TÔI VĨNH BIỆT TUỔI HỌC TRÒ bằng một cú va chạm mạnh.
Miền Bắc hồi đó, chị em toàn dùng một loại “quang treo” cùng một kiểu. Nó dày, các lớp vải được tích kê đồng tâm chặt với nhau thành hình nón. Đặc biệt cái mũi cứng và nhọn hoắt nên sơ mi mặc ngoài tại vị trí đó bị sờn trước tiên. Chẳng ai tò mò nhìn mãi vào đấy nhưng không hiểu sao nó cứ thường xuyên chọc vào mắt. Người nào ham sưu tầm các tranh cổ động hẳn biết cái “quang treo” kiên cố đó nó ảnh hưởng đến nền mỹ thuật hội họa tuyên truyền cổ động của chúng ta như thế nào. Trên các áp phích này thường thể hiện anh công nhân vạm vỡ chắc tay búa, gương mặt cương nghị rắn rỏi. Đứng cạnh là cô gái nông dân khỏe khoắn, dồi dào núi đôi, cầm liềm vươn tới cánh đồng năm tấn. Tôi năm đó 18 tuổi, đang học lớp 10 trường Phan Đình Phùng - Hoàng Diệu, phố Cửa Bắc hệ 10 năm. Thằng con trai 18 tuổi thời đó còn dại lắm, không quái như bọn trẻ con bây giờ. Vẫn dở ông dở thằng, đôi khi còn mặc quần đùi thông lổng ra hồ Hoàn Kiếm câu tôm trong những ngày nghỉ. Một lần cùng bọn con trai đuổi nhau trong trường, tôi chạy ngoặt qua cái góc cầu thang gỗ, ngực va sầm vào một cô giáo thực tập đang đi lên. Tôi đỡ cô giáo dậy, lúng búng xin lỗi rồi xấu hổ biến mất. Nhưng vết sẹo vô hình bởi sự va chạm chết người trên ngực thì không mất, nó lẩn quất đâu đó mãi trong đầu. Vết sẹo vô hình thời áo trắng làm tính tình trở nên chững chạc thanh niên hơn hẳn.
Thời đó áo trắng cũng hiếm. Gần nửa thời gian thơ ấu của tôi sống cùng Hà Nội dưới trời bom Mỹ thả. Thêm hai lần sơ tán nối nhau. Áo trắng của tôi bị nhúng vào chậu xanh-mê-ti-len do bố mang về để nguỵ trang. Tuổi thơ trải qua chiến tranh phá hoại quả thật không may cho một đứa trẻ con. Nhưng chính những trận bom, tầm cao xạ cùng tiếng B.52 rền trời ấy làm tôi không bị bất ngờ trong chiến trận sau này. Cũng chính cuộc sống nơi sơ tán thôn quê đã giúp mình tự lập, thay đổi thói quen, thích nghi với những hoàn cảnh khó khăn dã ngoại. Sau kỳ thi đại học năm 1978, tôi đi nghỉ hè trên viện bố tôi công tác ở Vĩnh Phúc. Ngày chủ nhật, tôi theo nhân viên viện ông lên Tam Đảo chơi. Tháng tám, đang mùa thu hoạch cây xuyên khung. Thị trấn trên núi vắng teo, thơm ngát mùi xuyên khung héo phơi đầy trên những con đường dốc.
Chiều tối, khi trở về gần đến Vĩnh Yên trời đổ cơn mưa. Ngoài cửa sổ xe ca hồng thập tự, một đoàn lính đang lặng lẽ hành quân. Họ trùm ni lông sù sù, cắm cúi bước trên con đường ướt loáng ánh đèn pha. Trong xe thật ấm, và chỉ một chút nữa thôi là về đến nhà để duỗi dài đôi cẳng đã mỏi nhừ vì leo dốc núi, mở chiếc đài Hồng Đăng trong phòng nghe ca nhạc. Nhưng có một điều gì đó như dự cảm đồng vọng, bắt tôi phải nhìn theo mãi đoàn quân ấy. Dự cảm bỗng trở thành hiện thực trong vòng 30 phút. Về đến viện gặp bố, ông bảo: “Mai về Hà Nội. Con có lệnh nhập ngũ”.
Chỉ bốn tháng sau, chúng tôi đã thành đồng đội, cũng hành quân rạc rài như thế, cũng chui hầm ngủ đất, không biết sống chết thế nào ở một nơi xa lắc.