Thời Hoang Dã

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
# 1 …và đặt tay lên cò súng.

❊ ❊ ❊

Rụt cổ trong chiếc áo choàng lót lông có mũ, thanh tra Oyun cố gắng tìm hiểu tổng thể mọi việc. Cô ngồi xổm trên lớp tuyết lạo xạo và cúi xuống để nhìn cho rõ hơn. Cái lạnh rạch đứt hai bên đồng tử của cô, còn không khí giá buốt như cào xoang mũi mỗi lần hít vào. Cảm giác chẳng khác gì đang hít phải những mảnh thủy tinh vỡ. Xung quanh cô, thêm một dzüüd[1] khủng khiếp nữa bao trùm lên thảo nguyên trắng xóa. Đây là năm thứ ba liên tiếp nỗi bất hạnh trắng giáng xuống đất nước này. Những mùa đông lạnh giá vùng cực dài dằng dặc nối tiếp bằng những mùa hè nóng hừng hực quá ngắn ngủi. Những cơn bão tuyết kéo dài nhiều ngày khiến người ta không thể nhìn thấy cả căn lều, lạc lối để rồi đứng chết cóng khi chỉ cách lều có một mét. Rồi đến những ngày bầu trời xanh như sơn mài bị xuyên thủng bởi vầng dương nhỏ xíu trắng bệch chiếu lên một vùng đất đông cứng trong băng. Oyun không có chút ký ức nào về những dzüüd như thế trong tuổi thơ của mình. Lần đầu tiên cô còn nhớ là mùa đông năm 2001. Một mùa đông khắc nghiệt và kéo dài tới mức bảy triệu gia súc đã chết trên toàn quốc. Cô nhớ như in trong ký ức hình ảnh hàng nghìn người du mục, mới vài tháng trước còn đầy kiêu hãnh và cứng cỏi, bị đẩy dạt về thành phố để ăn xin và chết trong im lặng, rét cóng dưới cống ngầm ở Oulan-Bator. Đàn ông mất hết ngựa, phụ nữ mất hết bò và dê, trẻ con thì mất hết cừu non, thậm chí cả lũ cún con. Mùa đông năm đó đã cướp đi nhiều sinh mạng ở Mông Cổ hơn cả mấy chiếc máy bay đâm vào tòa tháp đôi ở Manhattan. Và trong hai năm tiếp theo, những dzüüd khác đã tàn sát nốt những gì còn lại của đàn gia súc yếu ớt. Đã từng có những nỗi bất hạnh đen, những mùa hè nóng như thiêu làm mặt đất nứt nẻ bị nung cháy đến tận tầng sâu, lẫn những nỗi bất hạnh trắng khi mà tuyết trùm kín thảo nguyên dưới một lớp vỏ băng giá. Hai nỗi bất hạnh khiến lũ gia súc bị bỏ mặc suốt mùa đông. Những con vật tản mát đi tìm thức ăn, lạc đàn, rồi chết vì đói và lạnh. Chỉ tới mùa xuân người ta mới tìm thấy hàng nghìn cái xác gầy trơ xương, bị tuyết làm chín cả da lẫn thịt. Thậm chí là hàng triệu, khi một dzüüd hội tụ trong nó nỗi bất hạnh còn lớn hơn cả hai nỗi bất hạnh đen và trắng.

Đống xác nhỏ là chỗ nhô lên duy nhất trong bán kính nhiều kilômét thảo nguyên xung quanh. Oyun tự hỏi điều gì có thể lý giải sự hiện diện của nó, nhưng tránh tìm câu trả lời ở phía chân trời. Không khí lạnh căm khiến đường viền của những chỏm núi trở nên rõ nét tới mức mắt cô nhức như bị xé. Cô tập trung vào đám xác chất đống. Người lính lái chiếc xe bọc thép cổ lỗ từ thời Liên Xô xuống khỏi buồng lái chiếc AT-L cũ kỹ rồi đi tới bên cô. Cô nghe thấy tiếng cửa đóng sập lại, đanh gọn như tiếng một thân cây rỗng bị gãy, rồi tiếng lạo xạo đều đều của tuyết bị ép lún xuống dưới đôi bốt anh ta đi. Không nói một lời, anh ta ngồi xổm cạnh cô, đưa cho cô một cái ca sắt tây rồi lấy bình giữ nhiệt từ trong cái áo vạt dài truyền thống chần bông.

“Ở trên cùng là một con bò Tây Tạng thuần hóa, cái này thì chắc rồi!” người lái xe xác nhận.

“Một con bò Tây Tạng thuần hóa hoặc một con bò lai,” Oyun chỉnh lại. “Người du mục ở đây chỉ có bò lai. Hiếm khi có bò Tây Tạng hoang dã.”

“Hoặc một con bò lai,” người lái xe nhượng bộ trong lúc xoay nắp chiếc bình giữ nhiệt giữa hai bàn tay đeo găng lót lông cừu to tướng.

Anh ta tự rót cho mình một ca trà bơ nóng bỏng trước khi mời Oyun một ca. Là bò thuần hay bò lai, điều đó cũng chẳng làm thay đổi gì nhiều. Cái xác bị phanh bụng của con vật phủ lên những cái xác khác. Băng bện thành những lọn lấp lánh các đốm sương giá trên bộ lông và trong bụng con vật. Con vật phủ phục, bốn chân xoạc ra, nom thật ghê tởm, phủ phần ruột gan đóng băng lên những thứ nằm dưới bụng nó. Ít nhất cũng không có mùi gì. Vào mùa hè, khi nhiệt độ ở cùng địa điểm lên tới hơn bốn mươi độ, đống xác chết này hẳn đã phả ra mùi xú uế không thể nào chịu nổi. Không khí lạnh giá khử trùng cho mọi thứ, kể cả nỗi kinh hoàng. Người lái xe cúi xuống để nhìn qua những rẻ sườn bị gãy của con vật, rồi lách một bàn tay vào giữa khối phủ tạng cứng đơ, rắn chắc…

“Bò cái!” anh ta nói. “Đây là con cái.”

“Cũng chả quan trọng!” Oyun vừa thở dài vừa bấu chặt ngón tay vào ca trà. “Thế còn bên dưới?”

“Bên dưới là một con ngựa,” người lái xe nói không chút do dự.

Có thể nhận ra điều đó nhờ những chiếc móng đóng vào bốn cái chân bị bẻ trật khớp nằm lẫn lộn với chân của con bò Tây Tạng. Phần thân con vật mà Oyun nhìn thấy có vẻ đã bị gãy ở lưng. Xác một con bò cái Tây Tạng bị phanh bụng phủ lên xác bị đánh gãy của một con ngựa, trong điều kiện âm hai mươi lăm độ và ở cách Oulan-Bator năm trăm kilômét, đây không hẳn là cuộc điều tra thuộc đội cảnh sát hình sự. Có lẽ cô sẵn sàng để lại vụ này cho cảnh sát địa phương. Thế nhưng lại còn cái chân đó. Một cái chân đi ủng, bàn chân vẫn còn mắc vào bàn đạp thúc ngựa, trồi ra giữa phần lưng đóng băng của con ngựa chết và cái bụng mở phanh của con bò Tây Tạng.

“Đó là người kỵ sĩ,” anh lính giải thích.

“Tôi hơi nghi ngờ chuyện đó,” Oyun đáp, hai bên hông đột nhiên đau buốt vì giá lạnh và mệt mỏi. “Vấn đề là tìm xem anh ta làm gì ở đó!”

“Anh ta đã ở trên lưng ngựa,” người lính nhận xét.

“Phải, và bây giờ anh ta ở dưới con bò!” nữ thanh tra bực bội. “Ta đã có manh mối gì về việc đây có thể là ai chưa?”

“Chưa,” người lính trả lời. “Ta mới chỉ có mỗi cái chân.”

“Và anh đã không tìm cách kéo anh ta ra để tìm kiếm manh mối sao?”

“Tôi là quân nhân,” người lính bật ra cụt lủn.

Oyun quay đầu nhìn anh ta chằm chằm không chút e dè. Yeruldelgger đã kể với cô về những người du mục trở thành viên chức nhà nước. Mọi điều tạo nên phẩm chất của người du mục cũng chính là hạn chế của người viên chức. Nhất là nếu anh ta lại là quân nhân.

“Dẫu sao cũng có thể thử tìm hiểu xem người này là ai, phải không?”

Oyun quỳ gối xuống tuyết mà không chờ câu trả lời, rồi nắm lấy chiếc ủng mà băng giá đã gắn chặt phần da vào bàn đạp. Cô cố kéo cái chân của xác chết ra nhưng không ăn thua. Cẳng chân, cứng đơ như một thân cây hóa thạch, không nhúc nhích lấy một li. Cô liền chống người tạo thành đồn bẩy, tì vai vào xác con bò, và trong lúc thực hiện hành động của mình, cô bắt gặp ánh mắt người lính. Anh ta không có vẻ tán thành việc cô làm.

“Sao hả?” cô bực bội, thở hổn hển vì gắng sức.

Cô vã mồ hôi dưới lớp áo khoác, trong khi hai lá phổi của cô như bị băng giá phủ kín từ bên trong. Cô không trong tâm trạng có thể chịu đựng vẻ uể oải cam chịu của người lính.

“Không nên làm thế,” anh ta lẩm bẩm chê trách.

“À vậy hả? Thế sao lại không?” nữ thanh tra vừa đáp lại vừa kéo cái chân như một tên tù khổ sai đẩy mái chèo.

“Vì băng giá.”

“Bởi vì anh tin là nó…”

Có thứ gì đó gãy rắc và Oyun ngã bật ra sau trong tiếng lạo xạo của tuyết bị đè bẹp. Khi cô nhổm dậy, khuôn mặt bị giá lạnh cứa vào, Oyun giật mình kinh hãi vội ném ngay cái cẳng chân ra xa.

“Tôi từng thấy những mùa dzüüd làm thân bạch dương bị đóng băng tới tận lõi khiến chúng trở nên giòn như thủy tinh,” người lính giải thích. “Thế nên một cái chân…”

“Tôi không tin chuyện đó!” Oyun vừa lẩm bẩm vừa nhặt cái chân đóng băng cứng giơ lên.

Cả xương lẫn da thịt bị bẻ gãy ngang đùi, cũng như phần vải của ống quần. Nó không còn chút đặc tính nào của một cái chân người.

“Ít nhất tôi cũng có thứ để yêu cầu xét nghiệm ADN…”

Cô nhìn lần cuối đống xác chết nhỏ, ngẫm nghĩ một lát, rồi ra hiệu bảo anh lính lại gần.

“Theo anh, chúng ta có thể chằng một sợi xích vòng quanh rồi dùng xe của anh kéo bật cả đống này lên được không?”

“Cô sẽ làm gãy con ngựa và có thể là cả người kỵ sĩ nữa…”

“Chúng ta không thể để anh ta lại đó suốt mùa đông được! Sớm muộn gì lũ thú ăn xác chết cũng tìm tới.”

“Cô có thể nán lại hai ngày không?”

“Ở đây á?” Oyun thốt lên.

“Ở chỗ tôi, tại đồn.”

“Làm thế sẽ giúp công việc của tôi tiến triển như thế nào?”

“Nếu cô muốn mang ba cái xác của cô về, cần rã đông chúng, và tôi biết phải làm thế nào.”

“Phải, tôi cũng đã nghĩ tới chuyện đó,” Oyun đáp. “Chúng ta có thể đốt lửa xung quanh…”

“Chúng sẽ không trụ được qua đêm đâu. Ở đồn có một chiếc lều cũ do những người du mục bỏ lại sau một mùa dzüüd. Chúng ta sẽ quây lều xung quanh đống xác. Rồi đốt hai hay ba lò than bên trong, và tôi có hai chiếc máy sưởi điện nhỏ. Tất cả sẽ tan chảy trong hai mươi bốn giờ. Cô có thể ra về với trọn vẹn anh chàng gãy chân của cô.”

“Này, nói năng tôn trọng một chút!” Oyun cắt ngang. “Đó là một nạn nhân.”

“Tôi đâu phải người đã bẻ giò anh ta!” người lính nói đùa.

“Đồng ý. Nhưng dù sao cũng tôn trọng anh ta. Tôi đủ hối tiếc về những gì mình đã gây ra cho anh ta rồi.”

“Cô không phải hối tiếc đâu, cô em. Cô giúp anh ta chán vạn ra rồi!”

“À thế sao?”

“Phải. Tổ tiên chúng tôi nghĩ rằng phải bẻ xương người chết để linh hồn họ có thể thoát ra. Họ để người chết ngoài thảo nguyên mà không chôn cất để cho thú hoang tới gặm xương và giải phóng linh hồn những người này.”

Oyun chợt nhớ Yeruldelgger từng kể cho cô nghe điều tương tự. Cô cũng nhớ lại tất cả những gì ông đã dạy cô về việc tôn trọng lều du mục.

“Nhất trí về chiếc lều, nhưng đừng xúc phạm các linh hồn từng sống trong đó.”

“Cô đừng có lo. Các linh hồn đã rời khỏi căn lều này từ lâu rồi. Hơn nữa chúng ta sẽ không bít kín các khe. Chúng ta chỉ phủ kín nó bằng mái lều lớn thôi. Linh hồn người xưa trú ẩn trong lớp dạ. Chúng ta sẽ không quấy quả họ.”

“Được,” Oyun đáp, cô bắt đầu thấy có cảm tình với anh chàng quân nhân ngày càng ít chất quân nhân và nhiều chất du mục này. “Tôi sẽ quay lại cùng anh. Tôi nợ nạn nhân cụt chân khốn khố này điều đó.”

Trước khi quay trở lại chiếc xe bọc thép, cô đưa mắt nhìn đống xác lần cuối, và người lính đoán ra điều cô đang nghĩ.

“Tôi từng thấy lũ bò Tây Tạng nhảy chồm lên như dê bất chấp trọng lượng của chúng. Người ta nghĩ chúng lờ đờ và điềm đạm, nhưng nếu bị săn đuổi, chúng có thể trở nên nhanh nhẹn và hung hãn. Người kỵ sĩ có thể đã đuổi theo con bò cái để bắt nó về chuồng. Có thể con ngựa của anh ta đã trượt chân, và thế là trong cơn hốt hoảng, con bò cái đã nhảy chồm tới đè lên anh ta trước khi anh ta kịp nhảy khỏi ngựa.”

“Và làm gãy lưng con ngựa sao?”

“Một con bò cái to có thể nặng tới ba trăm kí lô.”

“Nhưng nếu vậy thì vì sao con bò cái lại bị phanh bụng ra?”

“Chúng ta không biết người kỵ sĩ ở bên dưới là người như thế nào. Có khi anh ta có một cây urga. Có thể là cây sào buộc thòng lọng đã gãy trong cú ngã và con bò cái bị xuyên thủng bụng chăng?”

“Xuyên thủng bụng thì có thể, nhưng sao lại phanh toác bụng ra?”

“Có thể anh ta đã tìm cách dùng dao thoát ra trước khi chết ngạt vì đống nội tạng bò…”

“Không khớp!” Oyun bật ra.

Họ im lặng một lát, đứng sát vào nhau trong không khí giá buốt, nhìn đống xác.

“Hoặc là…,” cô lẩm bẩm mà không nói hết câu.

Người lính quay sang cô, rồi ngước mắt nhìn lên trời theo ánh mắt cô. Họ đứng đó một hồi lâu không nói gì, cố gắng tự thuyết phục bản thân về điều họ không dám hình dung ra.

“Một nửa khối lượng nhân với bình phương vận tốc,” cuối cùng người lính lên tiếng mà không cúi đầu xuống.

“Anh nói gì vậy?”

“½mv2. Động năng của một vật khi rơi tự do. Môn vật lý.”

“Anh cũng biết vật lý à?”

“Khi còn là một cậu nhóc, lúc ngồi trong lều vào mùa đông, tôi hay đọc sách về vật lý khi chẳng còn gì khác để làm.”

Oyun ngạc nhiên im lặng trước khi nhướng đôi lông mày lấm tấm băng giá lên.

“Thế thì sao?”

“Thế thì một con bò cái Tây Tạng gầy trơ xương sau dzüüd, nặng chừng hai trăm kí lô, sẽ tương đương với hàng trăm tấn khi va chạm. Đủ để làm gãy lưng một con ngựa.”

“Và người kỵ sĩ…”

“Và người kỵ sĩ!”

“Nhưng độ cao của cú rơi và vận tốc cũng cần được tính đến, phải không nào? Anh tính toán chúng thế nào?”

“Trước hết, cô bắt đầu với xuất phát điểm là xung quanh chúng ta chẳng có chỗ nào để con bò cái có thể từ đó nhảy xuống cả. Như vậy, nó chỉ có thể rơi từ trên trời xuống mà thôi. Mà cho dù trọng lượng của nó có là bao nhiêu đi nữa, khi rơi xuống từ một độ cao nhất định, không vật thể nào vượt quá vận tốc tối đa là khoảng ba trăm kilômét một giờ. Vật lý cả thôi mà!”

“Phải,” Oyun thốt lên trong khi nhìn anh ta với con mắt khác. “Vật lý cả thôi mà.”

Đột nhiên người lính trẻ lắc mạnh đầu, như thể vừa bừng tỉnh sau một thoáng lơ đãng vì khoa học.

“Được rồi, phải đi thôi nếu chúng ta muốn có đủ thời gian quay trở lại cùng cái lều.”

Anh ta định nắm lấy tay Oyun để giúp cô nhưng cô đã vùng ra bằng một cử chỉ quyết liệt khiến anh ta ngạc nhiên, rồi đi vượt lên trước anh ta trên mặt tuyết dày. Chiếc xe bọc thép là một cỗ xe kéo pháo cũ kỹ từ thời Thế chiến thứ Hai mà quân đội Xô Viết đã thải ra từ đầu những năm 1960. Nó có phần đầu đúng kiểu xe tải lớn cứng cỏi thích hợp với công việc, mũi xe thuôn dài sao chép từ xe tải Mỹ và kính chắn gió gồm ba ô kính có thể tháo rời mang lại cho chiếc xe bộ dạng của một anh chàng đeo kính bướng bỉnh. Buồng lái chật chội đúng kiểu Nga nằm kẹp giữa phần ca pô động cơ dài thượt và thùng xe nhỏ gắn đằng sau. Toàn bộ thân xe nằm trên hai dãy gồm năm bánh lăn thụ động và hai bánh truyền động nhỏ hơn nằm cao hơn ở hai đầu, mỗi dãy bánh được bó trong một vòng xích kim loại. Oyun tự hỏi ai đã cố tình sơn trắng cho chiếc xe để nó hòa lẫn vào tuyết như vậy. Cô cũng tự hỏi liệu có phải anh chàng lính thông hiểu vật lý này đang có một ý tưởng cũng hoàn toàn vật chất[2] về cô hay không khi giữ cửa xe để giúp cô leo vào trong buồng lái. Thêm một lần nữa cô gạt cánh tay anh ta ra, và điều này khiến anh ta nhếch mép cười.

“Nhân tiện đây,” anh ta hỏi, “ai đã báo cho cô biết vậy? Tôi thậm chí còn chưa báo cáo cho chỉ huy, và tôi chỉ chờ một tay cảnh sát địa phương ghé thăm thôi. Tôi rất ngạc nhiên khi nhận lệnh tới căn cứ đón cô.”

“Tôi không biết,” Oyun thú nhận. “Chúng tôi nhận được một cuộc gọi đến Sở Cảnh sát. Một tin nhắn kèm theo bức ảnh chụp đống xác…”

“Đám smartphone chết tiệt! Giờ thì đám dân du mục bắt đầu gọi thẳng đến Oulan-Bator cơ đấy!” anh lính vừa thở dài vừa lắc đầu. “Mặt khác, dẫu sao tôi cũng có lời…”

“Thế là sao?”

“Cô thay cho một tay cảnh sát địa phương, dẫu sao vẫn hay hơn, phải không nào? Dù với chiếc áo khoác của cô, ta chẳng thấy khác biệt mấy…”

Oyun lựa chọn không trả lời. Sẽ mất một giờ để đi đến đồn quân sự, và cô nhanh chóng lo lắng cho khả năng cầm cự của chiếc xe bọc thép kéo pháo dò dẫm chạy đâm chúi xuống dưới các đống tuyết như một con bọ hung mù thay vì nghiến bẹp chúng.

“Nó sẽ thọ hơn chúng ta đấy!” anh lính trấn an cô rồi phá lên cười.

“Làm thế nào anh có thể chắc vậy được?” Oyun hoài nghi, vai cô va vào cửa kính mỗi lần chiếc xe bọc thép giật lên.

“Tôi đã tháo ra rồi lắp lại toàn bộ cái xe này, từng con ốc một, từng chiếc vít một!” anh ta trả lời, giả giọng khiêm tốn.

“Toàn bộ sao?”

“Tuốt! Thùng xe, động cơ, xích, tất tần tật! Tôi đã mất cả một mùa hè.”

“Đừng nói với tôi là…”

“Có đấy! Khi còn là một cậu nhóc, vào mùa đông, sau đống sách vật lý, tôi đọc những cuốn sách về cơ khí khi chẳng có việc gì khác để làm,” anh ta giải thích không chút khoe khoang.

Oyun tư lự nhìn người lính đang cầm vô lăng. Chiếc xe của họ được chế tạo cho chiến tranh chứ không phải cho du lịch. Không có hệ thống sưởi trong buồng lái. Cả hai người đều bọc kín mít trong chiếc áo khoác dày sụ, mũ lông đội sụp xuống tận mắt và dải mũ lót lông kéo xuống che kín tai. Nhưng điều cô cố gắng hình dung về anh ta, đó là người lính trơ trọi một mình trong cái đồn heo hút giữa thảo nguyên, dưới ánh mặt trời nóng hầm hập, bị thiêu đốt bởi những cơn dông khô[3] mùa hè, dựa vào đâu mà lại bắt tay tháo tung tới tận con ốc vít cuối cùng một chiếc xe bọc thép kéo pháo mẫu năm 1939 của quân đội Xô Viết nhỉ? Một con người tính cách thế nào mới có thể tự nguyện bắt tay vào một việc vô tích sự đến thế? Cô lại nghĩ tới cuốn tiểu thuyết Ý mà Yeruldelgger từng khuyên cô đọc trong một lần mai phục. Sa mạc của ai-đó-cô-chẳng-biết-nữa. Có lẽ là của những người Tartar. Những con người lạc lõng ở biên giới nào đó chờ đợi một thứ gì đó. Cô hình dung như vậy về anh lính trẻ, người tháo ra rồi lắp lại chiếc xe của mình để đánh lừa cảm giác buồn chán. Và thỉnh thoảng lại hướng ánh mắt lo lắng về phía chân trời để xác nhận rằng không bao giờ có gì tới, giống như một khao khát bị kìm nén…

Họ về tới đồn muộn hơn một chút so với dự kiến. Đó chỉ là một trong những khu nhà tiền chế đồ sộ với một cột cổng tua tủa ăng ten mà chế độ Xô Viết đã rải khắp đất nước như những lính canh đi lạc. Oyun lập tức nhảy xuống khỏi buồng lái để chạy vào đồn. Người lính chạy tới mở cửa cho cô, và cô lao vào trong. Ngày đã tàn. Nhiệt độ lúc này chắc hẳn đã tụt xuống tới cỡ âm hai mươi lăm độ. Hơi ấm làm cô ngộp thở ngay từ lối vào, thế nên cô vội cởi mũ và găng tay để không cảm thấy khó chịu. Ở bên phải, một căn phòng vừa là phòng làm việc, vừa là nhà xưởng và nhà bếp. Bên trái, cô đoán là một phòng ngủ khắc khổ kiểu nhà binh. Và ngay trước mặt cô, không có cửa, là một phòng tắm nhỏ mở toang thô thiển. Một bồn tắm kiểu cũ nằm dưới bình nước nóng chạy điện to tướng có bọc cách điện, bên cạnh là bồn cầu. Và để đảm bảo riêng tư, một tấm rèm bằng nhựa trong mờ được mắc lên cái ống mạ crom cũ đã hoen gỉ. Trong mỗi phòng rù rù một chiếc lò sưởi điện lớn đã bật nóng đến sáng trắng.

“Bảnh lắm!” Oyun giễu cợt trong lúc cởi khuy áo khoác.

“Đủ dùng!” anh lính trẻ chữa lại.

“Có Internet không?”

“Khi nó muốn hoạt động, nhưng tối nay thì sẽ là quá muộn. Bảy phút nữa máy phát điện sẽ dừng.”

“Thế còn cái lều?”

“Không còn thời gian đi dựng nữa, nhưng dẫu sao tôi cũng sẽ tới chỗ đóng trại gần nhất và đảm bảo là ngày mai chúng ta sẽ có trợ giúp. Tôi sẽ quay về sau một giờ nữa.”

Oyun tin rằng cô đã nhận thấy có chút thú vị trong giọng nói của chàng lính.

Cô quyết định làm rõ mọi chuyện ngay lập tức.

“Đừng trông đợi tôi chuẩn bị bàn ăn nhé, đồng đội. Tôi quả thực không phải loại phụ nữ đó đâu!”

“Không vấn đề gì,” anh ta vừa đáp vừa phá lên cười, “tôi quả thực cũng không phải loại đàn ông đó. Nhân tiện, từ sáng đến giờ vẫn chưa có ai dùng chỗ nước nóng còn trữ lại đâu. Cô hãy tranh thủ tắm cho thoải mái. Một giờ, chắc thế là đủ với kiểu phụ nữ như cô, phải không?”

Khi Oyun nghe thấy tiếng động cơ gầm lên, cô lắng tai dõi theo nó cho tới khi hình dung ra chiếc xe bọc thép mất hút trong màn đêm đã buông xuống. Thế là cô khóa cửa, kiểm tra để chắc chắn là các cửa sổ đã đóng rồi xả nước nóng giãy vào bồn tắm. Khi đã cởi hết quần áo, ánh mắt cô bắt gặp hình ảnh thân thể bầm giập của mình trong gương. Hai bên vú cô vẫn hằn dấu những vết sẹo do bị cắn. Những vết đứt dài mãi mãi in hằn trên hai vai và hai bên sườn cô. Và ngay trên vú trái, cô đưa ngón tay lần quanh vết sẹo nhỏ nơi viên đạn bắn vào để giết cô. Cô tranh đấu không để ký ức về vụ cưỡng bức nhận chìm mình lần nữa. Sau đó cô ngồi vào làn nước nóng hổi và không có xà phòng, rồi gập chân trượt người xuống cho tới khi nước nóng ngập gáy và hai vai. Cô hẳn đã có thể ngủ thiếp đi, song kể từ ngày hôm đó, cô không còn dám nhắm mắt lại khi ở bên ngoài nhà mình vì sợ sẽ thấy lại những khuôn mặt của lũ khốn kiếp[4].

***

Tiếng động cơ kéo cô ra khỏi trạng thái mơ màng. Cơn mệt mỏi và niềm hạnh phúc bất ngờ của một chầu tắm nước nóng đã khuất phục những ám ảnh lo ngại của cô. Cô đã thiếp đi. Cô nhảy ra khỏi bồn tắm, nước chảy ròng ròng, vớ lấy một chiếc khăn tắm, thu nhặt quần áo, rồi chạy tới giam mình trong phòng ngủ. Nhưng cánh cửa đã lạch cạch đập vào khung cửa rồi bật mở rộng ra đúng lúc anh chàng lính bước vào. Một luồng gió giá buốt thốc những xoáy tuyết vào trong nhà và quấn quanh thân hình trần trụi của Oyun rồi biến mất khi người lính đóng sầm cửa lại bằng cú đạp gót chân mà không rời mắt khỏi thân hình cô gái trẻ.

“Sao hả?” cô rít lên, không hề tìm cách che người.

“Tất cả những vết sẹo này…”

“Chẳng là gì cả. Không có gì liên quan tới anh,” cô thủ thế đáp.

“Ai đã làm cô ra thế này?”

Anh ta nhìn cô không chút ngại ngùng, và cô không hiểu vì sao mình lại để mặc anh ta làm thế. Oyun không hề tìm cách che giấu thân hình trần truồng của mình và nghĩ rằng đó là vì cô tức giận. Vì cô đang khiêu khích.

“Cái đó thì có thể ảnh hưởng gì tới anh hả?” cô gắt lên, không kiềm chế nổi cơn phẫn nộ.

“Chẳng khó để đoán chuyện gì đã xảy ra với cô.”

“Chẳng ai biết chuyện gì đã xảy đến với tôi cả!”

Anh lính tháo đôi găng tay và bỏ mũ ra mà không rời mắt khỏi thân thể Oyun. Anh ngắm nhìn cặp vú, đôi hông, vùng bụng, tất cả những dấu ấn của một quá khứ đầy bạo lực. Khi cởi khóa kéo bộ đồ áo liền quần dày sụ để chui ra khỏi đó, anh vẫn tiếp tục ngắm nhìn cô.

“Phải,” anh ta nói, “tôi đoán là tôi không thể hiểu những gì cô đã trải qua…”

“Đó là quá khứ, nó chấm dứt rồi!”

“Cái đó thì không hề thấy trên thân thể cũng như trong mắt cô!” anh ta vừa trả lời bằng giọng bình thản vừa tiến về phía phòng ngủ.

“Đừng có lại gần và đóng cái cửa này lại!” Oyun ra lệnh.

“Cô thấy rõ là nó không còn then cài còn gì!” anh ta vừa nói vừa tiến thêm một bước nữa.

“Đừng có lại gần!” Oyun vừa đe dọa vừa rút súng từ trong mớ quần áo cô vẫn đang kẹp dưới cánh tay.

“Nếu không thì sao?” người lính vừa thách thức cô vừa cởi áo len qua đầu.

Anh ta bước tới thêm một bước nữa và ở gần tới mức cô gí nòng súng vào trán anh ta.

“Nếu không tôi giết anh!”

“Cô giết tôi ấy à? Vì sao?”

“Vì tôi đã tự hứa với mình sẽ giết tất cả những kẻ nào đụng vào người tôi mà không có tình yêu.”

Anh lính mỉm cười rồi cởi cúc cổ áo sơ mi, và tì trán mạnh hơn một chút vào nòng súng kim loại, và lần này nhìn thẳng vào mắt Oyun. Cô đáp lại ánh nhìn của anh ta và đặt ngón tay lên cò súng.

❀ ❀ ❀

[1] [^b1]: Cách người Mông Cổ gọi mùa đông lạnh đặc biệt khắc nghiệt.

[2] [^b2]: Nguyên văn tiếng Pháp là “physique”, có thể hiểu là “vật lý”, “vật chất” hay “xác thịt” tùy ngữ cảnh, ở đây tác giả chơi chữ.

[3] [^b3]: Dông diễn ra trong thời tiết nóng dữ dội tới mức phần lớn hoặc toàn bộ nước mưa bị bốc hơi trở lại trước khi kịp rơi xuống đất, do đó sét do những cơn dông khô này có thể gây cháy cây cỏ dưới đất ở diện rộng vì không có nước mưa dập tắt đám cháy.

[4] [^b4]: Xem Công lý thảo nguyên, Nhã Nam, 2016.

Lê Đình Chi dịch • Les Temps Sauvages • (Yeruldelgger, #2)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Ian Manook

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.