Phác thảo xưa và nay

Lượt đọc: 383 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KỂ LẠI NGUYÊN VĂN NHƯ LỜI TÔI ĐÃ NGHE—[Viết khoảng năm 1876]

❊ ❊ ❊

Đó là một buổi chiều hè, trời đã chập choạng tối. Chúng tôi ngồi trên hiên nhà trang trại, nơi đỉnh đồi, còn “Dì Rachel” thì ngồi cung kính ở bậc thềm thấp hơn—bởi dì là người làm, lại là người da màu. Dì có khung người và vóc dáng vạm vỡ; dù đã sáu mươi tuổi, đôi mắt dì vẫn tinh anh và sức lực chẳng hề suy giảm. Dì là một người vui vẻ, đôn hậu, tiếng cười đối với dì dễ dàng như tiếng hót của loài chim vậy. Và lúc đó, dì lại đang bị "công kích", như mọi khi ngày đã tàn. Ý tôi là, người ta đang trêu chọc dì không thương tiếc, và dì thì đang rất khoái chí. Dì cứ phá lên cười từng tràng dài, rồi lại ngồi gục mặt vào đôi bàn tay, run lên vì khoái lạc đến mức chẳng còn đủ hơi sức mà diễn tả. Đúng vào khoảnh khắc ấy, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi, và tôi nói:

“Dì Rachel, sao dì sống đến sáu mươi tuổi rồi mà chưa bao giờ gặp phải chuyện buồn phiền nào vậy?”

Dì ngừng rung lên. Dì lặng đi, một thoáng im lặng trôi qua. Dì quay mặt qua vai nhìn tôi, giọng nói không chút gợn một nụ cười:

“Cậu C——, cậu nói thật đấy chứ?”

Câu hỏi làm tôi kinh ngạc vô cùng; nó cũng khiến thái độ và lời lẽ của tôi trở nên chừng mực hơn. Tôi đáp:

“À, tôi tưởng—ý tôi là—tại sao, dì chắc là chưa từng gặp chuyện buồn nào. Tôi chưa bao giờ nghe dì thở dài, và cũng chưa bao giờ thấy ánh mắt dì mà lại không có tiếng cười trong đó.”

Giờ thì dì quay hẳn người lại, gương mặt đầy vẻ nghiêm nghị.

“Tôi mà chưa từng gặp chuyện buồn ư? Cậu C——, để tôi kể cho cậu nghe, rồi cậu tự đánh giá xem. Tôi sinh ra trong kiếp nô lệ; tôi hiểu mọi thứ về nô lệ, vì chính bản thân tôi cũng là một người trong số đó. Thưa cậu, ông chồng già của tôi—chồng tôi ấy—ông ấy yêu thương và tử tế với tôi, tử tế y hệt như cậu đối với vợ mình vậy. Và chúng tôi có con—bảy đứa con—và chúng tôi yêu chúng y hệt như cậu yêu con mình. Chúng nó da đen, nhưng Chúa chẳng thể tạo ra những đứa trẻ da đen đến mức người mẹ không yêu thương chúng, và chẳng bao giờ muốn từ bỏ chúng đâu, không, dù là vì bất cứ thứ gì trên cõi đời này.”

“Thưa cậu, tôi lớn lên ở vùng Virginia cũ, nhưng mẹ tôi lại lớn lên ở Maryland; ôi chao, tính bà thật khủng khiếp mỗi khi nổi giận! Lạy Chúa! Bà có thể làm cho mọi thứ chao đảo! Mỗi khi bà lên cơn thịnh nộ, luôn có một câu bà thường nói. Bà sẽ đứng thẳng người dậy, chống hai tay lên hông rồi nói: ‘Tôi muốn cho các người biết rằng tôi không sinh ra trong đầm lầy để bị lũ rác rưởi lừa gạt! Tôi là một trong số những chú Gà của Gà Mái Xanh (Blue Hen’s Chickens) đấy nhé!’ Vì cậu thấy đấy, đó là cách mà những người sinh ra ở Maryland tự gọi mình, và họ rất tự hào về điều đó. Vâng, đó là câu cửa miệng của bà. Tôi không bao giờ quên được, vì bà nói câu đó nhiều quá, và vì có một ngày, khi thằng bé Henry của tôi bị rách cổ tay đau đớn, gần như toác cả đầu ngay trên trán, mà lũ nô lệ cứ lề mề không chịu đến chăm sóc cho nó. Khi chúng cãi lại bà, bà liền đứng lên và nói: ‘Nhìn đây này!’ bà bảo, ‘Tôi muốn bọn nô lệ các người hiểu rằng tôi không sinh ra trong đầm lầy để bị lũ rác rưởi lừa gạt! Tôi là một trong số những chú Gà của Gà Mái Xanh đấy nhé!’ rồi bà dọn sạch cái nhà bếp đó và tự tay băng bó cho đứa nhỏ. Thế nên, mỗi khi cáu tiết, tôi cũng nói y hệt câu đó.”

“Rồi một ngày nọ, bà chủ cũ bảo bà vỡ nợ, phải bán tất cả nô lệ trong trang trại. Và khi nghe tin họ sẽ bán tất cả chúng tôi ở phiên đấu giá tại Richmond, ôi, lạy Chúa nhân từ! Tôi hiểu điều đó có nghĩa là gì!”

Dì Rachel dần đứng dậy khi câu chuyện bắt đầu nóng lên, và giờ đây dì sừng sững trên đầu chúng tôi, in bóng đen giữa những vì sao.

“Họ đeo xiềng xích vào chúng tôi rồi bắt đứng lên một cái bục cao như cái hiên nhà này—cao hai mươi bộ—và bao nhiêu người đứng vây quanh, đông nghịt. Họ tiến lại gần, nhìn ngó chúng tôi từ đầu đến chân, bóp cánh tay chúng tôi, bắt chúng tôi đứng dậy rồi đi lại, rồi bảo: ‘Đứa này già quá,’ hoặc ‘Đứa này què,’ hoặc ‘Đứa này chẳng được tích sự gì.’ Rồi họ bán ông chồng già của tôi, bắt ông ấy đi, rồi họ bắt đầu bán các con tôi và đưa chúng đi, còn tôi thì bắt đầu khóc; gã đó bảo, ‘Câm cái mồm rên rỉ khốn kiếp của mày lại,’ rồi tát vào miệng tôi bằng bàn tay hắn. Và khi đứa cuối cùng đã đi hết chỉ còn lại thằng bé Henry, tôi ôm ghì nó chặt vào ngực thế này, rồi tôi đứng dậy và nói, ‘Các người không được mang nó đi,’ tôi nói; ‘Tôi sẽ giết kẻ nào chạm vào nó!’ tôi nói. Nhưng thằng bé Henry thì thầm bảo ‘Con sẽ bỏ trốn, rồi con sẽ làm lụng để chuộc tự do cho mẹ.’ Ôi, đứa trẻ đáng thương, nó lúc nào cũng ngoan ngoãn! Nhưng họ tóm được nó—họ tóm được nó, những gã đó; nhưng tôi xông vào xé gần như nát hết quần áo bọn chúng và lấy xiềng xích của mình đập vào đầu bọn chúng; bọn chúng cũng đánh trả tôi, nhưng tôi chẳng màng.”

“Thế là ông chồng già của tôi đã đi, và tất cả các con tôi, tất cả bảy đứa con—và sáu đứa trong số đó tôi vẫn chưa nhìn thấy mặt lại cho đến tận ngày nay, chuyện đó đã xảy ra từ hai mươi hai năm trước, vào dịp Lễ Phục sinh cuối cùng. Gã mua tôi thuộc về Newbern, và hắn mang tôi đến đó. Vâng, năm tháng dần trôi rồi chiến tranh ập đến. Ông chủ của tôi là một đại tá phe Liên minh, còn tôi là người nấu bếp cho gia đình ông ấy. Vì thế, khi quân Liên bang chiếm được thị trấn đó, họ đều bỏ chạy hết và để mặc tôi lại một mình với những người nô lệ khác trong ngôi nhà to lớn kinh khủng đó. Rồi các sĩ quan cao cấp của quân Liên bang dọn đến đó, và họ hỏi liệu tôi có chịu nấu ăn cho họ không. ‘Lạy Chúa phù hộ các ông,’ tôi bảo, ‘đó chính là việc của tôi mà.’”

“Đấy không phải là những sĩ quan tép riu đâu, cậu nhớ nhé, họ là những người lớn nhất đấy; và cách họ bắt lũ lính phải răm rắp nghe lời! Vị Tướng bảo tôi phải làm chủ cái nhà bếp đó; và ông nói, ‘Nếu có ai đến quấy rầy dì, dì cứ bắt họ phải đi vào khuôn phép; đừng sợ,’ ông nói; ‘Dì đang ở giữa những người bạn rồi.’”

“Vâng, tôi tự nghĩ trong bụng, nếu thằng bé Henry của tôi có cơ hội bỏ trốn, hẳn nó sẽ tìm đường ra phương Bắc. Thế nên một ngày nọ, tôi đi vào nơi các vị sĩ quan lớn đang ngồi ở phòng khách, tôi cúi chào thế này, rồi tôi đứng lên kể cho họ nghe về thằng Henry của tôi, họ lắng nghe nỗi khổ của tôi hệt như thể tôi là người da trắng vậy; rồi tôi nói, ‘Lý do tôi đến đây là vì nếu nó trốn thoát được và đi lên phương Bắc, nơi các ngài đến, có thể các ngài đã từng thấy nó, và có thể cho tôi biết để tôi tìm lại nó; nó rất nhỏ, và nó có một vết sẹo trên cổ tay trái và trên trán.’ Thế là họ nhìn đầy vẻ thương cảm, và vị Tướng nói, ‘Dì mất nó bao lâu rồi?’ và tôi nói, ‘Mười ba năm.’ Rồi vị Tướng nói, ‘Bây giờ nó đâu còn nhỏ nữa—nó là một người đàn ông rồi!’”

“Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều đó trước đây! Trong tâm trí tôi, nó vẫn chỉ là thằng bé con ngày nào. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện nó sẽ lớn lên và trở thành một người đàn ông vạm vỡ. Nhưng lúc đó tôi mới hiểu ra. Chẳng có vị khách nào từng chạm trán nó, nên họ chẳng thể giúp gì cho tôi. Nhưng suốt thời gian đó, dù tôi không hề hay biết, thằng Henry của tôi đã chạy trốn ra phương Bắc, bao nhiêu năm rồi, nó làm thợ cắt tóc, và tự kiếm sống. Rồi sau đó, khi chiến tranh nổ ra, nó đứng lên và nói: ‘Con thôi nghề cắt tóc,’ nó bảo, ‘Con phải đi tìm mẹ già của con, trừ khi bà ấy đã chết.’ Thế là nó bán hết đồ nghề rồi đi đến nơi họ đang tuyển quân, và xin làm người hầu cho ông đại tá; rồi nó đi khắp mọi chiến trường, săn lùng người mẹ già của nó; vâng, thật đấy, nó cứ xin làm việc cho vị sĩ quan này rồi đến vị sĩ quan khác, cho đến khi nó đã lục tung cả miền Nam; nhưng cậu thấy đấy, tôi chẳng biết gì về chuyện này. Làm sao tôi có thể biết được chứ?”

“Vâng, một đêm nọ chúng tôi có một buổi khiêu vũ lớn của binh lính; đám lính ở Newbern luôn tổ chức những buổi khiêu vũ và tiệc tùng. Chúng thường tổ chức ngay trong nhà bếp của tôi, rất nhiều lần, vì nó rất rộng. Cậu nhớ nhé, tôi không ưa gì những trò đó; bởi lẽ vị trí của tôi là ở cùng các sĩ quan, và tôi thấy khó chịu khi bọn lính tráng tầm thường cứ nhảy nhót trong bếp của tôi như thế. Nhưng tôi luôn đứng quanh đó và giữ mọi thứ vào nề nếp; và đôi khi chúng làm tôi nổi cáu, và khi đó tôi sẽ bắt chúng phải dọn dẹp cái nhà bếp đó, NHÌN ĐÂY MÀ XEM tôi nói đấy!”

“Vâng, một đêm nọ—đó là đêm thứ Sáu—một trung đội từ một trung đoàn người da đen đang canh gác tại ngôi nhà đi tới—ngôi nhà đó là sở chỉ huy mà, cậu biết đấy—và lúc đó tôi đang sôi máu! Tôi thực sự bùng nổ! Tôi lồng lộn quanh đó, lồng lộn quanh đó; tôi chỉ đang ngứa mắt chờ xem chúng làm cái trò gì đó để tôi ra tay thôi. Và chúng cứ nhảy waltz và khiêu vũ! chao ôi chúng đang có một khoảng thời gian tuyệt vời! còn tôi thì cứ lồng lộn lên và lồng lộn lên! Chẳng bao lâu sau, có một gã thanh niên da đen trông bảnh bao cứ lướt xuống phòng với một cô ả da vàng eo thon; và chúng cứ xoay vòng, xoay vòng, xoay vòng, đủ để làm một người say sẩm mặt mày khi nhìn chúng; và khi chúng đứng đối diện tôi, chúng bắt đầu kiểu như nhún nhảy vòng quanh, chân trước chân sau, rồi mỉm cười với cái khăn xếp đỏ chót của tôi, và chế nhạo, thế là tôi đứng dậy và nói ‘Đi chỗ khác chơi mau!—đồ rác rưởi!’”

Gương mặt gã thanh niên hơi biến sắc, bất thình lình, trong khoảng một giây, nhưng rồi gã lại mỉm cười, y hệt như lúc trước. Vâng, vào khoảng lúc này, có vài gã da đen chơi nhạc thuộc ban nhạc đi vào, và chúng không bao giờ có thể đi đứng mà không tỏ vẻ ta đây. Và ngay cái vẻ ta đây đầu tiên chúng thể hiện đêm đó, tôi đã xông vào chúng! Chúng cười, và điều đó càng làm tôi điên tiết hơn. Những gã da đen còn lại bắt đầu cười theo, và rồi, lạy hồn, tôi đã nóng giận cực độ! Đôi mắt tôi như đang bốc lửa! Tôi chỉ đứng thẳng người lên thế này—giống hệt tôi bây giờ, gần như chạm tới trần nhà—và tôi chống hai nắm tay vào hông, rồi nói, ‘Nhìn đây này!’ tôi nói, ‘Tôi muốn bọn nô lệ các người hiểu rằng tôi không sinh ra trong đầm lầy để bị lũ rác rưởi lừa gạt! Tôi là một trong số những chú Gà của Gà Mái Xanh đấy nhé!’—rồi tôi thấy gã thanh niên đó đứng sững sờ và cứng đờ, nhìn lên trần nhà như thể gã quên mất điều gì đó, và không thể nhớ ra được nữa. Vâng, tôi cứ thế tiến thẳng về phía lũ da đen đó—thế này đây, trông như một vị tướng—và chúng cứ dạt ra trước mặt tôi và chạy ra ngoài cửa. Và khi gã thanh niên đó đi ra, tôi nghe gã nói với một gã da đen khác, ‘Jim,’ gã bảo, ‘anh cứ đi đi và bảo với đại úy rằng sáng mai tầm tám giờ tôi sẽ có mặt; tôi có điều gì đó trong đầu,’ gã bảo; ‘Đêm nay tôi không ngủ nữa đâu. Anh cứ đi đi,’ gã nói, ‘và để tôi lại một mình.’”

“Đó là vào khoảng một giờ sáng. Vâng, khoảng bảy giờ, tôi đã dậy và có mặt, chuẩn bị bữa sáng cho các sĩ quan. Tôi đang cúi người xuống bên cạnh lò bếp—thế này đây, giống như bàn chân cậu là cái lò vậy—và tôi đã mở cửa lò bằng tay phải—thế này đây, đẩy nó ra, hệt như tôi đẩy bàn chân cậu—và tôi vừa cầm cái khay bánh bích quy nóng hổi trên tay và chuẩn bị đứng dậy, thì tôi thấy một khuôn mặt đen xuất hiện bên dưới khuôn mặt tôi, và đôi mắt đang nhìn ngược lên đôi mắt tôi, hệt như tôi đang nhìn ngược lên mặt cậu bây giờ vậy; và tôi cứ đứng sững ngay tại đó, và không hề nhúc nhích! chỉ nhìn và nhìn thế thôi; và cái khay bắt đầu run rẩy, và bất thình lình tôi nhận ra! Cái khay rơi xuống sàn và tôi tóm lấy bàn tay trái của thằng bé và vén tay áo nó lên—thế này đây, như tôi đang làm với cậu bây giờ—rồi tôi chạm vào trán nó và vuốt tóc nó ra phía sau thế này, và ‘Con trai!’ tôi nói, ‘Nếu con không phải là thằng Henry của mẹ, thì cái vết sẹo trên cổ tay con và cái sẹo trên trán con là gì thế kia? Lạy Chúa trên cao, cuối cùng ta đã tìm lại được con của ta rồi!’”

“Ồ không, cậu C——, tôi chẳng gặp phải chuyện buồn nào cả. Và cũng chẳng có niềm vui nào nữa!”

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.