Chuyện Lính Tây Nam

Lượt đọc: 286 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vượt đỉnh Aoral

❊ ❊ ❊

T

ÌNH HÌNH YÊN ẮNG TRỞ LẠI. Sau một tuần củng cố, sư đoàn chuẩn bị chiến dịch đánh thông lên thị trấn Leach theo thung lũng phía tây rặng núi Aoral. Trung đoàn 2 chúng tôi được lệnh bí mật vượt núi, chẹn ngang thung lũng như cái đăng chắn cá để các đơn vị bạn lùa địch vào đấy cất một mẻ lớn.

Aoral (Đậu Khấu, U răng, như lính hay gọi) là dãy núi cao nhất Campuchia, nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, có những đỉnh độ cao tuyệt đối đạt hơn 1500m. Điểm đầu cắt vào vượt núi được xác định đúng vị trí cái phum hoang Đại đội 1 mất chốt tuần trước, cách phum dừa cụt Tiểu đoàn 4 đang đứng chân 6km. Mệnh lệnh rõ ràng, quán triệt đến từng chiến sĩ: bí mật bất ngờ, tránh các đơn vị nhỏ lẻ của địch, mang đầy đủ lương thực súng đạn tác chiến trong 6 ngày, nhất là đồ đựng nước uống.

Chuẩn bị tư tưởng, hậu cần xong xuôi, trung đoàn lục tục lên đường. Bốn giờ sáng, nhận xong phần cơm vắt cho cả ngày dưới anh nuôi là hành quân ngay. Tiểu đoàn 4 đi đầu theo con đường nhỏ ngược về hướng Bắc. Cấm dùng thông tin vô tuyến, cấm bắn bắt liên lạc. Một bộ phận của đại đội trinh sát 21 trung đoàn và trinh sát Tiểu đoàn 4 thuộc địa hình đi trước bám địch. Tảng sáng có lệnh dừng lại. Trinh sát phát hiện khói bay lên trong phum. Đơn vị im lặng dạt vào rừng tránh địch, cắt lối khác áp vào triền núi.

Bắt đầu leo dốc khoảng 8 giờ sáng. Lúc đó dưới chân rừng thưa, nắng xiên hướng đông đã chói lắm. Tôi gặp anh Quảng tiểu đoàn trưởng cũ đi cùng ban tham mưu trung đoàn. Anh Quảng nháy mắt bảo thông tin chúng mày chuẩn bị leo núi “Khô Rang”. Hai, ba trăm mét độ cao khởi đầu buổi sáng còn ngon, nhưng càng lên cao càng khó đi. Rừng hỗn hợp nguyên sinh trên núi chằng chịt dây leo. Tầng cây cao khép tán, toả bóng thâm u che phủ. Đã hơn 9 giờ sáng mà đáy rừng vẫn nhờ nhờ tối. Những cây con bên dưới bị cớm nắng, thân mảnh ngoi lên thẳng đuột ken dày như thành. Tôi cũng biết phải giữ hơi đều, hít sâu và thở ra từ từ. Đến khoảng gần trưa, mớ kiến thức dưỡng sinh ấy trở thành vô dụng. Mũi, mồm và tai cùng thi nhau hoạt động hết công suất. Đi sau còn oải thế, mới biết tổ trinh sát đi đầu phạt cây mở đường lên gian khổ đến mức nào.

Cắm cúi leo. Khoảng tiếp xúc giữa ba lô và lưng áo đã ướt đẫm mồ hôi. Ruột tượng 5 cân gạo quàng quanh cổ cũng ướt nốt phần đáy. Quai máy, quai súng siết vào vai tê dại. Vẫn chưa có lệnh nghỉ. Đi! Đi cho kịp giờ hiệp đồng. Lính trung đoàn im lặng giữ hơi, khoanh tay trước bụng còng lưng vượt dốc. Tổ anh nuôi Đại đội 1 khiêng cái nồi nhôm quân dụng, băng băng vượt trước. Nhọ nồi quệt vào lá cây, từ lá lại quệt vào mặt những thằng đi sau lem nhem. Anh Thào xoa mặt nhọ, quát chúng nó xuống đi sau. Hai thằng lính như điếc, càng vọt khoẻ mỗi lúc một xa. Bất lực, tiểu đoàn phó lấy gậy chống phi theo nhưng trượt, đã thế lại còn mất đà ngã quay triền dốc. Lính tráng cười ồ quát thủ trưởng tháo đạn đứng dậy. Tình huống khôi hài cũng làm quên đi cái mệt được một chốc.

Quá trưa nghỉ ăn cơm. Tôi kiếm một chỗ phẳng ngồi phịch xuống, dựa vào ba lô vẫn quàng nguyên sau lưng hồng hộc thở, lát sau mới tháo ra. Lưng áo ướt đẫm mồ hôi giờ trở nên lạnh vì khí núi. Đỡ mệt giở cơm vắt ra ăn. Vèo một cái là nửa vắt cơm đi bay vì món mắm trâu. Thịt trâu ăn chán còn lại nước thịt, anh nuôi cho muối, bột gia vị thật mặn, đun nhỏ lửa cho đến khi cô lại sền sệt. Chờ nguội đổ vào đoạn ống DK.82 cắt ngắn, lấy ni lông bịt lại mang theo khi hành quân. Loại mắm trâu đó hao cơm vô đối.

Nghỉ một lát lại leo tiếp. Rừng ở độ cao lớn quang hơn nhưng độ dốc lớn hơn. Bắt đầu có mây mù dưới thung lũng bốc lên. Trời tự nhiên tối lại. Những hạt nước li ti dày đặc làm triền dốc trơn nhẫy. Khổ nhất là lính pháo DK.75 Đại đội 17 trung đoàn. Khẩu đội trưởng đi trước, dùng xẻng pháo đào khoét triền núi thành từng cái hốc cho bọn khiêng pháo phía sau có chỗ đặt chân. Hai người khiêng nòng, mỗi người một đoạn tầm vông xỏ miệng xỏ đuôi pháo. Hai đoạn tầm vông oằn vai dưới sức nặng nòng thép, pháo thủ trầy trượt bám sườn leo lên. Lính vác đạn buộc hai ống DK néo làm một, cúi đầu gằn gằn bước. Thỉnh thoảng người khiêng trượt chân, nòng pháo lăn lông lốc, mắc lại gốc cây nào đấy. Khẩu đội câm lặng quay xuống, nhẫn nại kéo lên không than một tiếng.

Đại đội 16 cối 120 ly còn nhục nhằn hơn nữa. Bốn người lặc lè khiêng hai cái đòn xỏ chữ thập buộc néo nâng bàn đế, như người ta khiêng một con rùa khổng lồ. Đường rộng đã khó, đường hẹp phải có một người phát cây dọn cho đòn khiêng khỏi vướng. Cái đòn chữ thập lúc mở ra, lúc khép vào kèn kẹt theo độ mở địa hình hướng đi. Gập ghềnh chiếc bàn đế trượt rê mặt núi ướt ủi tung cả đất. Những đoạn quá dốc, anh em tròng dây kéo nòng cối lẫn đế cối trượt trên dốc trơn, mồm miệng bạnh ra như hổ mang thổi lửa. Nhìn cảnh đó đừng ai bảo lính pháo oai hùng. Nhìn cảnh đại đội hỏa lực trung đoàn tôi khiêng pháo vượt núi Aoral hẳn lòng người chỉ muốn khóc. Sức lực và ý chí con người đạt đến giới hạn vô biên, nhưng chiều mưa núi Aoral hôm ấy chẳng có một tay thợ ảnh nào chụp được.

Sức tôi không bền. Để đại đội DK.75 của trung đoàn vượt qua là tôi đã bị tụt lại sau tiểu đoàn khá xa rồi. Hai người một máy, hai cuộn dây gần 500m, một khẩu súng, hai ba lô, hai ruột tượng 10 ký gạo. Anh Ky đi cùng tôi không giục không nhắc, lùi lũi đi đằng sau. Khi các đơn vị khác nghỉ, chúng tôi vẫn cứ cắm cúi bước để theo kịp tiểu đoàn. Trời sâm sẩm tối gần lên tới đỉnh. Một hơi gió tạt qua mát lạnh, gió sườn tây núi Aoral thổi từ vịnh Thái Lan, nghĩa là sắp đổ dốc xuống núi. Trời bắt đầu mưa lất phất. Thật lạ lùng! Mới bên kia cách mấy trăm mét khí hậu khô rang nóng kinh người. Vừa sang sườn bên này thời tiết quay ngược 180 độ. Lần đầu tiên tôi biết thế nào là mưa địa hình. Bây giờ đọc thêm mới biết hiện tượng địa lý ấy gọi tên là thế chứ lúc đấy đã biết gì. Chỉ biết là rất mệt, mệt đến há hốc mồm.

Tôi tránh cho anh Ky vượt qua, chui vào một bụi rậm vờ đi đái rồi tháo bao gạo đổ đi 1/3 ruột tượng. Trông kỹ ra thấy trong bụi ấy cũng trắng xoá gạo đổ của những thằng đi trước. Gạo nhẹ đi nhưng nỗi nhọc ngày một tăng lên. Đôi chân dường như không phải của tôi nữa mà như đi mượn. Trời dần tối đen không nhìn rõ, đành căng tai nghe tiếng vạch cây rào rào đằng trước chuệnh choạng lần theo. Thỉnh thoảng lại vấp phải chân những thằng đang ngủ ngồi thò ra giữa lối, ngã lăn vập mồm đau điếng. Phát cáu lên bảo: “Chúng mày muốn ngủ thì cứ chui vào bụi mà nằm, sao lại ngáng chân giữa đường”. Về sau mới biết có những thằng mệt quá, sợ ngủ ngồi bẵng quên nên thò duỗi chân ra đường, mong có ai đi sau vấp vào đánh thức mà lần theo. Lạc đơn vị trong rừng thẳm núi này chắc chắn chỉ làm mồi cho hổ.

Thằng Phụng người Huế nhỏ con, khoác cái máy 2W vừa leo vừa khóc. Nó bỗng phát khùng chửi: “Bọn tham mưu tác quái trung đoàn lừa chúng ông! Bảo đêm là tới mà sao vẫn đi mãi. Lạc mẹ nó đường rồi”. Chẳng may anh Phấn tham mưu trưởng trung đoàn đang bước ngay sau nó. Anh Phấn bảo: “Mày ngon đưa máy cho anh khoác, còn bản đồ la bàn đây, cho mày lên làm tham mưu trưởng liền, lính tráng gì cà chớn quá bây!”. Thằng Phụng câm tịt, thút thít cắm đầu bước tiếp.

Giờ thì chẳng còn phân biệt được đơn vị nào vào đơn vị nào nữa. Cứ ai khoẻ đi trước, yếu đi sau, yếu nữa thì đi sau rốt như bài ca con voi của bọn trẻ con. Giở nắm cơm vắt ra, nó đã nhoe nhoét phần bên ngoài. Tôi bẻ đôi, cạp cạp mấy miếng phần lõi rồi lẳng vào bụi. Cái bát sứ hoa men xanh bà già Miên cho ở Neak Luong cũng lẳng đi nốt. Nhẹ tí nào đỡ tí ấy. Phản xạ nhai nuốt vắt cơm với lý trí để nạp thêm năng lượng chứ tôi không hề thấy đói. Có chết cũng không thể là ma đói được. Không phải cảm giác mệt nữa, phải nói là cảm giác tuyệt vọng đang trào lên, dần dần chế ngự con người. Giá chết được ngay, chấm dứt nỗi khổ này ngay có khi cũng tốt. Cái đầu đờ đẫn trên đôi chân rời rã lúc nào cũng chực gục xuống, đã chập chờn nghĩ đến một viên đạn giải thoát xuyên đời.

Dần dần xung quanh chẳng còn ai. Khi chợt nhận ra điều ấy, nỗi khiếp sợ bỗng ùa tới làm tỉnh cả người. Hóa ra mình cũng là thằng ham sống. Tôi dừng lại ghìm nhịp thở, lấy lại bình tĩnh nghe ngóng. Chỉ có tiếng gió thổi trong lá. Xa phía dưới kia, có tiếng lá rung ào ào từng nhịp ngắn. Chỉ có người vịn vào cây vít lại rồi buông ra lá mới rung theo nhịp ấy. Tôi tháo ruột tượng gạo định lẳng vào rừng cho nhẹ để đuổi theo, nhưng chợt nghĩ lại. Giống như trong truyện cổ tích, tôi mở nút ruột tượng, thả gạo dần theo lối chạy mù để đánh dấu đường.

Tiếng động lá ngày càng gần. Không chạy nữa, tôi ngồi phệt lên bao tượng gạo trượt dốc đổ thẳng xuống chỗ có tiếng động. Hết đà trượt, tôi va phải một đám lốc nhốc. Có tiếng anh Quốc chửi gằn. May quá, khẩu đội DK.82 Đại đội 4 đây rồi. Đêm tối mịt mùng. Lính DK.82 rạch ống bảo quản tháo đạn cất ba lô, đốt ống nhựa soi dấu đường bất chấp lệnh cấm đốt lửa. Nhựa cháy xèo xèo, rỏ lụp bụp những giọt lửa xanh lét xuống giày bỏng rẫy. Mừng vì đã gặp lại đơn vị, chúng tôi bước dấn chân. Đi một lúc nữa, tôi về tới đội hình tiểu đoàn đang chuẩn bị nghỉ đêm. Chân núi chỉ còn một đoạn ngắn. Võng lính chăng ngang dọc hỗn loạn cản trở đường đi. Tôi cũng tìm vội hai cái cây mắc võng, leo lên ngủ ngay tắp lự. Khi đó đêm đã gần về sáng.

Không có khái niệm thời gian thiếp đi được bao lâu. Trên núi có tiếng ba phát AK nổ đĩnh đạc kiểu bắn bắt liên lạc. Tiếng nổ hồi âm qua các sườn núi tàn cây, vọng lại ào ào rồi nhoè dần. Chắc hẳn lính trung đoàn lạc rừng bắn tìm đơn vị. Tổ trinh sát được cử quay lại tìm người.

Phía thung lũng dưới núi, tiếng động cơ ô tô xe xích rộ lên vọng lại ầm ì. Nhìn rõ loáng thoáng những vệt đèn pha trong sương đục. Địch đã bắt đầu bỏ chạy. Ba phát súng vô kỷ luật đã làm lộ đội hình luồn sâu. DK.75 và một khẩu pháo 105 ly của địch bắt đầu bắn lên núi. Bắn kiểu mù, đạn rơi cách chúng tôi rất xa. Lính thu võng ào ào. Tiểu đoàn lệnh 2W lên máy, để lại toàn bộ ba lô cho bộ phận thu gom quân lạc đường trông, còn tất cả các đại đội lao xuống núi.

Lúc bắt đầu vận động, toàn thân đau điếng cứng đơ, tưởng chừng không cất mình lên nổi. Được một quãng thể trạng tôi ổn định dần dần. Trời mờ sáng. Lội qua một suối nước tù sâu hoắm nước lạnh căm căm, chúng tôi tràn lên một cái trảng rộng. Giữa trảng vạch ngang con đường đất rộng rãi đầy vết xe cơ giới. Bên kia trảng, một dãy nhà thấp lợp tranh nằm lẫn những chiếc xe vận tải, máy cẩu, máy ủi màu vàng choé. Nơi đó có một cây xoài độc lập rất lớn.

Bộ binh dàn hàng ngang tiến lên. Lính Đại đội 2 nổ súng thị uy hô xung phong. Cối và DK bắn theo hướng con đường chạy dọc thung lũng. Không có tiếng súng bắn trả từ phía địch bởi chúng đã chạy. Thu một khẩu pháo 105 ly, một khẩu DK.75 ly và một số đạn cối 82. Số xe máy công trình địch bỏ lại toàn đồ KOMATSU Nhật Bản, đã bị bắn thủng gần hết lốp. Riêng lố đạn cối 82 sản xuất tại Trung Quốc, trung đoàn ra lệnh gom huỷ ngay. Trận Oudong hồi trước, Trung đoàn 1 thu được đạn cối 82 của địch mang ra xài. Khi thả đạn nổ ngay trong nòng súng, hy sinh gần hết một khẩu đội.

Nắng lên được một lúc, đơn vị hội quân với Trung đoàn 1 theo đường lớn tiến vào thung lũng. Trung đoàn này cũng phải hành quân suốt đêm hôm qua. Chúng tôi nghỉ lại một ngày chờ công binh, vận tải sư đoàn lên thu hồi chiến lợi phẩm. Tôi nhớ hôm đó là chủ nhật. Nắng lên trong rừng quang đãng phủ vàng thảm cỏ non xanh gần suối. Khoảng rừng lạ sáng lên đẹp như tranh phong cảnh. Anh nuôi cho ăn cơm sớm. Tôi đi lấy cơm về trung đội bằng đôi chân đau cứng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.