
Để cho thấy việc nhồi nhét một bài học đạo đức hay một chân lý vào đầu công chúng thiếu cảnh giác thông qua một bài trào phúng mà không hoàn toàn trượt mục tiêu một cách ngớ ngẩn khó khăn đến thế nào, tôi xin kể ra đây hai trải nghiệm của chính mình về chuyện này. Vào mùa thu năm 1862, tại Nevada và California, người dân bắt đầu phát cuồng vì những hóa thạch kỳ lạ và các kỳ quan tự nhiên khác. Người ta khó mà cầm một tờ báo lên mà không thấy trong đó một hai phát kiến được tán dương kiểu này. Cơn cuồng loạn ấy đang dần trở nên lố bịch. Khi đó tôi là một biên tập viên địa phương mới toanh tại Virginia City, và tôi cảm thấy mình có nghĩa vụ phải tiêu diệt cái tai họa đang lớn dần này; chắc ai trong chúng ta cũng có lúc nảy sinh tâm trạng nhân từ, bao dung kiểu cha chú như vậy. Tôi quyết định dập tắt cơn cuồng hóa thạch bằng một bài châm biếm tinh tế, thực sự rất tinh tế. Nhưng có lẽ nó lại quá tinh tế đến nỗi chẳng ai nhận ra yếu tố châm biếm trong đó cả. Tôi lên kế hoạch bằng cách bịa ra việc tìm thấy một người đàn ông hóa đá vô cùng đặc biệt.
Tôi từng có một bất hòa tạm thời với ngài ——, viên giám định y khoa kiêm thẩm phán hòa giải mới của vùng Humboldt, nên tôi nghĩ tiện thể cũng nên "chỉnh" ông ta một chút cho ông ta ra trò lố bịch, vừa giải khuây lại vừa công việc. Thế là tôi viết một bài báo với những chi tiết kiên nhẫn và đầy sức thuyết phục về việc tìm thấy một người hóa đá tại Gravelly Ford (cách nơi ngài —— sống đúng một trăm hai mươi dặm, băng qua một con đường mòn cheo leo trên núi); kể rằng tất cả các nhà thông thái trong vùng lân cận đã đến kiểm tra nó (dù ai cũng biết tỏng là trong vòng năm mươi dặm quanh đó chẳng có lấy một sinh vật sống nào, ngoại trừ vài người da đỏ đang chết đói, vài con châu chấu què và bốn năm con kền kền đã cạn thịt và quá yếu để bay đi); rằng những nhà thông thái đó đều tuyên bố người hóa đá này đã ở trong trạng thái hóa đá hoàn toàn được hơn mười thế hệ; và rồi, với vẻ nghiêm túc mà lẽ ra tôi phải thấy xấu hổ khi giả vờ, tôi viết rằng ngay khi ngài —— nghe tin, ông đã triệu tập một bồi thẩm đoàn, leo lên lưng con lừa và lên đường, với lòng tôn kính cao cả dành cho nhiệm vụ công vụ, thực hiện chuyến hành trình kinh hoàng kéo dài năm ngày qua những vùng đất kiềm, bụi rậm, đầy hiểm nguy cho thân thể và cơn đói cận kề, chỉ để tiến hành khám nghiệm tử thi một người đã chết và biến thành đá vĩnh cửu từ hơn ba trăm năm trước!

Rồi sau đó, khi đã “vào guồng”, tôi tiếp tục với vẻ nghiêm trọng không hề nao núng như vậy để viết rằng bồi thẩm đoàn đã đưa ra phán quyết rằng người quá cố chết vì phơi nhiễm lâu ngày. Điều này chỉ càng thúc đẩy trí tưởng tượng của tôi bay xa hơn, và tôi viết rằng bồi thẩm đoàn, với lòng nhân từ đặc trưng của những người khai hoang, đã đào một ngôi mộ và chuẩn bị an táng người hóa đá theo nghi thức Cơ đốc giáo thì phát hiện ra rằng, trong suốt bao nhiêu năm qua, một lớp trầm tích đá vôi đã rỉ xuống gương mặt của tảng đá mà ông ta đang tựa lưng vào; lớp trầm tích này chảy xuống dưới chân và gắn chặt ông ta vào “nền đá gốc”; rằng bồi thẩm đoàn (toàn là những tay thợ mỏ bạc) đã bàn bạc về khó khăn này một lúc, rồi lôi thuốc nổ và dây cháy chậm ra, định khoan một lỗ bên dưới để đánh mìn ông ta ra khỏi vị trí đó, thì ngài ——, “với sự tinh tế đặc trưng của mình, đã ngăn họ lại, và nhận xét rằng làm như vậy chẳng khác nào phạm thượng.”
Từ đầu đến cuối, mẩu tin “Người Hóa Đá” là một chuỗi những chuyện vô lý đùng đoàng, dù chúng được kể với một sự giả vờ chân thực đến mức ngay cả tôi đôi khi cũng bị lừa, và suýt nữa đã tin vào trò bịp bợm của chính mình. Nhưng thực lòng tôi không hề có ý định lừa dối ai cả, cũng không mong đợi sẽ làm được. Tôi đã trông cậy vào tư thế ngồi của người hóa đá để ám chỉ cho công chúng biết rằng đó chỉ là trò lừa bịp. Thế nhưng tôi lại cố tình trộn lẫn chuyện đó với những thứ khác, hy vọng làm cho nó trở nên khó hiểu—và tôi đã làm được thật. Tôi mô tả vị trí của một bàn chân, rồi lại bảo ngón tay cái bên phải của ông ta đặt cạnh mũi; rồi nói về bàn chân kia, lát sau lại quay lại bảo các ngón tay bàn tay phải đang xòe ra; rồi lại nói về phần sau gáy một chút, rồi lại quay lại bảo ngón tay cái bên trái móc vào ngón út bên phải; rồi lại lan man sang chuyện khác, rồi chốc chốc lại quay lại bảo các ngón tay bàn tay trái cũng xòe ra như bên phải. Nhưng tôi lại quá thông minh. Tôi trộn lẫn mọi thứ quá đà; thế là toàn bộ mô tả về tư thế, vốn là chìa khóa để giải mã trò lố của bài báo, đã hoàn toàn mất tác dụng, bởi chẳng có ai ngoài tôi nhận ra và hiểu được cái vị trí kỳ quặc đầy ẩn ý của đôi tay người hóa đá đó.
Là một bài trào phúng về cơn cuồng hóa thạch, hay bất cứ thứ gì khác, bài “Người Hóa Đá” của tôi là một thất bại đáng nản lòng; vì ai cũng đón nhận nó với niềm tin ngây thơ, và tôi đã sững sờ khi thấy cái sinh vật do chính tay mình tạo ra để hạ bệ trò kinh doanh kỳ quan và chế giễu nó, lại bình thản được tôn lên vị trí cao nhất trong danh sách các kỳ quan đích thực mà vùng Nevada của chúng tôi đã sản sinh ra. Tôi thất vọng đến mức ban đầu thấy tức giận, chẳng muốn nghĩ đến nó nữa; nhưng dần dần, khi các tờ báo trao đổi bắt đầu gửi về với bài Người Hóa Đá được sao chép và tán dương một cách ngây thơ, tôi bắt đầu cảm thấy một sự hài lòng thầm kín đầy dễ chịu; và khi phạm vi du ngoạn của "ngài" người hóa đá rộng ra, và qua các tờ báo trao đổi, tôi thấy ông ta kiên trì và không ngừng nghỉ thâm nhập lãnh thổ này đến lãnh thổ khác, bang này đến bang khác, xứ này đến xứ khác, cho đến khi càn quét khắp địa cầu và đạt đến đỉnh cao của sự chính danh cao quý và không thể lay chuyển trên tạp chí London Lancet uy tín, thì cốc nước của tôi đã đầy, và tôi tự nhủ rằng mình thật vui vì đã làm việc đó. Tôi nghĩ, theo như tôi nhớ thì trong khoảng mười một tháng, túi thư hàng ngày của ngài —— vẫn tiếp tục đầy ắp bởi hàng chục tờ báo đến từ khắp các phương trời có đăng tin Người Hóa Đá, được khoanh tròn bằng một đường mực đậm. Tôi gửi những tờ báo đó cho ông ta. Tôi làm vậy là vì thù dai, chứ không phải vì vui.
Ông ta thường hất chúng ra sân sau và chửi thề. Và ngày nào trong suốt những tháng đó, các thợ mỏ, những cử tri của ông ta (vì thợ mỏ không bao giờ ngừng trêu chọc người khác một khi đã bắt đầu), cũng ghé qua hỏi ông ta xem có biết chỗ nào lấy được tờ báo có bài Người Hóa Đá không. Ông ta có thể cung cấp đủ cho cả một lục địa ấy chứ. Ngày đó tôi ghét ——, và những việc này khiến tôi bình tâm và cảm thấy thỏa mãn. Tôi khó lòng tìm được niềm an ủi thực sự nào từ ông ta mà không cần phải giết quách ông ta đi.
