Phác thảo xưa và nay

Lượt đọc: 383 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MỘT CÂU CHUYỆN NHỎ ĐẦY BÀI HỌC—[Viết khoảng năm 1870.]

❊ ❊ ❊

Chiếc đồng hồ mới tinh, đẹp đẽ của tôi từng chạy suốt mười tám tháng trời mà chẳng hề nhanh hay chậm lấy một giây, cũng chưa từng hỏng hóc hay ngừng chạy bao giờ. Tôi đã lỡ tin rằng nó hoàn toàn không bao giờ sai sót trong việc xem giờ, và coi bộ máy cùng kết cấu của nó là trường tồn bất biến. Thế nhưng cuối cùng, vào một đêm nọ, tôi lại quên vặn dây cót để nó chạy hết đà. Tôi đau xót như thể nó là kẻ báo hiệu điềm gở hay sứ giả của tai họa vậy. Dù sao thì sau đó tôi cũng lấy lại tinh thần, ước lượng chỉnh đại lại giờ rồi tự xua đi những điềm báo cùng sự mê tín trong lòng. Hôm sau, tôi ghé vào tiệm kim hoàn lớn nhất vùng để nhờ chỉnh theo giờ chuẩn. Tên chủ tiệm giật lấy chiếc đồng hồ từ tay tôi rồi bắt đầu vặn vặn chỉnh chỉnh. Đoạn hắn bảo: “Đồng hồ chạy chậm mất bốn phút rồi—phải đẩy cần gạt nhanh chậm lên chút.” Tôi vội can—cố giải thích cho hắn hiểu rằng chiếc đồng hồ này chạy chính xác tuyệt đối. Nhưng vô ích; cái gã ngốc nghếch ấy chỉ biết đúng một điều là đồng hồ đang chậm bốn phút và cần gạt phải được đẩy lên; thế là, mặc cho tôi nhảy dựng lên vì đau đớn và van xin hắn hãy để yên cho chiếc đồng hồ, hắn vẫn thản nhiên và nhẫn tâm thực hiện cái hành vi tồi tệ đó. Đồng hồ của tôi bắt đầu chạy nhanh. Ngày qua ngày, nó chạy càng lúc càng tít. Chưa đầy một tuần, nó đã phát sốt phát lên cuồng loạn, mạch đập tăng vọt lên một trăm năm mươi nhịp trong bóng râm. Sau hai tháng, nó đã bỏ xa tất cả đồng hồ trong thành phố lại phía sau, và chạy vượt cả lịch niên giám hơn mười ba ngày. Người ta mới đang tháng Mười nhìn lá vàng rơi, còn nó thì đã lao phăm phăm sang tháng Mười Một để thưởng ngoạn tuyết trắng. Nó làm các khoản tiền nhà, hóa đơn đến hạn cứ giục dồn giục dập đến mức dồn tôi vào cảnh khuynh gia bại sản, không tài nào chịu nổi. Tôi đành mang nó đến thợ đồng hồ để chỉnh lại. Hắn hỏi tôi đã từng sửa nó bao giờ chưa. Tôi bảo chưa, nó chưa bao giờ cần sửa. Hắn nở một nụ cười hiểm hóc đầy khoái trá rồi hăm hở nạy chiếc đồng hồ ra, gắn một cái kính lúp nhỏ như chiếc hộp xí ngầu vào mắt để soi vào bộ máy bên trong. Hắn bảo ngoài việc chỉnh giờ thì máy còn cần lau dầu và lau chùi—một tuần nữa quay lại lấy. Sau khi được lau chùi, tra dầu và chỉnh giờ, chiếc đồng hồ của tôi lại chạy chậm đến mức tiếng tích tắc của nó nghe nề hà như tiếng chuông đám tang. Tôi bắt đầu bị trễ tàu,

tôi lỡ hết mọi cuộc hẹn, tôi bỏ cả bữa tối; chiếc đồng hồ kéo dài thời hạn gia hạn nợ ba ngày thành bốn ngày khiến tôi bị người ta đến đòi nợ tận mặt; tôi dần dần trôi ngược về ngày hôm qua, rồi ngày hôm kia, rồi tuần trước, và rồi tôi bàng hoàng nhận ra chỉ có mình tôi cô độc lầm lũi ở tận tuần kề trước nữa, trong khi thế giới loài người đã biến mất hút. Tôi cảm thấy dường như mình có một sự đồng cảm lén lút nào đó với xác mummy trong bảo tàng, và chỉ muốn đến trao đổi tin tức với ông bạn ấy. Tôi lại phải tìm đến thợ đồng hồ. Hắn tháo tung chiếc đồng hồ ra từng mảnh ngay trước mặt tôi, rồi bảo cái trục tang trống bị “phồng”. Hắn hứa sẽ nắn lại trong ba ngày. Sau đợt này, tính trung bình thì chiếc đồng hồ chạy khá chuẩn, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó. Suốt nửa ngày đầu, nó chạy như ma đuổi, phát ra đủ thứ tiếng gầm rừ, khò khè, ho hắng, hắt hơi rồi khịt mũi rầm rĩ đến mức tôi chẳng thể tập trung suy nghĩ nổi; và chừng nào nó còn giữ phong độ đó thì chẳng chiếc đồng hồ nào trong vùng có cửa so sánh. Thế nhưng nửa ngày còn lại, nó lại giở trò chạy chậm rì rì, lê lết cho đến khi tất cả những chiếc đồng hồ từng bị nó bỏ xa đuổi kịp. Vì vậy, sau mười bốn tiếng đồng hồ, nó lại thủng thỉnh cán đích vừa vặn và đúng giờ. Tính trung bình thì nó hoạt động rất công bằng, sòng phẳng, chẳng ai có thể trách nó làm thiếu hay vượt quá nghĩa vụ. Nhưng một giá trị trung bình chuẩn xác cũng chỉ là một thứ đức tính xoàng xĩnh ở một chiếc đồng hồ, thế là tôi lại mang nó đến cho một người thợ khác. Hắn bảo cái chốt nguyên xi đã bị gãy. Tôi bảo may mà không phải bệnh gì nghiêm trọng hơn. Thú thật thì tôi chẳng có tí khái niệm nào về cái chốt nguyên xi đó cả, nhưng tôi không muốn tỏ ra dốt nát trước mặt người lạ.

Hắn sửa xong cái chốt nguyên xi, nhưng chiếc đồng hồ bù được mặt này thì lại hỏng mặt khác. Nó chạy được một lúc rồi dừng một lúc, rồi lại chạy một lúc, hoàn toàn tùy nghi ngẫu hứng về thời gian nghỉ. Mà mỗi lần nó khởi động lại, nó giật nảy lên như một khẩu súng kíp. Tôi phải lót đệm trước ngực suốt mấy ngày liền, nhưng cuối cùng đành mang nó đến cho một gã thợ khác. Hắn tháo tung đống đổ nát ra, lật đi lật lại dưới kính lúp; rồi bảo hình như bộ phận cò nhạy có vấn đề. Hắn chỉnh lại và cho nó chạy lại từ đầu. Giờ thì nó chạy tốt, ngoại trừ việc cứ đến mười giờ kém mười phút là hai kim lại chập vào nhau như cái kéo, và từ đó trở đi chúng cùng nhau đi du lịch. Cho dù là người già nhất thế gian cũng chẳng thể nào luận ra giờ giấc với cái đồng hồ như thế, nên tôi lại phải đi sửa tiếp. Lần này, gã thợ bảo mặt kính bị cong và dây cót chính không được thẳng. Hắn còn phán thêm rằng một vài bộ phận cần phải "đóng lại đế". Hắn sửa sang lại tất cả những thứ đó, và rồi cỗ máy thời gian của tôi hoạt động không chê vào đâu được, ngoại trừ việc thỉnh thoảng, sau khi êm ả làm việc suốt tám tiếng đồng hồ, mọi thứ bên trong lại đột ngột bung ra và kêu vo ve như tổ ong, còn hai kim thì lập tức quay mòng mòng nhanh đến mức chẳng còn phân biệt được kim nào với kim nào nữa, nhìn qua chỉ thấy như một màng nhện mỏng dính trên mặt đồng hồ. Nó xả hết sạch hai mươi tư giờ tiếp theo chỉ trong vòng sáu hoặc bảy phút, rồi dừng lại với một tiếng "bang" khô khốc. Tôi mang một tâm trạng nặng trĩu đi tìm thêm một gã thợ đồng hồ nữa, ngồi nhìn hắn tháo tung nó ra. Lần này tôi chuẩn bị sẵn tinh thần để thẩm vấn hắn đến nơi đến chốn, vì chuyện này bắt đầu nghiêm trọng rồi. Ban đầu chiếc đồng hồ giá hai trăm đô la, mà hình như tôi đã tốn đến hai hay ba ngàn đô la tiền sửa rồi. Trong lúc ngồi chờ và quan sát, tôi chợt nhận ra gã thợ đồng hồ này là một người quen cũ—một gã thợ máy tàu thủy ngày trước, mà lại chẳng phải thợ giỏi giang gì cho cam. Hắn cũng soi xét tỉ mỉ từng bộ phận y hệt như những gã thợ trước, rồi đưa ra phán quyết với vẻ mặt đầy tự tin.

Hắn bảo:

“Nó tạo ra nhiều hơi quá—anh phải treo cái mỏ lết vào van an toàn thôi!”

Tôi đập cho hắn một phát chết tươi ngay tại chỗ, rồi bỏ tiền túi ra chôn cất hắn đàng hoàng.

Người chú William của tôi (ôi, nay đã qua đời!) ngày trước thường bảo rằng một con ngựa tốt vẫn là con ngựa tốt cho đến khi nó dở trò chạy sút dây lần đầu tiên, và một chiếc đồng hồ tốt vẫn là một chiếc đồng hồ tốt cho đến khi đám thợ sửa có cơ hội đụng tay vào. Chú cũng thường thắc mắc không biết số phận của tất cả những gã thợ thiếc, thợ súng, thợ đóng giày, thợ máy và thợ rèn thất nghiệp rồi sẽ đi về đâu; nhưng chẳng ai có thể cho chú câu trả lời.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.