm ra. Cháu biết mà. Chỉ cần cháu giữ được mảnh đất cho đến khi kiếm đủ tiền để thử lại lần nữa.”
Philip lấy từ trong túi ra tấm bản đồ vùng than antraxit và chỉ ra vị trí ngọn núi Ilium nơi chàng đã bắt đầu đào hầm.
“Trông nó không giống như có than sao ạ?”
“Thật sự là có vẻ thế,” Ngài Squire nói, đầy hứng thú. Không hiếm trường hợp một quý ông nông thôn điềm đạm lại bị lôi cuốn vào những vụ đầu tư như vậy hơn cả một tay đầu cơ đã nếm trải nhiều rủi ro. Thật đáng kinh ngạc khi thấy bao nhiêu giáo sĩ vùng New England, trong thời kỳ cơn sốt dầu mỏ, đã liều mình tham gia vào các phi vụ dầu khí. Người ta đồn rằng các nhà môi giới ở Phố Wall thực hiện kha khá các giao dịch nhỏ cho những vị giáo sĩ nông thôn này – những người hẳn được thôi thúc bởi mong muốn đáng khen là làm trong sạch thị trường chứng khoán New York.

“Tôi không thấy có nhiều rủi ro lắm,” Ngài Squire nói sau một hồi. “Giá trị gỗ còn cao hơn cả tiền thế chấp; và nếu vỉa than đó thực sự nằm ở đó, thì đó là một gia tài vĩ đại. Anh có muốn thử lại vào mùa xuân không, Phil?”
Có muốn thử không ư! Nếu có chút giúp đỡ, chàng sẵn sàng tự mình làm việc với cái cuốc và xe cút kít, và sống bằng mẩu bánh mì khô. Chỉ cần cho chàng thêm một cơ hội nữa thôi.
Và thế là, Ngài Squire Montague già nua, thận trọng đã bị cuốn vào vụ đầu cơ của chàng trai trẻ, để rồi bắt đầu chuỗi ngày tuổi già bình yên bị xáo trộn bởi những lo âu và hy vọng về một vận may đổi đời.
“Chắc chắn rồi, tôi chỉ quan tâm đến nó vì thằng bé thôi,” ông nói. Ngài Squire cũng như bao người khác; sớm muộn gì ông cũng phải “thử vận may” một lần.
Có lẽ chính vì phụ nữ thiếu tinh thần liều lĩnh mà họ không chuộng đầu cơ cổ phiếu hay phi vụ khai mỏ như đàn ông. Chỉ khi nào phụ nữ trở nên tha hóa, họ mới tìm đến bất kỳ hình thức đánh bạc nào. Cả Alice lẫn Ruth đều chẳng mấy phấn khích với viễn cảnh Philip nối lại dự án khai thác mỏ của mình.
Nhưng Philip thì vô cùng đắc thắng. Chàng viết thư cho Ruth như thể gia tài của mình đã nắm trong tay, và như thể những đám mây u ám bao trùm gia đình Bolton đã bị chôn vùi dưới lòng sâu của mỏ than. Gần đến mùa xuân, chàng đến Philadelphia với những kế hoạch đã được hoàn thiện cho một chiến dịch mới. Sự nhiệt huyết của chàng có sức lay động khó cưỡng.
“Philip đến rồi, Philip đến rồi,” bọn trẻ reo lên, như thể một điều tốt lành lớn lao lại đến với gia đình; và điệp khúc ấy còn tự vang lên trong trái tim Ruth khi cô đi mỏi mòn trên những vòng tuần tra bệnh viện. Ông Bolton cảm thấy can đảm hơn những tháng trước khi nhìn thấy gương mặt nam tính và nghe thấy giọng nói tươi vui của chàng.
Sự lựa chọn của Ruth giờ đã được minh chứng, và chắc chắn Philip – người chẳng có gì để mang lại ngoài một cơ hội trong tương lai – không nên tranh luận với cô về thành quả hiển nhiên từ sự quyết tâm và cần mẫn của cô. Ruth chưa bao giờ chắc chắn hơn thế rằng mình đúng và mình hoàn toàn độc lập. Có lẽ, cô không mấy chú ý đến tiếng nói nhỏ nhẹ vẫn ngân vang trong trái tim thiếu nữ khi cô làm việc, tiếng nói giúp nhẹ bớt gánh nặng và làm mọi thứ trở nên dễ dàng hơn: “Philip đến rồi.”
“Em mừng cho cha,” cô nói với Philip, “khi anh đã đến. Em thấy cha rất trông cậy vào những gì anh có thể làm. Ông ấy nghĩ phụ nữ sẽ chẳng trụ được lâu đâu,” Ruth nói thêm với nụ cười mà Philip chưa bao giờ hiểu thấu đáo.
“Và đôi khi em không thấy mệt mỏi với cuộc đấu tranh này sao?”
“Mệt ư? Có chứ, em cho rằng ai mà chẳng mệt. Nhưng đây là một nghề cao quý. Và anh có muốn em phải phụ thuộc không, Philip?”
“Ừm, có, một chút,” Philip đáp, dò dẫm tìm cách nói điều mình muốn.
“Cụ thể là phụ thuộc vào điều gì, ngay lúc này đây?” Ruth hỏi, Philip nghĩ là cô hơi có ý châm chọc.
“À, thì—,” chàng không thể nói ra được, vì chàng nhận ra mình là một kẻ yếu kém để bất kỳ ai nương tựa vào trong tình cảnh tài chính hiện tại, và người phụ nữ trước mặt chàng ít nhất cũng độc lập không kém gì chàng.
“Anh không có ý nói phụ thuộc,” chàng bắt đầu lại. “Nhưng anh yêu em, chỉ vậy thôi. Anh chẳng là gì—đối với em sao?” Philip nhìn đầy vẻ thách thức, như thể chàng vừa nói ra điều gì đó đủ sức quét sạch mọi ngụy biện về nghĩa vụ của cả hai, giữa người đàn ông và người phụ nữ.
Có lẽ Ruth hiểu điều này. Có lẽ cô nhận ra những lý thuyết của riêng mình về sự bình đẳng quyền lực, thứ đáng lẽ phải có trước khi kết hợp hai trái tim, có thể đã bị đẩy đi quá xa. Có lẽ đôi khi cô cũng cảm thấy sự yếu đuối của bản thân và nhu cầu, xét cho cùng, về một sự cảm thông sâu sắc và một sự quan tâm dịu dàng được bộc lộ, như điều mà Philip có thể mang lại. Dù điều gì đã lay chuyển cô—câu đố này cũng cổ xưa như chính sự sáng tạo vậy—cô chỉ đơn giản nhìn lên Philip và nói bằng giọng thấp: “Anh là tất cả.”

Và Philip nắm chặt cả hai bàn tay cô, nhìn xuống đôi mắt đang uống cạn sự dịu dàng của chàng với cơn khát của bản chất người phụ nữ đích thực—
“Ồ! Philip, ra đây mau,” cậu bé Eli hét lớn, đẩy tung cửa.
Và Ruth chạy thoát về phòng, trái tim cô lại hát vang, và giờ đây như muốn vỡ tung vì sung sướng: “Philip đến rồi.”
Đêm đó, Philip nhận được một bức điện từ Harry—“Phiên tòa bắt đầu vào ngày mai.”
