Solongo thấy bực chính mình vì đã nấu quá nhiều. Yeruldelgger do dự giữa món củ cải muối và món đuôi cừu với nước dùng vàng óng, béo ngậy và nóng bỏng môi. Những viên pho mát khô chua chua, bánh xèo rán mỡ cừu hay sữa chua ấm. Hay món đầu dê luộc. Ông cảm thấy không thoải mái, như một kẻ thoát nạn trong bữa tiệc ăn cho lại sức vậy.
“Em xin lỗi, em không thể đừng được…”
“Ngon quá!” ông trả lời. “Mà còn có Oyun và Ganzorig nữa. Bốn người chúng ta có thể thưởng thức hết chỗ này!”
“Đó là cách duy nhất em tìm ra để xua đi nỗi lo lắng: nghĩ tới việc cho anh ăn tất cả những món anh thích.”
“Vậy thì đêm sẽ dài đây!” Yeruldelgger thì thầm kèm nụ cười đầy ngụ ý khiến Oyun và Ganzorig cùng cụp mắt xuống.
Bị bất ngờ, Solongo không trả lời. Đây là lần đầu tiên Yeruldelgger dám ám chỉ tới cuộc sống riêng tư của họ trước mặt người khác. Ganzorig phá vỡ sự im lặng.
“Đàn ông biết ăn cưới phụ nữ biết nấu!”
“Lão Tử à?” Oyun hỏi.
“Ganzorig,” Ganzorig vừa cười vừa trả lời trong khi rót cho mỗi người một ly rượu bách xù.
Người luật sư trẻ đã trở lại thoải mái trong bộ tăng phục. Anh chỉ hành nghề luật phục vụ Đệ thất Thiền viện và theo lệnh riêng của Nerguii. Ngay khi vai trò bào chữa kết thúc, anh trở lại với cuộc sống của một vị sư chiến binh, cuộc sống của tín ngưỡng và niềm tin.
“Làm thế nào đức Nerguii lại biết tôi cần cậu?”
“Làm thế nào ngài có thể là đức Nerguii được nếu không biết ngay lập tức điều đó? Cho dù anh ở đâu, anh cũng là một người trong chúng tôi, và đức Nerguii luôn dõi theo anh.”
“Em đã rất sợ!” Solongo thú thực. “Khi nhận ra khuôn mặt Colette ở nhà xác, em đã lập tức nghĩ tới anh! Dẫu vậy em cũng không thể nào hình dung nổi, dù chỉ trong một giây, rằng người ta có thể buộc tội anh.”
“Bây giờ sẽ sao đây?” Oyun hỏi.
“Yeruldelgger không còn bị tạm giam nữa, nhưng anh ấy vẫn bị buộc tội,” Gartzorig giải thích. “Tôi đã làm găng lên câu chuyện đấu đá nội bộ cảnh sát. Cái đó đã đẩy bọn họ vào thế lúng túng, nhất là với câu chuyện về những vết máu này. Nhưng vẫn còn mối liên hệ giữa anh với nạn nhân và đoạn phim kia. Tôi tin chắc người ta muốn cài bẫy anh. Chúng ta còn đêm nay để hiểu chuyện đó diễn ra như thế nào, tại sao, và nhất là do ai.”
“Anh muốn dành cả đêm nay để xem xét chuyện đó sao?” Solongo hỏi, cô lo Yeruldelgger mệt.
“Yeruldelgger buộc phải làm vậy thôi, anh sẽ có được từ nó những khoái cảm đắng ngắt, tha hồ bù đắp nỗi mệt nhọc của anh,” Ganzorig trả lời bằng cách trích dẫn Baudelaire.
“Tôi đã đối đầu với bão tuyết cùng một người Armenia luôn trích dẫn Hugo, và giờ lại được bảo vệ bởi một vị sư Thiếu Lâm biết trích dẫn Baudelaire. Vậy thì thế giới này vẫn chưa hoàn toàn thối tha, như ông bạn Agop của tôi đã nói!”
“Dừng thơ ca lại ở đây, chúng ta bắt đầu bằng việc cố hiểu bằng cách nào chăng? Hãy kể cho chúng tôi những gì đã xảy ra.”
“Ba ngày trước, tôi nhận được điện thoại của Colette. Tôi đã không có tin tức gì của cô ấy kể từ sau cuộc điều tra mà tôi kéo cô ấy vào. Cô ấy muốn gặp tôi mà không thể nói với tôi nhiều hơn qua điện thoại. Cô ấy nói cần tôi và tôi đã nghĩ tới những phiền toái với cảnh sát, hoặc với đám ma cô. Cô ấy bảo tôi hãy tới xưng danh ở lễ tân khách sạn Mongolia lúc 15 giờ. Tôi tới hơi trễ một chút vì chúng tôi vừa nhận được thông tin về cái xác trên núi Otgontenger và tôi bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi tới đó vào ngày hôm sau. Người lễ tân đưa cho tôi một chiếc chìa khóa, là chìa của phòng 601. Anh ta nói với tôi: ‘Tầng sáu, cửa đối diện với thang máy’. Tôi vào thang máy. Bây giờ khi nghĩ lại, tôi nhớ có một nhân viên bảo trì trong buồng thang máy. Anh ta đã hỏi tôi muốn lên tầng nào rồi bấm tầng hộ tôi. Tôi đã theo dõi đèn hiển thị tầng và ra khỏi thang máy ở tầng sáu. Anh ta chào tạm biệt tôi, cửa thang máy đóng lại, và tôi đi tới phòng 601, nằm ngay đối diện với thang máy, ở đầu hành lang. Tôi gõ cửa, không có ai ra mở cửa, thế là tôi dùng chìa mở cửa phòng. Trong phòng vắng tanh. Tôi đã gọi Colette, tôi đã ngó vào phòng tắm, rồi tôi đợi một chút, sau đó rồi đi ngay vì tôi có rất nhiều việc phải thu xếp trước khi lên đường tới Uliastay. Lúc tôi ra khỏi phòng, có thứ gì đó trơn nhớt trên tay nắm cửa. Tôi liền dùng một cái khăn giấy lau bàn tay, rồi giữ nó lại để đóng cửa ở phía bên kia. Sau đó tôi lại dùng thang máy để đi xuống. Tôi tự nhủ hẳn Colette đã gặp trở ngại gì đó và cô ấy sẽ gọi điện lại cho tôi. Người lễ tân đang bận việc ở chỗ khác. Tôi đã để chìa khóa lại sau quầy của anh ta rồi rời khách sạn. Chuyện là vậy đấy.”
“Thế anh chàng nhân viên bảo trì có còn ở trong buồng thang máy khi anh đi xuống không?”
“Không. Tôi đã không gặp lại anh ta.”
“Anh chắc là anh ta đã bấm nút tầng sáu chứ?”
“Tôi đã thấy số sáu hiện lên, tôi chắc chắn về điều đó. Anh ta thậm chí còn buột miệng nói ra một câu pha trò đại loại như ‘Thiếu một sợi lông nữa là tới tầng trời thứ bảy!’”
“Anh chắc chắn về tầng chứ?”
“Phải. Cửa phòng đúng là gắn số 601: cửa đầu tiên, tầng sáu.”
“Anh có nhìn những cánh cửa khác không?”
“Không, vì sao tôi lại phải làm vậy?”
“Vì nếu như có một cái bẫy, rất có thể để bắt đầu chúng đã làm anh nhầm tầng.”
“Nghe này: chìa khóa, thang máy, cánh cửa và đoạn phim cho thấy đúng là tôi đã lên tầng sáu.”
“Chìa khóa chẳng chứng tỏ gì cả, hơn nữa anh cũng không còn giữ nó. Anh cũng không tự mình bấm nút gọi tầng. Một anh chàng nhân viên bảo trì cứ như tình cờ lại có mặt trong buồng thang máy và tung ra vừa khéo một câu pha trò thô thiển để thuyết phục anh rằng anh đúng là đang lên tầng sáu. Đoạn phim, đó sẽ mãi mãi chỉ là một chiếc đĩa DVD không xác định được nguồn gốc người ta đã lấy ra từ một đầu ghi cũng không xác định được nguồn gốc, và thêm nữa lại cho thấy hình ảnh một hành lang tầng giống hệt mọi hành lang tầng khác. Về phần cánh cửa, nó chỉ được đánh dấu bằng một tấm biển số có thể bắt vít lên và tháo ra được. Thế nên tôi nhắc lại câu hỏi: anh có chắc chắn về tầng không?”
“Không,” Oyun trả lời thay Yeruldelgger. “Ganzorig có lý. Cần kiểm tra lại tất cả các điểm này. Họ sẽ không cho ông lại gần hiện trường vụ án ở khách sạn đâu, vì thế ngay sáng mai tôi sẽ tới đó. Còn ông, Yeruldelgger, ông sẽ truy tìm gã nhân viên bảo trì. Chỉ mình ông có thể nhận ra hắn. Tôi sẽ hỏi chủ khách sạn Mongolia thông tin của công ty bảo trì thang máy rồi nhắn vào điện thoại di động cho ông.”
“Đồng ý,” Yeruldelgger tán thành, “nhưng chúng ta hãy cân nhắc cho rõ ràng giả thiết của Ganzorig. Vậy là ai đó đã cắt cổ Colette chỉ để gài bẫy tôi sao? Việc này dẫu sao cũng là một âm mưu khá phức tạp: một hay nhiều kẻ sát nhân, gã ở trong thang máy, một kẻ nào đó để thao tác đoạn phim, rồi có thể cả một tên nữa để đánh tráo số phòng, và chắc chắn cả những kẻ canh chừng để căn thời gian tôi tới và dụ các nhân chứng rời đi…”
“Cũng phải có một ai đó để tác động tới quản lý khách sạn và bày ra chuyện bảo trì thang máy. Yeruldelgger có lý,” Oyun nói, “đây là một mưu đồ phức tạp cần chuẩn bị kỹ lưỡng và không ít người tham dự.”
“Nếu vậy,” Ganzorig ngẩng lên, “câu hỏi thực sự là: ai có thể căm thù anh tới mức này, Yeruldelgger, và ai có những phương tiện để làm điều đó?”
Không ai dám nói ra cái tên có thể trả lời được hai câu hỏi này. Nhưng Yeruldelgger hiểu rõ Solongo và Oyun. Ông biết cả hai người đang nghĩ tới cùng một con quái vật.