Đ
ại đội 4 hỏa lực của tiểu đoàn, được bố trí cạnh pháo đội Trung đoàn 42. Bốn khẩu đại bác 105 ly toàn bộ đều chúc nòng bắn thẳng, vì trước khi chúng tôi vào giải vây, quân Kh’mer đỏ đánh sát ván tới tận chân hầm pháo. Pháo thủ phải đánh nhau giữ chốt như bộ binh.
Chỉ huy Đại đội 4 lúc đó là Thái Gia Ninh, em ruột nhà thơ Thái Thăng Long. Thằng Bình Hàng Giấy bạn cùng lớp phổ thông ở Tiểu đoàn 6 biết tôi vào, từ Đại đội 12 chạy sang thăm. Tôi nhờ anh Ninh canh máy, ra nằm trên con đường dừa hai thằng tâm sự. Từ khi sang đây đến giờ tôi mới gặp nó. Đang chuyện dở chừng, địch lại rộ lên đánh rát. Đôi trái M.79 bóc thủng mái tôn nhà trung đội. Anh Vịnh “bẩn” B trưởng thông tin dính mảnh kêu ồi ồi. Hai thằng tôi mất hứng, nằm ngửa im lặng nhìn lên mặt trăng. Đạn đại liên địch mỗi lúc một dày, đoang đoác đi thấp mát bụng. Bình sốt ruột, chào tôi lom khom chạy về đại đội.
Tôi mò về Đại đội 4, đóng cọc mắc mùng trên ruộng khô, trải ni lông nằm cạnh anh Ninh C phó. Đạn địch điếc tai, át cả tiếng chuông máy Mỹ kêu cồng cộc. Lính thê đội 2 ngày mai tấn công, được nằm giữa nên không phải gác. Không có cây mắc võng, lính giăng mùng trắng ruộng. Dưới ánh trăng trung tuần tháng Hai, những chiếc mùng xô trắng tinh lớp lớp, trông ghê như vải liệm. Một thằng đi tìm đồng hương về ngủ muộn, lấy trái lựu chày Trung Quốc đóng cọc mùng. Đất cứng, trái lựu chày phát nổ trên tay nó. Quân y vận tải gọi nhau om sòm. May chỗ nó nằm xa chỗ chúng tôi. Đêm ấy mặt trăng sáng trắng rọi thẳng mặt. Tôi phải lấy cái quần đùi che trăng trên đỉnh mùng cho tối đi, mãi mới ngủ được.
Hôm sau, Tiểu đoàn 4 dự bị cho trung đoàn 1 đánh vỗ mặt địch, thọc sâu lộ 27 tiến vào Am Leang. Chúng tôi nằm trên sân ga đợi lệnh xuất phát.
Ga Rômia, cũng bé tẹo như mọi ga xép trên trái đất, với đường ke, nhà chờ và tháp nước. Con đường sắt heo hút chạy giữa rừng dầu thưa, mùa khô lá rụng vàng cháy. Nhà ga một tầng, lợp ngói đỏ, tường lỗ chỗ vết đạn to nhỏ. Những kiến trúc còn lại nhắc nhở một thời yên bình. Nếu không có tiếng gầm của pháo đội 105 ly đang bắn quần quật ngay sau lưng, người ta sẽ nghĩ chúng tôi là những hành khách nhàn tản, đang ngồi chờ một chuyến tàu chiều.
Trên sân ga, hàng me keo cổ thụ xõa trùm bóng mát. Mỗi khi đại bác thụt nòng, hơi gió giật thổi qua, những trái me keo chín xoăn lại rùng mình quay vòng rụng xuống. Trái keo giống chiếc vòng tay tím đỏ màu thạch lựu, nức nở mở lòng phô bày múi nhân trắng dịu bao quanh chuỗi hạt. Lính thê đội 2 đợi vận động tấn công, đứa ngồi đứa nằm há miệng chờ keo rụng. Nhằn trái keo ăn chơi như nhằn cục kẹo, thấy vị mát ngọt kèm theo chút đắng. Cục kẹo đồng số phận chút nữa có vị gì hẳn chưa thằng nào nghĩ đến, bởi chúng tôi đa phần còn rất trẻ.
Khẩu pháo 37 ly của địch trên trái núi thấp đằng trước hạ nòng bắn tà âm. Tiếng đạn cao xạ nổ lốp bốp mé dãy thốt nốt đằng trước. Tiểu đoàn bộ giạt sang bên tay trái, rúc vào một vườn cây thấp. Tôi hỏi: “Cây bàng à anh Ky”, vì thấy lá cây nó giống lá bàng. Toàn cồ cười hô hố, bảo: “Bàng rừng đấy, ăn đi”. Hắn vặt những trái “bàng” chín đỏ trên những cành thấp, nhét vào mồm nhai phọt nước. Anh Ky bảo cây điều, trái ăn được. Một thứ trái cây kỳ lạ, láng mọng đỏ vàng thật đẹp mắt, nhưng trôn lại lòi ra cái hạt phồng trông như con ve chó mập.
Đang khát nước nên tôi làm gần chục trái. Toàn cồ xui: “Hạt nó cũng ăn được, bùi lắm, mày ăn thử đi”. Không chút nghi ngờ, tôi đưa cái hạt lên miệng nhai. Những tia dầu trong vỏ hạt xốp tứa ra. Cảm giác rát bỏng đến tức thời, làm phồng rộp lột da môi. Miệng cứng lại, nước dãi trào qua rất rát. Toàn cồ lăn ra cười rất khả ố. Hắn lính đoàn Thanh Hóa vào năm 77, hơn tôi hẳn một năm và to con gấp rưỡi. Cơn điên bùng lên, tôi vớ được cái bi đông nhựa đầy nước, ném thẳng vào cái mặt đang nhăn nhở. Hắn né được, nhảy vào định chụp tôi nhưng anh em xông vào kéo ra. Toàn cồ vẫn còn tức, lầu bầu chửi suốt. Tôi muốn chửi lại nhưng không được vì mồm sưng vêu do bỏng dầu sống hạt điều.
Câu chuyện lỡm nhau nhanh chóng đi qua. Tiểu đoàn nhận lệnh hành quân. Chặng đường gian nan ác liệt đang chờ đằng trước, số phận biết đâu ai mất ai còn. Nhưng cũng từ đó trung đội thông tin không bao giờ bố trí Toàn cồ với tôi đi chung một máy nữa. Năm 2011, sau cuộc chiến hơn 30 năm, tôi khấp khởi tìm về tận quê, xã Lương Sơn, huyện Thường Xuân tìm anh Ky, Toàn cồ, Trung khói để uống với nhau một trận quên sầu. Vào cả ủy ban xã dò tin nhưng vẫn bặt vô âm tín. Chén rượu mừng kỷ nhân hồi chưa rót đành vẫn bỏ dở dang.