T
IỂU ĐOÀN BỘ đóng quân ven suối, dưới một cây xoài mút cổ thụ. Những ngôi nhà nhỏ nằm rải rác ôm cái sân bóng chuyền lưới vẫn căng trên cột. Trung đội thông tin nằm mé trái, sát rặng le bên con suối nước tù. Nơi đây trước là phum Ba Tahean cũ.
Mùa mưa lịch tác chiến thưa, đơn vị củng cố nơi ăn chốn ở. Chúng tôi phát quang các bụi rậm, xây dựng doanh trại. Nhà lính thường ba gian nhỏ. Gian giữa có bộ bàn ghế để ngồi trà lá thuốc rê đóng bằng cây rừng, chôn cọc chân xuống đất. Hai chái hồi dành nơi làm ván ngủ. Quân y kiểm tra, không cho lính ngủ võng mùa mưa để chống sốt rét. Chúng tôi ra rừng chặt những cây thẳng, đường kính chừng 15cm làm cột nhà. Vì kèo cùng loại gỗ đó nhưng nhỏ hơn, cũng thượng thu hạ thách, chống đứng chống xiên vạc mộng cẩn thận. Đòn tay bằng tre tầm vông loại như cổ tay là vừa. Chằm lá thốt nốt để lợp mái là một công việc khá tỉ mẩn, đòi hỏi khéo tay. Một thanh tre vót bản rộng chừng 3cm, dài khoảng 2m làm cật cho tấm lá. Tiếp đó lá thốt nốt già được tách ra từng thuỳ đều nhau. Gấp đôi những thuỳ lá qua sống tre rồi khâu thành một đường dọc theo cật. Chỉ khâu cũng bằng lá thốt nốt. Những sống lá non tước thành những sợi dẹt, cắt vát nhọn đầu cuống. Hơ lửa cho đầu mũi cứng lại để xuyên qua những thùy lá chằm cho dễ. Cuối đường khâu lộn lại vài mũi rồi gài. Thế là xong một tấm.
Đánh tranh phức tạp hơn một chút. Lần sâu vào hướng suối tù, cách chỗ đứng chân khoảng 2km có mấy cái trảng gianh lớn. Bãi gianh này cùng phum Nhà dài về sau là bãi săn của mấy anh lính sát thú người Thanh Hoá. Khi đi lấy gianh thường phải có tổ chức và mang súng vì nó khá xa đội hình đứng chân. Hơn nữa chỗ này hay xuất hiện thú dữ. Có những lúc bọn tôi đi cắt gianh gặp cả đàn heo rừng con lông vàng sọc ngang chạy xoi xói. Không thấy lợn mẹ đâu nhưng vẫn nghe tiếng nó hực hực gọi con trong đám cỏ dày. Trên bãi tranh, vết ủi bật đất của bầy heo rừng cày ngang dọc nồng mùi đất mới. Heo rừng thích ăn mầm cỏ tranh non còn nằm ẩn sâu dưới đất. Đôi khi thấy từng cợn bùn khô dính đầy lông heo cọ gãi, bám chòm gốc những cây cám mồ côi.
Tranh cắt về phơi khô vàng. Chẻ thân le bánh tẻ thành từng dây lạt cứng dài. Buộc chắc đầu năm cái lạt, nắm từng lọn tranh vừa phải, dỗ đầu gianh cho đều rồi kẹp vào bó lạt. Lần lượt tuồn lạt cố định từng lọn thật chặt tay như bện tóc bím. Giữa đường bện thỉnh thoảng cố định bằng một múi buộc cho chắc chắn. Cuối cùng buộc một múi thật chắc, kê gỗ chặt đầu gianh thừa cho bằng. Nói đơn giản thế nhưng khi cắt tranh và đan tranh, tay tôi bị cứa ngang dọc vì lá cỏ tranh rất sắc.
Vách nhà lính cũng che bằng lá thốt nốt hoặc đánh gianh thưng. Các căn nhà trong đội hình nối với nhau bằng những lối đi đắp cao sạch sẽ. Hai bên lối đi, chúng tôi đóng cọc, dựng lan can tay vịn bằng cây le rừng song song trông rất đẹp mắt. Cũng cầu tắm suối với các bậc lên xuống được lát thân gỗ. Cũng vườn rau cải, rau muống xanh um. Phía lán anh nuôi sát bờ suối, khói bếp vấn vít quanh bụi le trong buổi chiều tà. Nước mình đã ba mươi năm chiến tranh. Những người lính quen chiến trận nhưng cũng rất tháo vát trong việc tổ chức cuộc sống. Anh dạy em, lính cũ dạy lính mới. Cứ thế, khu căn cứ tiểu đoàn dần mọc lên như một cái làng xa xứ. Nỗi nhớ quê nhà quấn quýt hiển hiện trên từng múi lạt buộc, trông chẳng khác một xóm nước Việt ấm áp nằm giữa đại ngàn.
Ban ngày, tiểu đoàn bung đội hình đi sục từ sáng sớm, ban đêm lại co về. Mé trong núi Phnom Aural đôi lúc nghe tiếng mìn nổ vọng lại. Có thể là thú rừng vướng mìn địch cài. Tôi mới đi viện về nên anh em cũng ưu tiên cho được nghỉ ngơi. Truy quét cấp đại đội bọn thằng Túy, thằng Ban trố 2W phải đi chứ tôi với với anh Ky nằm ôm cái điện thoại ngủ suốt ngày cũng được. Trời đang chuyển mùa. Mưa nhỏ hơn và thường xuất hiện vào nửa đêm về sáng. Gần sớm thức giấc nửa mơ nửa tỉnh, nghe đại đội lịch kịch súng đạn trở dậy đi càn, kéo cái tấm đắp trùm qua đầu co mình trên võng. Ngoài trời đang mưa lắc rắc. Cái cảm giác được nghỉ trong khi những người khác vẫn phải làm việc thực thà mà nói cũng dễ chịu.
Cứ còn lại mấy thằng ốm dở. Ngủ chán thì vác súng đi loanh quanh bắn bậy. Chúng tôi tìm được một đoạn suối rong nước chảy chậm. Cả nhóm bắt tay ngay vào việc ruốc cá. Trò này do mấy anh lính người dân tộc làm, lần đầu tôi tham gia. Chúng tôi lấy cành cây đóng cừ, lấp đất dòng chảy ở chỗ lòng suối hẹp nhất. Lúc này mé trên con “đập” mới đắp, nước chỉ chảy nho nhỏ do bị chặn ứ. Chúng tôi mang hàng bó cây say – một loại cây rừng có vỏ nhiều nhựa màu đỏ, đập vào đá cho xơ ra. Hai thằng đập, rũ vỏ trên thượng nguồn, vài đứa mang xơ vỏ và cả lá cây say vò nát khỏa đều khắp. Tàn đôi điếu thuốc rê, cá bị say bắt đầu ngoi lên lờ đờ ngáp. Cá ngựa là yếu nhất, gần như ngoi ngay lập tức. Giống cá này trông như con cá chép, đuôi cũng đỏ nhưng nhỏ hơn, mình thuôn tròn không có đôi râu. Tiếp đến loại cá giống cá mè vinh, đuôi vàng thân mỏng láng sườn tráng bạc. Cá chốt râu ria lờ phờ ngoe nguẩy trên mặt nước. Những con yếu chỉ cần bụm tay hất lên trên bờ. Những con to và còn khỏe, chúng tôi lấy cây nhè đầu đập choáng rồi vớt.
Cá lăng, cá kết, cá bò bị say muộn hơn, luồn ra khỏi hang trú ngụ. Vây ngạnh vây lưng duỗi ra đờ đẫn cứng đơ như mũi chông độc rất nguy hiểm. Lúc này lội suối phải thật khéo, bao giờ cũng phải đưa ngón chân xuống trước để thăm dò chỗ đặt bàn chân nếu không muốn ăn cả cái ngạnh trên kỳ lưng cá bò. Thủng chân vì ngạnh cá này vết thương sưng và phát sốt ngay. Đôi tay lùa thật nhẹ dưới đáy nước, thấy trơn mềm dài thân đích thị con lăng nha lớn. Từ từ luồn hai bàn tay xuống, tránh cái ngạnh vây ra. Và tránh cả bộ râu đẹp của nó nữa, bởi râu cá là xúc tu kiếm mồi, rất nhạy cảm với sự đụng chạm. Thật nhẹ nhàng vừa phải, đẩy nó dần dần cặp bờ thoải. Đã thấy cái lưng cá xanh bóng nhẫy. A lê hấp! Hất thẳng lên bờ. Có những con cá lăng dài gần nửa mét. Loại này om với măng le ngâm chua ăn ngon chết bỏ. Cá bò ngạt nước say, đổi màu vàng ươm hoặc loang lổ trông như màu sơn máy bay Mỹ. Lên bờ rồi răng vẫn nghiến èn ẹt nghe rất vui tai. Mỗi chuyến như thế chúng tôi bắt được cả chục ký cá là chuyện bình thường. Trên đường khiêng về tiện tay hái nắm lá giang hay lá bứa nữa là kể như đủ vị.
Ngoài chuyện săn cá cải thiện, tụi ở nhà có nhiệm vụ củng cố doanh trại. Chúng tôi đi lấy ván dầu từ các vách nhà sàn dân bỏ. Vỏ ngoài tấm ván dầu trắng xám, xơ vân như gỗ mục. Khi dùng xẻng bộ binh chẻ tách ván ra để nấu cơm đun nước, bên trong gỗ vẫn đỏ au cháy rất đượm. Ngôi nhà ngói lớn trong phum nhà dài có bộ ván ngựa hai mảnh bằng loại gỗ mun đen dày rất đẹp. Chủ nhân cỗ ván đôi trường miên ngọa ngự bên trên, trong hình thù một bộ xương người. Tóc dài xếp lớp buộc dây ni lông, chắc đó là xương đàn bà còn trẻ. Chúng tôi dùng xẻng gạt, bỏ hết những gì còn lại hình hài của chủ nhân cũ xong, bốn thằng một tấm khiêng mang ra suối, nhờ nước xuôi dòng về cứ tiểu đoàn.
Trung đội thông tin đóng cọc ngâm hai tấm ván dưới suối gần tháng làm cầu tắm giặt. Anh Ky tiếc của, bảo khiêng lên làm ván nằm cho mát, lật mẹ nó mặt gỗ lại mà nằm, sợ đếch gì. Khi mang 2 tấm ván lên nhà, thằng Quan với Toàn cồ không chịu nằm. Thằng Quan lính miền Tây mới bổ sung, học hết lớp 12 kiến thức đầy mình nhưng nó có căn hợp hồn sao đó với bộ ván mới, mặc dù nó không bao giờ dám ngủ trên đó. Nó nằm chỗ khác nhưng đêm liên tục nghiến răng kèn kẹt. Thỉnh thoảng lại lảm nhảm hoặc hét lên khi nằm mơ. Sau rồi phải ôm chiếu về nhà trung đội chỗ anh Nhương ở.
Tôi với anh Ky nằm chung đôi ván chẳng làm sao hết. Mất ngủ không, mộng mị cũng không. Hoàn toàn không có gì khác thường. Có điều tấm ván này là cái phong vũ biểu dự báo thời tiết khá chính xác. Bình thường, thời tiết tốt không có vấn đề gì xảy ra. Hễ khi trên tấm ván thiêng ấy thấy một viền hình người nằm xuôi mờ mờ hiện ra, có thể đánh cá mười ăn một với chúng nó rằng ngày mai sẽ trời mưa sầm trời tối đất, kể cả đó đang là một ngày chớm mùa khô. Bấy giờ đang là mùa mưa nên ngày nào cô ấy cũng hiện. Nó hẳn có duyên giời với những thằng trẻ trai bất cần, bóng vía cứng cáp cùng cuộc đời xông pha vô tư lự.