C
HÚNG TÔI BẮT XE LAM về nhà bác thằng Trung ở cư xá Lữ Gia quận 11. Hai thằng lính rừng về, chìm nghỉm trong không khí tấp nập nao nức chuẩn bị đón Tết Nguyên đán của một thành phố sầm uất nhất nhì Đông Nam Á.
Hai bác đón chúng tôi với sự điềm tĩnh phải phép của dân miền Bắc đặc trưng. Muốn hình dung chuẩn về phong cách dân Bắc thời cũ tốt nhất nên tiếp xúc, tìm hiểu dân Bắc di cư. Cái chất cẩn thận, ý tứ đến khách khí trong giao tiếp vẫn còn nguyên đai nguyên kiện, chưa bị lối cư xử bình dân suồng sã kiểu công nông binh của xã hội mới sau giải phóng năm 1954 lai tạp.
Nhà có hai cô con gái trạc tuổi, nhưng tôi vẫn gọi bằng chị theo thằng Trung. Các chị vừa đi họp Đoàn phường về, ríu rít hỏi chuyện. Tiếng Bắc pha tiếng Nam nghe hay đáo để. Lâu không nghe tiếng con gái Việt, tôi thích thú im lặng lắng nghe. Lối cư xử hoàn toàn tự nhiên tin cậy, không cứng nhắc bởi rào cản giới tính thật lạ mà cũng thật dễ thương. Sau khi biết lý do chúng tôi về Sài Gòn và dự định ra Bắc, các chị lôi bài Tây ra bói trông cũng hay hay. Quẻ bài phán chuyến đi lành ít dữ nhiều. Tốt nhất là chờ đợi đã! Cũng nhanh chóng như khi theo tôi về nước, thằng Trung đồng ý ở lại chơi Sài Gòn vài bữa để đi sau. Nó bỏ tôi đi một mình nên tôi hơi tức. Hai bà thầy này cho vác đạn lên núi 701 như bọn tù binh nữ thì biết nhau ngay, ngồi đấy mà phán bậy.
Vừa mới về được vài tiếng đồng hồ bạn đồng hành đã dở chứng. Quyết định của nó càng củng cố quyết tâm của tôi. Tôi sẽ lên đường càng sớm càng tốt. Buổi tối hôm đó ăn cơm xong, tôi lảng ra phố một mình để cho gia đình nó nói chuyện riêng với nhau. Ngồi uống một ly rau má năm hào, tôi vừa nhẩm tính số tiền còn lại trong túi. Hai thằng có tám mươi đồng tất cả. Nếu chia đôi tôi sẽ chỉ còn bốn mươi đồng, không đủ tiền mua vé tàu Thống Nhất. Lại còn tiền ăn uống trên tàu ba ngày ba đêm hành trình nữa. Tôi sẽ đi lậu vé.
Thằng Trung để hết tiền cho tôi, hẹn đi sau. Tôi ra chợ mua một đôi áo thun dân sự mất hai chục đồng, mặc luôn tránh kiểm soát quân sự. Còn lại sáu chục đồng. Sáu chục đồng hồi đó tương đương với 120 cái bánh mì không người lái hoặc 45 bát phở. Tối, tôi bắt xe lam ra ga Bình Triệu lên tàu. Chọn một chỗ trống gần toilet, tôi đặt cái ba lô lép lên giá rồi quan sát xung quanh. Dưới gầm ghế, các sọt trái cây và kiện hàng vải lấp đầy không có chỗ đặt chân. Bên cạnh tôi, chủ nhân của những kiện hàng xuyên Việt, mấy chị tuổi đã sồn sồn chuyện trò như pháo rang. Tàu rùng mình chuyển bánh tăng dần tốc độ. Đường ke, nhà chờ, phố xá lùi lại loang loáng. Đưa nhau lên tàu về quê em thấy vui hơn chuyến tàu ra trận thật. Chỉ còn bảy mươi hai tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ gặp lại Hà Nội, gặp lại mẹ và những người thân yêu. Rình rình…! Kịch kịch…! Tiếng bánh sắt reo giữa hai làn ray con tàu vạch nhịp, điểm phách đều đều khi vượt qua những đoạn nối. Lập lách, tà vẹt đồng vọng cùng tấu lên khúc hát hồi hương.
Có gì để nhớ về chuyến tàu này? Mấy lần trốn vào cái toilet hôi khủng khiếp để trốn nhân viên soát vé. Những suất ăn ngon lành do các chị các dì buôn chuyến bao thằng em lính trận khi nghe tôi kể hết sự tình. Phố biển Nha Trang im vắng ngủ quên trong ánh đèn vàng vọt. Trăng hạ tuần quạnh quẽ trên đỉnh Tháp Chàm trôi theo người khách độc hành lặng lẽ. Hanh heo ga xép Sông lòng Sông, ga Mường Mán mưa đêm.