
“Có một gã nọ đi chu du khắp vùng đó,” ông Nickerson kể, “với một gánh xiếc mang tính giáo dục tôn giáo—đại loại như một bức tranh toàn cảnh về Kinh Thánh—và lão thuê một gã đần độn, đầu gỗ để chơi dương cầm cho lão. Sau buổi biểu diễn đêm đầu tiên, tay chủ gánh xiếc bảo:
“‘Này anh bạn, xem chừng anh biết tuốt mọi giai điệu trên đời này và chơi trôi chảy ra trò. Nhưng này, đêm qua có khi nào anh để ý thấy mấy khúc nhạc anh chơi đôi khi hơi… khiếm nhã quá không? Ý tôi là, nó chẳng ăn nhập gì với không khí của bức tranh đang chiếu trên màn hình cả—nôm na là nó chẳng liên quan gì đến chủ đề, anh hiểu không? Giống như việc anh không đánh lá bài chủ hay không ra đúng nước bài vậy, anh nắm ý tôi chứ?’”
“‘Ồ, không,’ gã kia đáp; ‘hắn chẳng để ý, nhưng có lẽ thế thật; hắn cứ chơi đại theo kiểu tiện tay thôi.’”
“Thế là họ bàn bạc với nhau rằng kể từ đó, gã ngốc đơn giản kia phải để mắt đến bức tranh toàn cảnh, và ngay khi một bức họa ấn tượng nào đó được cuộn ra, hắn phải chọn ngay một bản nhạc phù hợp để giúp khán giả hiểu rõ chủ đề, đồng thời khơi dậy cảm xúc nơi họ tựa như một buổi tụ họp cầu nguyện sôi nổi vậy. Tay chủ gánh xiếc nói rằng cách đó sẽ thu phục được lòng người.”
“Đêm hôm đó khán giả đông nghịt—phần lớn là những người đứng tuổi và các cụ già sùng đạo, những người rất quan tâm đến các vấn đề Kinh Thánh, còn lại chủ yếu là đám choai choai nam thanh nữ tú—bạn biết đấy, đám này luôn khoái đi xem mấy cái loại hình toàn cảnh này, vì đó là cơ hội để chúng có thể tranh thủ ‘thưởng thức’ nhan sắc của nhau trong bóng tối.”
“Chà, gã chủ gánh bắt đầu ưỡn ngực chuẩn bị cho bài diễn thuyết của mình, còn gã nghệ sĩ đàn dương cầm thì lại gần chiếc đàn, lướt tay lên xuống vài lần xem mọi thứ ổn thỏa chưa, và đám người phía sau bức màn bắt đầu quay cuộn tranh toàn cảnh. Gã chủ gánh dồn trọng tâm lên chân phải, chống tay lên hông, liếc mắt qua vai nhìn tấm phông nền rồi cất tiếng:
“‘Thưa các quý bà, quý ông, bức tranh hiện ra trước mắt quý vị đây minh họa cho câu chuyện ngụ ngôn đẹp đẽ và cảm động về Đứa con hoang đàng. Hãy quan sát biểu cảm hạnh phúc đang bừng lên trên khuôn mặt của chàng trai trẻ tội nghiệp, đáng thương—người trông thật mệt mỏi và rã rời sau chặng đường dài; hãy chú ý cả niềm hoan lạc đang tỏa rạng từ gương mặt đầy hy vọng của người cha già, và niềm vui đang lấp lánh trong đôi mắt của nhóm thanh niên nam nữ đang phấn khích, dường như chực chờ bùng nổ thành dàn đồng ca đón mừng từ đôi môi họ. Bài học này, thưa quý vị, cũng nghiêm trang và đầy tính giáo dục như câu chuyện này vốn dĩ đã dịu dàng và đẹp đẽ vậy.’”
“Gã chơi đàn đã sẵn sàng, và khi lời dẫn thứ hai vừa dứt, hắn dộng tay vào phím đàn:
“Ồ, chúng ta sẽ cùng say túy lúy
Khi Johnny vinh quang trở về nhà!”
“Một vài người khúc khích cười, một vài người thì khẽ rên rỉ. Gã chủ gánh không nói nên lời; lão nhìn tay nghệ sĩ dương cầm trừng trừng, nhưng gã kia vẫn thản nhiên và thanh thản—hắn chẳng hề biết là mình vừa làm hỏng chuyện.”
“Bức tranh toàn cảnh vẫn tiếp tục di chuyển, và gã chủ gánh gom hết can đảm để bắt đầu lại từ đầu.
“‘Thưa các quý bà, quý ông, bức tranh tuyệt mỹ đang dần mở ra trước mắt quý vị đây phô bày một trong những sự kiện đáng chú ý nhất trong lịch sử Kinh Thánh—Đấng Cứu Thế và các môn đồ của Ngài trên Biển Galilee. Những suy ngẫm mà chủ đề này khơi gợi mới vĩ đại và đầy cảm hứng làm sao! Biết bao đức tin cao cả đã được khai mở cho chúng ta trong bài học từ thánh thư này! Đấng Cứu Thế quở trách những con sóng hung dữ và bước đi một cách bình an trên mặt đại dương sâu thẳm!’”
“Khắp khán phòng người ta xì xào, ‘Ồ, thật đáng yêu, thật đẹp đẽ biết bao!’, và tay nghệ sĩ dương cầm lại chơi bản nhạc của mình:
“Một cuộc đời trên sóng đại dương,
Và một mái nhà trên biển cả mênh mông!”
“Lần này, tiếng cười khúc khích chân thật vang lên không ít, kèm theo đó là những tiếng rên rỉ than phiền, và một vài vị chấp sự cao tuổi đã đứng dậy bỏ ra ngoài. Gã chủ gánh nghiến răng kèn kẹt, thầm rủa tay chơi dương cầm; nhưng gã kia cứ ngồi đó trơ như khúc gỗ, và dường như còn nghĩ rằng mình đang chơi rất ra trò.”
“Sau khi mọi thứ im ắng trở lại, gã chủ gánh quyết định sẽ thử liều thêm một lần nữa, mặc dù sự tự tin của lão bắt đầu lung lay dữ dội. Đám phụ tá lại bắt đầu quay bức tranh toàn cảnh, và lão nói:
“‘Thưa các quý bà, quý ông, bức họa tinh xảo này tái hiện cảnh Đấng Cứu Thế làm cho Lazarus sống lại từ cõi chết. Chủ đề này đã được người nghệ sĩ thể hiện với kỹ năng phi thường, và anh ta đã thổi vào đó sự dịu dàng và ngọt ngào cảm động đến mức tôi từng biết có những người vô cùng nhạy cảm đã bật khóc khi chiêm ngưỡng nó. Hãy quan sát vẻ nửa bối rối, nửa dò hỏi trên khuôn mặt của Lazarus khi vừa tỉnh giấc. Hãy quan sát cả tư thế và biểu cảm của Đấng Cứu Thế, Ngài đang nhẹ nhàng nắm lấy tay áo liệm của anh ta bằng một tay, trong khi tay kia chỉ về phía thành phố xa xăm.’”
“Chưa kịp để ai đưa ra nhận xét gì thì tên ngốc hồn nhiên nọ bên chiếc dương cầm đã dộng đàn:
“Hãy trỗi dậy nào, William Ri-i-ley,
Và đi cùng với ta!”
“Ối chà! Tất cả những gã già nua sùng đạo đều bực bội đứng dậy bỏ về, và những người còn lại thì cười như điên dại đến mức cửa sổ cũng phải rung lên.”
“Gã chủ gánh chạy xuống túm cổ tay nghệ sĩ dương cầm, lắc mạnh rồi quát:
“‘Thế là xong đời anh rồi đấy, cái lão dở hơi cám hấp ạ. Cút ra chỗ người gác cửa mà lấy tiền công, rồi biến ngay cho khuất mắt tao—xéo khỏi đây ngay! Thưa các quý bà, quý ông, những tình huống bất khả kháng buộc tôi phải kết thúc buổi diễn sớm hơn dự kiến.’”