B
ĂNG QUA NHỮNG CÁNH ĐỒNG CHÓ NGÁP, băng qua rừng thưa lá khộp hay cắt qua lòng suối cạn, luôn hằn hai vệt đôi bánh xe lăn. Cũng không biết khởi đầu từ đâu, kết thúc lúc nào, đó là những con đường bò vô định không tên.
Khi chạm mặt bức phù điêu nghìn tuổi đá sa thạch đền Angkor, tôi từng thoáng nghĩ những con đường bò đẫm máu tuổi xanh anh em chúng tôi, bắt đầu khởi đi từ chính những chiếc xe bò đôi tạc trên bức tường này. Có lẽ từ thời đế quốc Angkor đến nay, kết cấu hình dáng cỗ hóa thạch di động này vẫn thế. Cặp bánh xe luân hồi mải miết quay theo dấu bò đi, vạch trên đất đai chùa tháp những đường nối song song ngẫu nhiên, gắn kết hay chia lìa nhiều số phận con người. Đôi bò trắng cao lớn, u vai gồ lực lưỡng kéo cỗ xe đời không tuổi. Thập nhị nhân duyên lăn tròn, kéo tiểu đoàn viễn chinh ruổi dài theo dấu địch. Những con đường hắt hiu buồn tẻ, đôi vạch bên lành bên dữ, bên sinh bên tử. Lá dầu khô rụng, che giấu dưới bàn chân bước những hiểm họa khôn lường.
Một buổi trưa hành quân mất dấu. Đơn vị càn đi quanh quẩn trong những hẻm núi sườn tây rặng Aoral chưa bao giờ in dấu chân người. Tụi thông tin 2W ban tác chiến trung đoàn đi theo, đến phiên liên lạc phải trèo lên cây cao tít dựng anten mới bập bõm có sóng. Rừng già nguyên sinh phủ bóng, như cái chụp đèn thiên nhiên khổng lồ, tỏa một thứ ánh sáng xanh lợt ảm đạm. Đang cắt rừng tìm suối, chúng tôi bắt gặp một nhóm dân bảy, tám người, nằm ngồi quanh một cái xe bò gẫy trục.
Thấy động, hai người đàn ông trong nhóm chống hai con dao quắm cố gắng đứng dậy. Hình hài một bộ xương thần Chết, bọc dưới lớp da đen nhờ, lộ hằn lóng đốt như một tiêu bản thạch cao. Không thể quên những khuôn mặt nâu không có tuổi, không biểu cảm ở nơi tận cùng của thế giới này. Họ nhìn chúng tôi với sắc mắt đã lạc thần, họ đang sắp chết đói.
Anh Ky móc cóc ba lô chìa nắm cơm vắt ra. Từng ấy cặp mắt đờ đẫn bỗng sáng lên, nhìn theo sự chuyển động của vắt cơm. Thằng Phượng bọ y tá giằng lại, bảo: “Cho nó ăn cơm là chết ngay đấy”. Cán bộ dân vận trung đoàn khai thác, hỏi đến cả chục câu cũng không ai thèm trả lời, đành bảo Chí đen nấu vội nồi cháo loãng. Lửa nóng bếp cháo đánh thức, gọi dậy từ đâu đó một mùi gây rất lạ. Tụi trinh sát nhăn mũi hít hít, lấy mũi súng hẩy nắp túi mìn, lục lọi khám bồng. Trên cái xe bò, một thằng bé con đã chết trước khi được ăn cháo. Cạnh chỗ nó là một cái gùi, bên trong có mấy miếng thịt nâu xông khói. Mùi gây lạ lùng kia tỏa ra từ đây. Anh Ky bới sâu xuống đáy, nhấc lên một khẩu thịt sấy khô đét. Anh nghi ngờ rồi chợt rùng mình quăng xuống. Đó là một cái cẳng tay người. Mấy thằng lính bâu xung quanh im bặt. Không phải vì sợ, mà vì thấy ghê quá. Nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn cho họ ít gạo, và chỉ lối cho họ ra đường lớn.
Tiểu đoàn lại lần theo dấu địch, bao giờ cũng hàng dọc đi một bên đường. Tổ trinh sát đi đầu lại căng mắt lần tìm sợi dây xanh lét mỏng mảnh chăng ngang trái mìn vướng nổ. Thằng đi sau là tôi, lại cúi đầu mải miết nỗi nhớ nhà. Bánh xe luân hồi trên những con đường bò thế kỷ vẫn quay bên sinh bên tử. Những miếng thịt người sấy chẳng có ý nghĩa đạo đức gì với chúng tôi lúc đó. Một nền văn minh, đầu tiên muốn tồn tại hãy bắt đầu từ việc con người phải sống đã. Tôn giáo hay tín ngưỡng phải bắt đầu từ cuộc sống trần trụi, để rồi sau đó quay trở lại an ủi thế giới khổ đau này.
Các đường quốc lộ 5, quốc lộ 6, quốc lộ 7 cho đến các con lộ tử thần đối với chúng tôi như lộ 56, lộ 27, lộ 67… trên đất nước Campuchia xa xưa ngày trước cũng từng chỉ là những con đường xe bò đi. Người ta đi lâu mới thành đường như tiên sinh Lỗ Tấn dạy. Mỗi dặm đường trường Chùa Tháp ngang dọc nối kết các thành phố hoa lệ, các di tích văn minh hẳn vẫn nén chặt, giấu nhiều đau thương của những con người đi trước.