“Ông khách này đây,” gã mai táng vừa nói vừa vỗ nhẹ vào đôi bàn tay đang khoanh trước ngực của người quá cố một cách đầy tán thưởng, “quả là một tay cừ khôi—xét ở góc độ nào đi nữa, ông ta vẫn là một người tuyệt vời. Ông ấy cực kỳ dễ tính, lại còn khiêm tốn và giản dị trong những giây phút cuối đời. Bạn bè ông ta cứ khăng khăng đòi một cái quan tài kim loại—chẳng chịu loại nào khác. Nhưng tôi đâu có xoay đâu ra được. Thời gian thì không cho phép—ai nhìn vào cũng thấy rõ mười mươi.”
“Người quá cố bảo thôi kệ đi, cứ tìm đại một cái thùng nào đó cho ông ấy nằm duỗi chân thoải mái là được, ông ấy chẳng câu nệ chuyện kiểu dáng làm gì. Ông ấy bảo, dù sao thì với cái ‘nơi tạm trú’ cuối cùng này, ông ấy coi trọng sự rộng rãi hơn là vẻ ngoài hào nhoáng.”
“Đám bạn lại muốn gắn một tấm bảng tên bằng bạc lên quan tài, để ghi danh tính và quê quán ông ta. Mà bạn biết đấy, ở cái thị trấn nhỏ bé hẻo lánh này thì làm sao kiếm ra được món đồ trang trọng đến thế. Thế rồi người quá cố nói sao nhỉ?”
“Người quá cố bảo cứ sơn trắng cái thuyền độc mộc cũ của ông ấy, rồi dùng bàn chải mực đen cùng tấm khuôn tô mà viết địa chỉ cùng nơi đến lên đó, tiện thể thêm một câu thơ trong bài thánh ca nào đó cho có vẻ, rồi cứ thế tống thẳng ông ấy vào mộ, đánh dấu ‘Giao hàng trả tiền sau’, rồi mặc kệ cho ông ấy đi về miền cực lạc. Ông ấy chẳng hề lo lắng gì, trái lại, ông ấy bình thản và điềm nhiên y như một con ngựa kéo xe tang vậy. Ông ấy bảo ông ấy tin rằng ở nơi mình sắp đến, người ta sẽ ấn tượng với một nhân cách cao đẹp hơn là một cái quan tài bóng lộn với tấm bảng tên thời thượng.”
“Một con người tuyệt vời. Tôi thà lo liệu cho một cái xác như ông ấy còn hơn bất kỳ ai tôi từng gặp trong bảy năm qua. Chôn cất một người như thế mới thấy thỏa mãn chứ. Anh sẽ thấy những gì mình làm đều được trân trọng. Chúa phù hộ ông ấy, miễn là được chôn trước khi phân hủy, là ông ấy mãn nguyện lắm rồi. Ông ấy bảo người nhà ông ấy có ý tốt, rất tốt, nhưng mấy cái nghi thức chuẩn bị đó thế nào cũng gây chậm trễ, mà ông ấy thì không muốn phải nằm chờ đợi lâu. Chưa từng thấy ai có cái đầu óc minh mẫn như ông ấy—vừa bình tĩnh lại vừa tỉnh táo. Đúng là một khối óc vĩ đại. Kinh khủng thật. Khoảng cách từ bên này sang bên kia đầu của người đàn ông ấy xa đến mức đáng nể. Nhiều lần ông ấy bị sốt mê sảng ở một góc não, mà phần còn lại vẫn chẳng hay biết gì—chẳng ảnh hưởng gì đến nó cả, giống như việc một cuộc nổi dậy của người bản địa ở Arizona chẳng hề hấn gì đến các bang vùng Đại Tây Dương vậy. Chà, người nhà thì muốn tổ chức một đám tang linh đình, nhưng ông ta lại ghét mấy thứ phù phiếm—chẳng muốn đoàn đưa tang gì sất—cứ bảo nhét đầy người đưa tang vào xe tang, rồi buộc một sợi dây thừng phía sau mà kéo cái quan tài của ông ấy đi là được. Ông ấy là người ghét hình thức nhất trong số những ‘cố nhân’ mà tôi từng gặp. Một sinh linh giản dị, tuyệt vời—chính xác là vậy, cứ tin tôi đi. Ông ấy đã quyết là phải làm theo ý mình, và tìm thấy niềm an ủi thực sự trong việc tự lên kế hoạch cho hậu sự của mình. Ông ấy bắt tôi đo đạc rồi đưa ra cả một danh sách chỉ dẫn; sau đó ông ấy bắt vị mục sư đứng sau một cái hộp dài phủ khăn trải bàn, coi đó là quan tài, rồi đọc bài điếu văn, thỉnh thoảng lại hét lên ‘Encore! Encore!’ ở những đoạn hay, rồi bắt ông mục sư gạch bỏ hết mấy lời tán tụng, hoa mỹ sáo rỗng; rồi ông ấy bắt cả dàn đồng ca ra, để ông ấy giúp họ chọn những bài hát cho dịp đó, ông ấy bắt họ hát bài ‘Pop Goes the Weasel,’ bởi vì ông ấy luôn thích bài đó những khi buồn bã, còn nhạc tang lễ cứ làm ông ấy sầu thảm; và khi họ hát bài đó với đôi mắt đẫm lệ (vì họ đều yêu quý ông ấy), còn người thân thì đau buồn xung quanh, ông ấy cứ nằm đó, hạnh phúc như một chú bọ, cố gắng vỗ nhịp và bộc lộ rõ ra rằng ông ấy thích thú đến nhường nào; và rồi ông ấy phấn khích hẳn lên, cố gắng hát theo, bởi vì này nhé, ông ấy khá tự hào về khả năng ca hát của mình mà; nhưng ngay lần đầu tiên ông ấy mở miệng và định cất giọng hát vang thì hơi thở của ông ấy... cũng bay mất.”
“Tôi chưa từng thấy ai ‘tắt thở’ nhanh đến thế. Chà, đó quả là một mất mát lớn—một tổn thất nặng nề cho cái thị trấn nhỏ bé, nghèo nàn này. Chà chà, tôi chẳng còn thời gian để ngồi lê đôi mách ở đây nữa—phải đóng nắp quan tài rồi dong xe đi cùng ông ấy thôi; nếu anh giúp tôi một tay, chúng ta sẽ đẩy ông ấy lên xe tang rồi cứ thế mà đi. Người nhà thì khăng khăng phải làm thế này thế nọ—chẳng thèm đếm xỉa gì đến lời dặn dò lúc lâm chung, ngay khoảnh khắc người ta vừa trút hơi thở cuối cùng; nhưng nếu được quyết định, tôi thề có Chúa là tôi sẽ tôn trọng di nguyện của ông ấy và kéo cái quan tài sau xe tang. Tôi cho rằng bất cứ điều gì người quá cố muốn làm cho sự thoải mái của mình cũng chỉ là chuyện nhỏ, và chẳng ai có quyền lừa dối hay lợi dụng ông ấy cả; và bất cứ điều gì một cái xác tin tưởng giao phó, tôi đều sẽ làm, anh biết đấy, kể cả có phải nhồi bông, sơn vàng ông ấy lên rồi giữ lại làm vật kỷ niệm—anh nghe rõ chưa đấy!”
Gã quất roi và lù lù đánh cái cỗ xe tang cổ lỗ sĩ của mình đi mất, còn tôi tiếp tục tản bộ với một bài học quý giá—rằng một sự lạc quan lành mạnh và tích cực không hẳn là điều bất khả thi đối với bất kỳ công việc nào. Bài học này có lẽ sẽ còn đọng lại mãi, bởi sẽ mất nhiều tháng trời mới có thể xóa nhòa ký ức về những lời lẽ và hoàn cảnh đã khắc sâu bài học ấy vào tâm trí tôi.