T
Ừ TONLE SAP, chúng tôi lên hai cái xe tải chạy thẳng ra ngã tư. Suốt từ biên giới nước Việt đến đây, chúng tôi đã quen với đường chân trời hút tầm mắt. Giờ thì cảnh quan đã thay đổi. Xen giữa những khoảng ruộng là những đám rừng thưa cao thấp khác nhau về bình độ. Những quả núi đất thấp nhỏ, cây đã cháy trụi hết. Trên núi, những đền nhỏ hay tháp tượng nham nhở vì vết đạn, bị lửa xông cho đen thui. Có cái tượng bốn mặt bị pháo 37 ly tương đúng mép bay nửa mặt, xếch miệng lên cười trông rất quái hiểm. Núi nào cũng có tháp cổ. Bọn địch thường vác DK.75 lên núi để phụt vào đội hình hành tiến của lính ta trên mặt lộ 5.
Ăn sáng xong lên đường. Mỗi thằng một vắt cơm to. Chúng tôi bám lộ 5 rồi tạt phải. Nhiệm vụ là giữ sườn phải cho Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 3 thọc vào đường sắt. Khỏi mặt lộ 5 khoảng 500m là đụng địch ngay. Gần chục thằng áo đen chắc là trinh sát đi ngược chiều, thấy bọn tôi chạy lộn cắt ruộng về dãy thốt nốt đằng trước, quay lại bắn léc chéc. Chúng nó bám bờ cao ngăn các khu trảng ruộng bắn vào đội hình. Lúc gào trô trô đằng trước, lúc trô trô bên sườn, lúc lại đằng sau. Anh Hải quát: “Không được bắn bậy. Kệ mẹ nó, cứ từ từ bám địa hình tiến lên”. Lắm lúc đơn vị tránh trảng, thụt bám theo sườn cái bờ đập cao đi dòng dòng. Tụi nó bắn bên này thì tụi tôi lộn qua bên kia. Tụi nó qua bên kia thì bọn tôi lộn lại bên này. Lộn qua lộn lại những con đường bò xuyên thân đập. Một trò ú tim nửa trốn nửa tìm. Trên sóng 2W ở khắp các tần số, tiếng Việt lẫn tiếng Kh’mer loạn xạ, chứng tỏ có rất nhiều đơn vị tham chiến. Lắm khi cả ta và địch cùng dùng một tần số tới cả chục phút. Chúng nó chửi bọn tôi, thằng Túy chửi lại chúng nó. Thằng thông tin địch chửi tiếng Việt: “Đ… má tụi duôn bọn bây ngon thì qua đây”, rất sõi giọng Nam.
Qua nửa chiều khát cháy cổ, chúng tôi đến hồ nước trên bản đồ gần đường sắt. Một cái hồ đục ngầu kinh tởm, sủi bong bóng dưới nắng và bốc mùi nồng nặc. Quanh bờ hồ, những cái xác người bị nắng gió mùa khô hun cho khô đét, toả mùi thối khẳm. Trên mặt nước, những gốc cây cổ thụ nhưng cụt tướp xơ, rễ chùm cắm xuống mặt hồ. Thân cây trắng toát như những thân tràm tróc vỏ hay gỗ đước lâu năm. Trong đám rễ chùm cá quẫy sòng sõng. Đang khát cháy, mấy đứa thấy có nước nhao ra. Mé trảng bên kia hồ nhìn rõ toán trung đội địch, có cả lính nữ, đội can nước tháo chạy. Khoảng cách cũng hơi xa và lính đang khát nước nên chẳng ai buồn nổ súng. Bây giờ tôi vẫn nhớ cái mùi nhàn nhạt, ngầy ngậy không đun của cái nước hồ ấy. Chắc chắn nước hồ này lẫn mỡ và nước xác người.
Nhưng lúc đó cứ thế uống luôn cái thứ nước ấy mà không bị tháo dạ. Cơ chế cơ thể con người trong hoàn cảnh đặc biệt ưu tiên các vấn đề khác, quan trọng hơn là thiết lập một cơn đau bụng đi ngoài thuần tuý sinh lý.
Đêm hôm đó chúng tôi nằm cạnh hồ nước. Đêm yên tĩnh, trôi qua rất nhanh giữa lòng địch ta xen kẽ kiểu xôi đỗ. Tôi và anh Ky trải ni lông nằm đất không mắc mùng. Chúng tôi và chỉ huy sở nằm trong vòng sẫm của những cây thốt nốt, dưới một bờ đất cao. Ngoài trảng ruộng, trăng sáng vằng vặc như ban ngày. Các chòm cây thốt nốt lớn nhỏ, nằm lọt trên đồng không như những hòn đảo độc lập tối đen nằm trên biển sáng. Chỉ có những thằng ngu mới đi đột chốt vào những đêm như thế này. Mà qua cách giao lưu khinh khỉnh của bọn tôi với chúng nó suốt buổi ban ngày thì bọn Pốt phải hiểu rằng đã nhằn phải một đối tượng không dễ xơi.
Tinh mơ hôm sau, súc miệng bằng loạt 12.8 ly của địch từ bên kia hồ quất sang. Khẩu cối 82 ly từ hôm qua vận động nặng đạn, nài nỉ mãi, chưa bắn một quả nào thì hôm nay được lệnh khai hoả cho bộ đội lấy nước. Hơn chục trái giã vào bìa trảng bên kia hồ. Bọn địch thôi bắn ngay lập tức. Lúc này từ các hướng khác, súng nổ rộ lên không lúc nào ngừng, từ sáng đến gần trưa. Nổ liên hồi không phân biệt được ta đâu, địch đâu, như trận đồ bát quái. Càng gần trưa địch giạt về hồ nước ngày càng nhiều. Lắm thằng tưởng đến khu an toàn, xồng xộc chạy ra hồ lấy nước trên mặt ruộng. Lính Đại đội 2 và đại liên thi nhau kéo cò, điểm xạ như bắn tập vì xuôi nắng. Đến mức bọn địch bên kia hồ phải bắn quét dọc lộ để cản quân nó chạy về làm mồi.
Kỳ lạ là tôi nhịn cơm gần ngày trời mà không thấy đói. Đến chiều tà, có lệnh tạt về hướng Nam giải vây cho Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 3. Tiểu đoàn tôi có duyên với Tiểu đoàn 8 này, kể từ khi nổ súng đánh trận mở màn vào S’vay Rieng. Trận đó D8 đã chạy tràn qua đội hình chúng tôi. Bây giờ lại cứu bồ trên một vùng đất khác. Mỗi đơn vị thường có cái “dớp” của mình. Anh Hải cho thụt thêm vài quả cối rồi lệnh cắt mạn Nam đường. Bọn đang bâu sườn đơn vị bạn bị chúng tôi tập hậu giạt chạy chí chết. Thấy quân đằng sau khơi khơi trên mặt ruộng càn tới, chúng nó tưởng là quân nhà. Đến khi Đại đội 2 nổ súng, tụi nó bất ngờ, đi đến đâu địch giạt ra đến đấy. Cùng tiểu đoàn bạn ra đến lộ 5, chúng tôi gặp anh Nguyễn Năng Nguyễn – E trưởng E3 lúc đó đang chỉ huy trực tiếp 5 khẩu DK.75 ly dàn hàng ngang trên mặt đường. Anh Hải tới chào thủ trưởng cũ. Anh Nguyễn trước là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 từ hồi tôi chưa vào.
Cảm động nhất là ra gần sát lộ thì gặp Cáp đen cùng mấy thằng ốm ở cứ, xách súng gánh cơm vắt đi vào. Anh Hải có bảo là: “Mày biết chúng tao ở đâu mà đâm đầu vào rừng, liều thế?”. Cáp đen bảo: “Cứ chỗ nào nổ súng rát thì chúng tao đến đấy. Thế nào cũng gặp bọn mày”. Hai người bạn chí cốt này cùng quê cùng đoàn lính 74 vùng than Quảng Ninh. Về sau cả hai người đều hy sinh, người năm trước, người năm sau. Điều đặc biệt là suốt hai ngày đó, tiểu đoàn tôi không một ai mảy may bị thương hay hy sinh. Trong khi Tiểu đoàn 8 thương tử phải tới gần hai chục. Âu cũng là đạn biết tránh người.
Đêm đó, chúng tôi lại về khu nhà tôn nằm. Ngủ như chết và không phải gác vì nằm sát trung đoàn bộ Trung đoàn 3. Ai nấy sau hơn hai ngày phơi nắng, quần nhau với địch rộc rạc cả người.