Chiếc xe địa hình nhỏ của Nga sản xuất vừa leo vừa trượt theo bờ dốc thoai thoải phủ đầy tuyết của khe núi. Từ gần một giờ nay, họ chạy ngược dòng suối đóng băng và anh chàng người Kazakh vẫn không hé răng lấy một lời. Yeruldelgger không thích anh ta. Như tất cả khung cảnh xung quanh ông, anh ta có vẻ tối tăm và khép kín. Ngay từ sáng, một màn sương mù vàng vọt đã làm cả thành phố ngộp thở. Một triệu kẻ khốn khổ trong những căn lều tàn tạ đốt bếp lửa bằng những khúc củi tồi, bằng than cục hay những mảnh lốp xe cắt nhỏ để sống sót qua mùa đông. Không khí khét nồng đến mức như đang cạo mòn các lá phổi. Yeruldelgger nhìn thấy ngay từ rạng đông một trong những ngày đáng nguyền rủa mà mặt trời không thể xuyên qua được không khí đặc quánh đến bão hòa. Như thường xảy ra vào mùa đông, kể từ khi những người du mục đổ xô về các khu lều trại, người ta không thể nhìn xa nổi đến mười mét. Thậm chí không thể nhìn sang được bên kia đường. Utaan Bator, vị anh hùng bị xông khói, vẫn cười nhạo những người thích cười cợt về chuyện này vừa ho khùng khục, đôi mắt lèm nhèm vì muội than. Thành phố ô nhiễm thứ nhì thế giới, chỉ sau Ahvaz ở Iran, theo con số thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới. Mà cũng có thể là số một vào ngày hôm nay, đứng trước Lâm Phần, trước Dzerjinsk, trước Mexico. Thành phố duy nhất xứng đáng với danh từ này tại quốc gia thảo nguyên với những thảm cỏ gợn sóng, những đàn gia súc hoang dã tự do và những hồ nước trong vắt, và thành phố ấy còn nguy hiểm hơn cả Tchernobyl, Yeruldelgger càu nhàu như vậy trong lúc mò mẫm lái xe tới tận sân bay.
Khi chiếc Fokker F50 của Aero Mongolia khởi động hai động cơ cánh quạt, Yeruldelgger thậm chí còn không trông thấy cánh quạt qua cửa sổ máy bay. Ông cũng không nhìn thấy đường băng dưới cánh và càng không thấy được ánh sáng của thành phố đang thức giấc. Liệu ông có thực sự buộc phải tiếp tục yêu quý cái đất nước đang tiến tới suy vi, vẫn với vẻ ngạo mạn như nó từng lao đi trên lưng ngựa nhiều thế kỷ trước để chinh phục những nền văn minh tiên tiến hơn mình cả trăm lần hay không?
Thế rồi, chỉ vài phút sau khi cất cánh, chiếc Fokker, với những cánh quạt không ngừng kêu vù vù, đã xuyên qua lớp vỏ bọc dày đang làm thành phố ngộp thở và lướt đi trong màu xanh chói lóa của bầu trời. Oulan-Bator chẳng là gì cả nếu so với toàn thể Mông Cổ. Chỉ là một đô thị nhỏ hợm mình bị gói gọn trong thung lũng khép kín ôm khư khư lấy đống khói bụi của chính nó. Và khắp xung quanh, là Mông Cổ. Đất nước Mông Cổ đích thực mà ông yêu quý.
Ngay khi máy bay hoàn tất vòng lượn rộng để hướng thẳng tới Uliastay ở phía Tây, Yeruldelgger tìm thấy một ghế trống để áp trán vào ô cửa kính và ngắm nhìn đất nước mình lướt qua dưới cánh máy bay.
Vùng Khustain Nuruu đang ở ngay bên dưới. Khu rừng thông rụng lá lốm đốm ngọn cây phủ tuyết, những vùng đất rộng mênh mông đóng băng, những dòng sông tối sẫm và ánh xanh lơ cuốn băng trôi, và mấy căn lều rải rác trên không gian mênh mông men theo con đường mòn được những kẻ du hành say mê không gian ngẫu nhiên vạch ra. Khu rừng vòng qua phía Nam vùng núi Khangai và ông ngỡ ngàng trước chiều cao bốn nghìn mét của Otgontenger. Nơi ông sẽ gặp Agop, người gửi tin nhắn khiến ông lo ngại. Bầu trời đột nhiên tối sầm dưới một tầng mây nặng nề và ánh sáng trở nên âm u bao trùm phong cảnh. Ngọn núi lập tức trở nên đầy đe dọa, chìa sườn phía Nam về phía các hành khách, ngọn núi đá hoa cương cao nhất của Mông cổ. Mỗi hành khách trong khoang máy bay ầm ĩ đều lặng im, cố gắng xua ra khỏi tâm trí họ ký ức về ngày 4 tháng Tám năm 1963, cái ngày tang tóc khi chiếc Ilyushin IL-14 của MIAT đâm vào núi Otgontenger vỡ tan tành giữa hành trình bay, khiến toàn bộ hành khách và phi hành đoàn thiệt mạng. Hai mươi lăm năm sau, lần này là một chiếc Harbin Y-12 đâm phải sườn bên kia của rặng núi, đẩy hai mươi sáu người trên khoang vào chỗ chết. Song thảm kịch này có một nguyên nhân. Chiếc máy bay chở nhiều hơn số lượng mười bảy người theo thiết kế và đã không thể lấy được đủ độ cao để vượt qua núi. Trong khi không bao giờ có lời giải thích nào cho vụ tai nạn của chiếc Ilyushin. Từ đó xuất hiện những chuyện mê tín…
Yeruldelgger vẫn giữ im lặng bất chấp nụ cười quá đỗi tự tin của cô tiếp viên. Ông biết tuyến đường và lộ trình bay. Hướng về phía Tây Nam rồi sau đó ngoặt lên mạn Bắc, lách giữa các rặng núi trong khe hở do dòng sông Bogd tạo nên rồi bay ngược khe núi này ở tầm thấp cho tới khi đến sân bay Donoi. Khi chiếc Fokker đột ngột chuyển hướng chuẩn bị tiếp đất, Yeruldelgger lo lắng muốn biết bằng những tính toán thiên tài nào mà các kỹ sư và các kiến trúc sư đã đi tới kết luận rằng hướng tốt nhất cho đường băng là cắt ngang vuông góc với thung lũng.
Donoi chỉ là một sân bay phụ. Chẳng có gì khác. Chỉ có một đường băng, hai tòa nhà nhỏ kiên cố để bảo vệ các thiết bị điện tử, một tòa nhà lớn hơn để hành khách chờ máy bay có nơi trú chân. Khi Yeruldelgger đặt chân xuống cầu thang bằng kim loại mà một anh chàng khốn khổ đã dùng tay đẩy tới tận máy bay, không khí loãng vùng núi cao thít chặt lấy xoang mũi ông. Cái lạnh của vùng núi cao, khô hơn, khắc nghiệt hơn cái lạnh của thảo nguyên. Nhưng còn hơn cả cảm giác đau buốt của lần hít vào đầu tiên, điều khiến ông sững lại trên cầu thang là vẻ đẹp đến sững sờ của phong cảnh. Bị ấn tượng trước vóc dáng của ông, những hành khách đi sau không dám xô đẩy người đàn ông đang chiêm ngưỡng thung lũng vắng vẻ và phủ đầy băng, nằm giữa những ngọn núi và sống núi răng cưa phủ tuyết, và xa xa về phía Đông là cái vòm thẫm đóng băng của núi Otgontenger. Từ trên đỉnh cầu thang, ông nhìn thấy người đã đợi sẵn để đưa ông tới Uliastay, cách đường băng sân bay hai mươi lăm kilômét. Một người Kazakh. Hai người nhận ra nhau mà không phải nói một lời, và người đàn ông kia chẳng hề ngạc nhiên khi tất cả hành lý của Yeruldelgger chỉ là một cái ba lô. Anh ta đi trước ông cho tới tận chỗ chiếc UAZ nhỏ do Nga sản xuất đỗ ngang phè ở bên rìa đường băng rồi ngồi trước tay lái và nổ máy mà chẳng buồn đợi Yeruldelgger đóng cửa lại.
Họ tới nơi sau nửa giờ nhọc nhằn nữa, nhưng khi người đàn ông Kazakh muốn chạy vào thành phố để thả ông xuống khách sạn, Yeruldelgger lại ra lệnh cho anh ta rẽ vào con đường chạy men sông, qua cây cầu, rồi đi theo đường mòn dẫn lên núi. Ông muốn tới bảo tàng nhỏ của Agop càng nhanh càng tốt và trông đợi lòng hiếu khách của ông này cho tới tận hôm sau.
Toàn bộ khu vực núi Otgontenger là Khu Bảo tồn Nghiêm ngặt. Không chỉ vì những loài động thực vật sống ở đó mà còn vì linh hồn thiêng liêng mà ngọn núi này đại diện trong mắt tất cả người Mông cổ. Không công trình thường trực nào của con người được phép tọa lạc tại đây ngoại trừ cái bảo tàng nhỏ của Agop và hai thiền viện Phật giáo. Bảo tàng để nghiên cứu và bảo tồn thiên nhiên, còn các thiền viện để bảo vệ và thờ phụng các linh hồn. Ông vẫn còn là một đệ tử trẻ mới nhập môn ở Đệ thất Thiền viện khi đích thân vị Nerguii giúp ông cảm nhận ý nghĩa của đất đai tại chốn linh thiêng nơi thần linh cư ngụ này. Như trong tất cả các tôn giáo chiếm địa vị thống trị, các chức sắc Phật giáo ở khắp nơi đã tìm cách sao lại nguyên xi nghi lễ và ý nghĩa đã được các tôn giáo bị khuất phục gán cho từng địa điểm. Nhưng Otgontenger tỏa ra sức mạnh tinh thần mạnh tới mức những hư cấu của con người không đủ để lý giải. Phật giáo, kết nối trở lại với cội rễ Bà la môn giáo của mình, khi đó đã phải lấy nguồn năng lượng từ ngọn núi thiêng để điều tiết sức mạnh của nó và chiếm lĩnh phép mầu tâm linh của các nghi thức đạo sa man. Hỡi linh hồn của những sức mạnh chiến thắng, Chủ nhân của các bí mật, hãy hòa nhập vào ngọn núi này. Từ núi Semuru, trục của thế giới, nơi cư ngụ của các vị thần, trái tim của những điềm báo và của mười dấu hiệu của đạo đức, hãy tới ngọn núi thiêng Otgontenger… Yeruldelgger vẫn còn nhớ những lời khấn này, một ưu ái ngoại lệ đã đặt Otgontenger ở trung tâm của cả một vũ trụ giác ngộ bao trùm tất cả những ngọn núi thiêng của Mông cổ.
Người lái chiếc UAZ có vẻ vô cảm với khía cạnh tâm linh của nơi này. Anh ta theo đạo Hồi và nỗi sợ vị Chúa của anh ta, cho dù vị Chúa ấy có bao dung đến đâu chăng nữa, khiến anh ta e sợ bị Chúa trừng phạt hơn là hy vọng vào sự hiệp thông với vũ trụ. Anh ta lái xe với thái độ bực dọc, trong nỗi sợ tai nạn hay hỏng xe sẽ buộc họ phải tìm cách xoay xở sống sót qua đêm. Vì anh ta có vẻ biết rõ con đường, thái độ của tay lái xe chẳng hề khiến Yeruldelgger bận tâm. Điều làm viên cảnh sát lo lắng khi họ tới gần đích là cái lạnh và sự tối tăm của khung cảnh xung quanh họ. Otgontenger là một vùng núi đồ sộ khắc nghiệt vào mùa đông, nhưng hơn cả những vách đá hoa cương đầy kẽ nứt và khe vực, hơn cả những chỏm núi đóng băng xen kẽ băng lở màu xám xịt, một thứ không khí bất động và u ám ngày hôm nay làm đông cứng phong cảnh trong vẻ tang tóc. Cảnh vật dường như mãi mãi thấm đẫm ký ức của những nạn nhân trên chiếc Ilyushin cũng như những nỗi kinh hoàng cuối cùng của họ. Yeruldelgger trong thâm tâm tin chắc về điều đó, cũng như ông nhanh chóng tin rằng ngày hôm nay ngọn núi đang thầm khóc vì một nỗi bất hạnh khác. Có thể đó là điều khiến tay Kazakh trầm tư ít nói như vậy. Có vẻ cả anh ta cũng đã cảm thấy cảm giác lạ lùng rằng đá và băng nơi đây đang để tang theo một bổn phận bi thảm. Đá trở thành huyệt mộ, băng trở thành vải liệm.
Chính tay tài xế trông thấy chúng đầu tiên và hất hàm chỉ cho Yeruldelgger. Ba con chim săn mồi quần lượn trên nền trời trắng ở khoảng hõm xuống của chỏm núi phía trước họ.
“Kền kền râu à?” Yeruldelgger hỏi.
“Kền kền hói đầu!” anh chàng người Kazakh đáp, xác nhận mà không cần nói rõ có xác chết ở nơi họ tới.
Nếu anh ta nói đúng, lũ kền kền mới chỉ phát hiện ra xác chết chưa lâu. Chúng chỉ quần lượn vài giờ phía trên một cái xác, thời gian để biết chắc rằng chúng có thể đậu xuống mà không gặp nguy hiểm. Sau đó sẽ là lúc xông vào con mồi, và có thể có tới hàng chục con kéo tới để cắn xé cái xác.
Chỉ có mình Agop sống trên đó. Anh chàng Kazakh hiểu điều đó và tăng tốc, lao chiếc UAZ đi nhanh tới mức khiến chiếc xe suýt mất thăng bằng, xông lên những đoạn đường dốc cuối cùng đầy tuyết và đá vụn. Khi cuối cùng họ tới chỗ khoảng đất bằng nhỏ nơi Agop xây dựng bảo tàng, những gì họ phát hiện ra còn kinh khủng hơn những điều họ e ngại. Chẳng còn lại chút gì của căn lán dựng bằng những súc gỗ linh sam nơi ông già Armenia đã đón tiếp Yeruldelgger hai ngày trước. Tất cả đã bị đốt trụi, cháy đen tới tận nền đất, và bảo tàng chỉ còn là một nền đá dài đen kịt ngổn ngang những mảnh vỡ chồng đống. Chỉ có hai cái lò sưởi cũ và đống xác méo mó của một chiếc tủ lạnh và một cái bếp gợi nhớ từng có một ngôi nhà tồn tại ở đây.
Yeruldelgger lập tức tìm lại được những phản xạ của cảnh sát. Ông ra lệnh cho anh chàng người Kazakh dừng lại và không rời khỏi xe, hoặc đi theo ông và đặt chân lên đúng vết chân ông. Anh ta thích xuống xe hơn nhưng không trả lời mà đi theo sau Yeruldelgger hiện đã bắt đầu tìm kiếm các dấu vết. Hai người cứ thế tiến tới tận chỗ những gì còn lại của chiếc lán và Yeruldelgger chụp lại hiện trường dưới tất cả các góc độ bằng chiếc iPhone của mình. Không còn tìm ra bất cứ logic nào trong đống đổ nát. Tất cả dường như đã bị thiêu rụi tức thì trong một vụ cháy dữ dội. Họ bước thêm vài bước trên phiến đá rộng, rồi viên cảnh sát ra dấu dừng lại. Ông ngồi xổm xuống, tháo một bên găng tay ra, rồi đưa một ngón tay quệt lên mặt đất. Ông đứng dậy để quan sát thứ tro trơn nhẫy và dính nhớt ông đang bóp nát giữa ngón cái và ngón trỏ. Lửa đã được châm mồi bằng một chất dẫn cháy. Lúc này khi đã biết điều đó, ông nhận ra độ đặc quánh và màu sắc hơi khác mà chất đó đem tới cho thứ tro này. Ông lần theo dấu vết chạy dài dọc theo phiến đá. Toàn bộ căn lán đã bị tưới đẫm, cả ở bên trong, và đám cháy hẳn là một hỏa ngục bùng lên tức thì. Yeruldelgger lập tức nghĩ tới ông giáo sư.
Ông nhận thấy một chuyển động ở phía bên kia đống đổ nát, và cùng lúc đoán biết rằng người Kazakh đã rút súng ở sau lưng mình. Ông cũng rút súng ra theo phản xạ, mà không biết nên chĩa vào thứ người Kazakh đang nhắm vào hay chĩa vào chính anh ta. Ánh mắt họ giao nhau và ông đọc thấy trong ánh mắt tay lái xe cả lúng túng lẫn sợ hãi.
“Anh bạn có súng à?”
“Để tự vệ,” anh ta lên tiếng mà không nhìn ông.
“Đưa đây!” Yeruldelgger chìa tay ra yêu cầu. “Ở đây, tôi là người bảo vệ.”
Anh ta đưa súng của mình cho ông trong khi Yeruldelgger không hề hạ súng của ông xuống.
“Anh bạn đã thấy gì vậy?” ông vừa hỏi vừa cất khẩu súng ngắn tự động do Nga sản xuất vào túi áo măng tô.
“Có cái gì đó nhúc nhích đằng sau đống tuyết, đằng kia kìa.”
Yeruldelgger nhìn về hướng người Kazakh chỉ.
“Anh bạn nhầm rồi. Chẳng có gì nhúc nhích đằng sau đống tuyết cả. Chính đống tuyết đã nhúc nhích. Lại đây!”
Họ đi về phía cái đống đó. Yeruldelgger cất súng của ông đi, và người Kazakh nghĩ làm vậy là rất bất cẩn. Anh ta không rời mắt khỏi đống tuyết và bật lùi lại khi nhìn thấy nó lại nhúc nhích. Ngược lại, Yeruldelgger lập tức lao tới chỗ con bò Tây Tạng trắng to đang lúc lắc. Con vật giũ mình khỏi lớp băng bao quanh nó, và Yeruldelgger thấy bộ lông của nó nhiều chỗ đã bị cháy tới tận da.
Họng To, nằm phủ phục, gật gù cái đầu ngay khi thấy viên cảnh sát, như thể cầu khẩn ông hãy nhanh lên. Yeruldelgger lao tới chỗ nó, vừa chạy vừa đưa mắt tìm kiếm ông giáo sư.
“Agop! Agop!”
Ngay khi ông tới cạnh nó, con bò Tây Tạng khó nhọc đứng dậy và Yeruldelgger phát hiện thân hình cởi trần của ông già Armenia mà con vật nằm che lên trên.
“Agop!”
Ông quỳ xuống cạnh cái xác, biết rằng đã quá muộn. Ông tìm kiếm một mạch đập, một hơi thở, song làn da xanh xám vì lạnh và hằn những vết bỏng không cho ông chút cơ hội nghi ngờ nào. Ông đứng dậy và ra hiệu cho người Kazakh đang chạy tới không tiến thêm bước nào nữa. Cho tới lúc này ông đã có một căn lán bị đốt trụi, nhưng giờ ông đang có một xác người. Và dù đây có phải là bạn hay không, những phản ứng của người cảnh sát trong ông nắm lại quyền kiểm soát: nơi này đã trở thành hiện trường tội ác. Ông ngẫm nghĩ một lát, quan sát xung quanh, rồi quay về phía người Kazakh.
“Anh bạn sẽ giúp tôi!” ông nói với anh ta, không để anh ta có lựa chọn. “Quay lại phía bên kia của đống đổ nát, bước đúng vào các vết bàn chân chúng ta vừa để lại. Khi anh bạn cách căn lán hai mươi mét, hãy đi một vòng rộng xung quanh trong khi luôn duy trì khoảng cách không đổi với tôi. Nếu bắt gặp các dấu vết, hay bất cứ gì khác, hãy hô to lên để tôi biết, nhưng nhất thiết không được chệch khỏi vòng của anh bạn, đồng ý chứ? Và nếu cảm thấy sợ, anh bạn có thể đi gần hơn để tôi thấy được anh bạn.”
“Tôi không sợ!”
“Tốt. Vậy làm ngay đi!”
Ông dõi theo người Kazakh đi ra xa, rồi quay trở lại cái xác của Agop. Ông này gần như khỏa thân, chỉ còn mặc quần lót và đi tất. Bị bất ngờ trong khi đang ngủ chăng? Bị bất ngờ bởi đám cháy? Có thể. Nhưng tại sao lại ở cách xa đống đổ nát đến vậy? Tôi bừng tỉnh và tất cả đang cháy. Tôi bỏ chạy. Thậm chí không kịp khoác lên người bất cứ thứ gì? Dù là lấy tấm chăn trên giường? Có thể là hoảng loạn chăng? Tôi chạy ra, bên ngoài đang là âm ba mươi độ, và không gì có thể chặn đứng đám cháy. Chỉ toàn gỗ khô được sơn từ nhiều năm trước. Vụ cháy hẳn phải dữ dội và sức nóng hừng hực phả ra tới ít nhất cả chục mét. Chính vì thế mà tôi tránh ra xa đến vậy chăng?
Nhưng nếu muốn sống sót qua cái lạnh nhờ hơi nóng, hắn tôi đã phải lại gần đám cháy hơn khi ngọn lửa dịu. Hẳn tôi đã phải trườn tới tận đống đổ nát bốc khói, nhặt nhạnh những khúc gỗ cuối cùng vẫn còn có thể cháy được. Để nhóm lửa trên đống tro tàn của một đám cháy. Cố gắng làm tất cả cho tới khi chẳng còn gì cháy được và cái lạnh lại ập xuống tôi, làm tôi cứng đơ gáy và hai bên hông. Người ta hắn sẽ tìm thấy xác tôi nửa bị bỏng, nửa bị đông cứng giữa bãi tro tàn. Chứ không phải cách đó mười mét…
Khi ông dồn sự chú ý vào xác Agop, con bò Tây Tạng ở đó, liếm khuôn mặt người từng là chủ của nó. Viên cảnh sát không khỏi xúc động. Ông lại gần con vật, nắm lấy túm lông trên cái đầu xồm xoàm của nó, rồi kéo nó áp vào mình.
“Anh bạn Họng To tội nghiệp, chuyện gì đã xảy ra vậy? Mày nằm đè lên để truyền hơi ấm cho ông ấy, phải vậy không?”
Để giữ ông ấy sống cho tới khi có người đến. Cho tới khi tao đến. Và tao đã đến quá muộn! Tao xin lỗi mày, Họng To, và tao…
Khi ôm lấy con bò chặt hơn, cánh tay ông trượt qua một món đồ giữa bộ lông xù rậm rạp của con vật. Thoạt đầu, ông nghĩ đó là một mảnh băng mắc vào lông, nhưng vật đó lại nằm sâu bên trong. Yeruldelgger luồn tay qua những túm lông dài thô ráp và mò mẫm nắm lấy đồ vật mắc ở đó. Ông cố giật nó ra một lần nhưng không được. Ông cố giật mạnh hơn thêm lần nữa, và con bò đột ngột nhích ra xa, như thể để giúp ông giật thứ nó đang giữ.
Một cái túi ni lông trong suốt được cài lại bằng ghim, bên trong đựng một chiếc bật lửa. Trông giống kiểu bật lửa Zippo mang logo của Las Vegas. Hẳn Agop đã cài nó vào trong bộ lông của con vật để cái bật lửa thoát khỏi sự chú ý của tất cả mọi người trừ ông. Agop biết ông sẽ quay lại theo lời nhắn của mình. ‘Yeruldelgger, tôi đã tới chỗ đó. Anh cần quay lại. Nhanh lên’. Ông đã không quay lại đủ nhanh và người bạn Armenia của ông đã chết. Hay chính xác hơn, đã có kẻ sát hại Agop.
Ông lại cúi xuống cái xác. Không có vết thương nào. Thậm chí vết đánh cũng không. Có lẽ chết vì ngạt khói, hoặc vì sợ.
Nhưng đám cháy chỉ có thể xảy ra có chủ ý và là hành động tội ác. Vậy Agop muốn nói gì với ông qua cái bật lửa này? Liệu có phải đây là thứ đã châm lửa đốt căn lán hay không? Nếu đúng thế, thì nó là của ai, của Agop chăng? Hay của những kẻ đã tấn công ông? Và nó có liên hệ gì với cái xác trên núi?
Đột nhiên, cái lạnh giá buốt chích vào vai ông và cả người ông run lên. Bầu trời đầy mây. Những vách đá đen lởm chởm dường như sẵn sàng nứt ra dưới tuyết. Chỉ hai giờ nữa trời sẽ tối, khoảng thời gian họ cần để quay trở lại Uliastay. Ông đưa mắt tìm người Kazakh để gọi anh ta lại và giật mình khi thấy anh ta ở sau lưng, hơi lệch sang một bên, mắt dán vào cái bật lửa. Yeruldelgger nhét bật lửa vào túi ngực áo măng tô của ông rồi lấy chiếc iPhone ra chụp loạt ảnh cuối cùng. Bên cạnh Agop có nhiều dấu vết trên tuyết. Trông giống như vết chân chim. Có thể một con kền kền đã lần tới tận đó.
“Đi tìm thứ gì đó đi!” ông nói.
“Chúng ta thuộc về Chúa và sẽ trở về bên Người. Allah đấng Nhân từ thật vĩ đại!” anh chàng Kazakh lẩm nhẩm, hai lòng bàn tay ngửa ra hướng lên trời, trước khi quay trở lại chỗ ôtô.
Anh ta mang tới một mảnh vải bạt, và hai người loay hoay dùng nó để bọc lấy cái xác. Hai lần liền Yeruldelgger bị trượt đầu gối và ngã dúi đầu vào cái xác lạnh cóng của Agop tội nghiệp trước khi làm xong việc và mang được cái xác ra xe. Sau đó, hai người không nói thêm gì nữa trong hai giờ lắc lư và trơn trượt của chuyến quay về Uliastay. Họ về tới thành phố qua lối phía Đông, dưới cái bóng lạnh lẽo đầy đe dọa của các dãy núi, ngay trước khi trời tối. Họ chạy xe qua cây cầu đầu tiên bắc qua dòng nước tối đen đầy những tảng băng chồng đống, rồi qua khu phố mới đang tìm cách tạo lập sự sống ở khu tam giác hợp lưu của hai dòng sông, rồi đi qua một cây cầu nữa, bắc qua dòng sông còn lại và dẫn tới quảng trường chính của Uliastay. Một kiểu bùng binh với công trình không thể cắt nghĩa hình cột trụ bằng bê tông được dựng lên thời hậu Xô viết, bao quanh là hàng lan can trắng, nằm dưới chân ngọn đồi núi thấp chi chít những cột ăng ten xấu xí đầy hăm dọa. Đây chính là cửa ngõ qua đó người ta thực sự vào thành phố, bên dưới mạng dây điện chăng lung tung và vài quảng cáo được trưng trên những tấm pano to bè nặng nề. Xa hơn, thành phố tản ra, ngoại trừ về phía Nam, nơi nó tràn ra sát bờ sông, bao quanh bằng con phố dài lượn cong như đường vành đai được gia cố bằng tường ốp xây từ đá vụn. Gọi là thành phố, nhưng Uliastay chỉ là vài khu đất vuông bằng phẳng với những căn lều truyền thống và nhà cửa xập xệ cùng chừng chục tòa nhà nằm giữa dòng sông và con phố chính, thẳng đuột như một vạch kẻ bằng thước, chỉ dài không quá hai trăm mét cho tới đầu mạn Bắc.
Anh chàng Kazakh muốn đi theo con phố này để đưa Yeruldelgger tới khách sạn Uliastay, nơi có tiền sảnh lát cẩm thạch hợm hĩnh, những chùm đèn thủy tinh màu, và vẻ xa xỉ giả tạo cho những kẻ lắm tiền.
“Cái gì, anh bạn muốn chúng ta tới khách sạn với một cái xác trong cốp xe à? Chúng ta tới bệnh viện trung tâm!” Yeruldelgger lên tiếng.
Ông tảng lờ những lời cằn nhằn của anh chàng Kazakh và tự hỏi liệu có thực sự tồn tại ở chốn hẻo lánh này một bệnh viện nào khác hay không để người ta gọi nơi ông đang tới là bệnh viện trung tâm. Một tòa nhà lớn buồn tẻ nằm giữa khoảnh đất bỏ hoang bị mùa đông tàn phá, với tầm nhìn hùng vĩ trông xuống hợp lưu hai con sông đầy những tảng băng nổi và cảnh hỗn độn bất động, vĩnh cửu của đống đá sạt lở dưới chân núi. Hai người tới thẳng khoa cấp cứu, có lối vào là một cửa ngách mở ra bãi đất hoang, rồi dài cổ đợi ai đó xuất hiện…
“Dù sao đi nữa, thực ra cũng chẳng có gì khẩn cấp!” Yeruldelgger thừa nhận. “Anh đi gọi ai đó mang cáng đến, tôi cần gọi điện thoại.”
Ông ra khỏi xe cùng lúc với người lái xe, đợi tới khi thấy anh ta đẩy cửa bệnh viện, rồi gọi vào điện thoại di động của Solongo. Khi người khiêng cáng chạy tới, Yeruldelgger đã có thông tin mà ông cần.
“Trong cốp xe có một cái xác cần chuyển vào nhà xác!”
“Người đó chết rồi à?” anh chàng khiêng cáng lo ngại hỏi.
“Vậy theo cậu thì sao?”
“Thế thì khỉ thật! Đây là lần đầu tiên với tôi!”
“Cậu không phải nhân viên khiêng cáng ở khoa cấp cứu à?”
“Phải, nhưng mới từ sáng nay thôi. Tôi là sinh viên Đại học Quốc gia,” anh ta vừa nói vừa hất hàm về phía Tây. “Đây chỉ là việc làm vào kỳ nghỉ.”
Yeruldelgger thậm chí chắng buồn tìm hiểu xem anh ta đang nói đến kỳ nghỉ nào. Ông ngẩng đầu lên, như để quan sát mấy tòa nhà của Đại học Quốc gia sát ở phía bên kia thành phố, rồi quyết định từ bỏ việc triết lý về số mệnh của một cậu thanh niên sinh ra tại Uliastay, sống tại Uliastay, học phổ thông tại Uliastay, học đại học tại Uliastay và kiếm tiền tiêu vặt bằng cách vận chuyển mấy gã say và người bị tai nạn ở Uliastay…
Cậu thanh niên giúp họ đưa xác Agop lên cáng rồi dẫn họ tới tận nhà xác. Yeruldelgger chặn anh chàng Kazakh lại bằng một cử chỉ rồi cho anh ta về nghỉ tới mười giờ sáng hôm sau để đưa ông ra máy bay.
Khi họ bước vào phòng trực, một phụ nữ thấp nhỏ béo tròn giật mình bật dậy trên ghế đằng sau bàn dành cho bác sĩ trực nơi cô ta đang ngồi đọc. Cô ta hướng về phía họ khuôn mặt bèn bẹt của một người nuôi bò Tây Tạng với đôi gò má bị gió bào mòn.
“Các người chưa được học gõ cửa à?”
“Cần phải hẹn trước sao?”
“Ông là ai mà nói năng với tôi như thế hả?”
“Tôi là cảnh sát. Tôi có một cái xác!”
“Tôi có thể ở lại chứ?” cậu sinh viên hỏi, đột nhiên trở nên quan tâm.
“Cậu học gì?”
“Quản lý môi trường.”
“Thế thì biến!” Yeruldelgger ra lệnh rồi nhìn cậu ta chuồn đi.
“Ông muốn gì?” người phụ nữ hỏi.
“Muốn biết tại sao người đàn ông này chết.”
“Ông báo cảnh sát chưa?”
“Tôi là cảnh sát, tôi nói với cô rồi!”
“Tôi nói tới cảnh sát ở đây cơ. Tôi chỉ biết họ thôi.”
“Thế Solongo, cô biết cô ấy không?”
“Tôi phải biết à?”
“Đó là bác sĩ pháp y trưởng thuộc đội cảnh sát hình sự Oulan-Bator.”
“Và bà bác sĩ pháp y trưởng ở Oulan-Bator muốn gì ở tôi?”
“Điều tương tự như tôi. Cho chúng tôi biết vì sao người đàn ông này chết.”
“Được, thế thì ông chỉ việc mang cái xác của ông tới cho bà bác sĩ pháp y của ông để bà ta xoay xở với nó. Tôi không phải tuân lệnh một kẻ ngồi mát ăn bát vàng ở thủ đô. Nói với bà ta, bà bác sĩ pháp y của ông ấy, rằng thời Xô Viết kết thúc rồi, và tôi còn việc khác phải làm ngoài tuân lệnh quý bà thích làm bộ làm tịch đó.”
“Tôi đoán là đọc sách ban đêm,” Yeruldelgger mỉa mai trong lúc cố kiểm soát cơn tức giận đang dâng lên.
“Phải, ông nói đúng đấy,” người phụ nữ cố tình khiêu khích ông và tiếp tục cố tình chúi mũi vào cuốn sách.
“Quả thực là cô có lý đấy, bà nội. Cô bác sĩ pháp y này đúng là bác sĩ pháp y của tôi. Cô ấy là vợ tôi, bạn đời của tôi, người phụ nữ tôi yêu, và khi có kẻ thiếu tôn trọng cô ấy, tôi cũng thường khó lòng kiềm chế bản thân, cô hiểu chứ? Và ông già tội nghiệp đang nằm kia, người mà truyền thống của tổ tiên yêu cầu cô phải kính cẩn chăm lo, tình cờ ông ấy cũng là bạn tôi. Và cô thấy đấy, cô đã quá ngạo mạn với hai người tôi yêu quý. Thế nên cô hãy chăm lo đến cái xác này, và tôi muốn biết vì sao người này chết. Có bác sĩ pháp y ở đây không?”
“Tôi phụ trách việc đó.”
“Thế thì tuyệt rồi, cô có thoải mái thời gian. Cô có thể dành cả đêm cho việc đó nếu cần.”
“Khỏi cần,” người phụ nữ cắm cảu trong lúc đuổi ông ra. “Quay lại đây sau bốn giờ nữa, tôi sẽ có kết quả.”
“Tôi đoán là chúng ta quá lạnh nhạt với nhau để cô cho tôi lời khuyên về một chỗ ăn tối tử tế nhỉ?”
“Đi mà ăn với quỷ!”