M
ƯA ĐÃ GIẢM HẲN. Những tiếng sấm xa, đùng đục đâu đó hồi nửa đêm về sáng bảo rằng mùa mưa sắp dứt. Sáng hôm ấy, như một bất ngờ, con chim cu đáp xuống cành me cụt, nghiêng ngó sửa soạn rồi cất tiếng gù. Chim cu về nhiều là bắt đầu mùa hành quân tác chiến, mùa nghẹt khói xe quện nồng cát bụi trên đường thẳm.
Chẳng có thằng lính nào trên đất nước xứ người này không từng nheo mắt, đưa đường ngắm vào con chim cu vô tội. Có khi chim cu chết vì đạn nhọn lính ta nhiều hơn cả lính Pôn Pốt. Mùa mưa cũng có, nhưng mùa khô càng nhiều. Loài chim ăn hạt hiền lành về theo mùa lúa. Chim cu bên này lớn con hơn chim gáy ngoài Bắc và cũng ngờ nghệch hơn, cả tin hơn. Nó đậu trên nhánh hoa dừa, trên cành me trụi, trên tàu lá thốt nốt, trên hàng rào ngăn bò thật thấp. Cũng có khi nó đậu ngay đỉnh một bảo tháp hay tít cao trên sừng cong mái chùa. Chim cu không rúc bụi, cứ trần phơi cái ức nâu non pha hồng ra ở những chỗ dễ thấy nhất.
Gru…gru…gru…gru… Hành quân bộ tiến về Ph’nom Penh suốt hai ngày đêm dài, tiểu đoàn vừa đi vừa buồn ngủ rũ người trong tiếng cu gù trưa nắng. Khi xa, khi gần, nhịp ba nhịp năm đều đặn. Chẳng biết nó đậu ở đâu trên cánh đồng mênh mông hoang vu, chói lói gốc rạ ấy. Nhưng tiếng gáy ru trưa thì đậu mãi trong hồn đến tận bây giờ. Ở Oudong càng nhiều cu. Nó thích ở những vùng đồng có nhiều cây bụi hoặc ven rừng lẫn trảng. Súng pháo rền chiến dịch tháng hai năm 1979 như động đất, chim cu vẫn lẩn quất bám đồng không chịu bay đi. Nó quen sống với loài người canh nông trồng tỉa, không chịu vào rừng.
Trong rừng rậm chỉ có loại cu xanh, cu ghì ăn đa mà anh Chính tréc bắn được cả xâu. Anh Chính rút đầu đạn, dốc bớt thuốc để khi bắn chim khỏi nát thịt. Tiểu đoàn tôi đóng quân ở cứ Pursat này, trước cũng lắm chim cu đất nhưng nay thì đã vãn. Lính ta rình bắn nó nhiều quá, nó sợ, cứ thấy bóng áo xanh từ xa là nó bay biến ngay. Chớp mắt chỉ còn thấy vết chim mờ ngược sáng trên trời bổng, rớt lại tiếng gáy cụt nửa chừng. Thằng Quỳnh xe lôi tai quái, lục bồng lấy cái áo đen thu được trong kho vải Pốt năm ngoái, mặc vào đi săn cu. Trưa hôm đó nó hạ được bốn con. Tôi không bắn được con nào, cay cú chửi thằng này đi lừa cả chim.
Bây giờ thì nó đậu ngay đây, trên cành me trụi đầu lán thản nhiên gáy. Không đứa nào dám bắn. Trong lán tiểu đội vô tuyến điện, thằng em mới vào đang nhợt người li bì trong cơn sốt ác tính. Anh Ky dọa chúng mày bắn sát đây, nó giật mình vỡ mạch máu là chết ngắc. Lính nam mới vào trung đội tôi hai đứa thì thằng này dính sốt rét ngay. Tôi chỉ nhớ tên thằng Quan, không nhớ tên thằng em này bởi nó vào và nó ra nhanh quá. Hình như đạn nhọn, mìn, ký sinh trùng sốt rét nó chỉ thích nhai hồng cầu tươi lính mới. Tụi vận tải đến võng nó ra trạm xá trung đoàn. Thằng Quỳnh xe lôi xốc cái đòn cáng nhìn con chim trên cây tiếc rẻ, lại cúi nhìn xuống khuôn mặt xám ngoét của thằng em trong võng, bảo kiểu này hỏng rồi, hỏng rồi...
Con chim cu áo nâu, cổ đeo tràng hạt. Con chim ăn chay thầy tu, gieo xuống đồng hoang khói lửa tiếng gù đều đều như kinh hiền vĩnh cửu. Tiếng chim gù ở Oudong, tiếng chim gù ở Kompong Ch’năng, tiếng chim gù ở Pursat… nghe đâu có khác gì nhau? Chỉ có điều giữa khoảng những tiếng chim gù ấy, anh em chúng tôi nay đã vãn đi nhiều…