Thời Hoang Dã

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
# 36 … trong thành phố đang hấp hối này.

❊ ❊ ❊

Những ngày huy hoàng của Krasnokamensk có được là nhờ nhà tù YaG 14/10, nơi Putin tìm cách bẻ gãy sự chống cự của nhà tài phiệt Mikhaïl Khodorkovski từ tháng Mười năm 2005. Nhưng đồng thời với việc cả thế giới biết đến nó, thành phố bị cô lập với phần còn lại của thế giới, để làm nản lòng các nhà hoạt động, luật sư và nhà báo. Chính thức mà nói chẳng có khách sạn nào để đặt phòng trong thành phố có sáu mươi nghìn dân này. Krasnokamensk nằm cách biên giới Mông cổ một trăm ba mươi kilômét, cách Oulan-Bator gần một nghìn kilômét theo đường chim bay, Yeruldelgger không tìm được bất cứ chuyến bay thẳng nào tới đó. Phải mất từ mười tám tới bốn mươi ba giờ với hai lần đổi máy bay và quá cảnh qua Trung Quốc. Không dưới hai mươi bảy giờ nếu trung chuyển qua Moscow. Và nhánh đường sắt xuyên Siberia chạy tới thành phố này phải mất một giờ dừng tại Urunlunguy. Lý do chính thức là để tách các toa tàu sẽ tiếp tục hành trình tới Priargnik. Còn kỳ thực là để kiểm tra từng hành khách phiêu lưu tới tận Krasnokamensk.

Nhưng ai lại muốn nấn ná ở thành phố này, cho tới lúc đó vẫn được biết đến vì cái mỏ uranium, khu mỏ lớn nhất nước Nga làm xung quanh ô nhiễm phóng xạ ở mức cao hơn hai mươi lần các giới hạn cho phép, khi giờ đây Khodorkovski đã được chuyển đi giam giữ ở nơi khác?

Yeruldelgger đã tới đó, sẵn sàng tìm lại Ganshü. Ông mất bốn ngày đi đường. Đầu tiên là từ Oulan-Bator tới Oulan-Oude, thủ đô nước cộng hòa Bouriate, nhưng trước hết là thủ phủ của Phật giáo Tây Tạng tại Nga. Trong thành phố cũ kỹ với những ngôi nhà cổ xây bằng đá và gỗ được chạm trổ tinh xảo dùng làm cửa hàng, nơi sông Ouda hợp lưu với sông Selenga, ông đã được một người của chùa Ivolguinsk, nơi tọa lạc nhiều thiền viện, bảo tàng và cả đại học Phật giáo, tiếp đón. Sau đó, ông đi tàu tới Tchita, cách đó bốn trăm kilômét và một ngày rưỡi đi đường. Yeruldelgger giờ đây kiên nhẫn đứng xếp hàng, đặt niềm tin vào lời giới thiệu của các nhà sư tại Oulan-Oude. Ông đi qua nhiều chặng kiểm tra khác nhau mà không thực sự hiểu ai kiểm tra cái gì. Cảnh sát, hải quan, quân đội, mỗi thứ đồng phục lại bổ sung thêm vẻ dửng dưng hay hống hách vào quy trình. Ông phải mất một giờ để tiếp tục lên tàu. Chính thức mà nói, ông đang đi thanh tra trụ trì các chùa trong vùng, dù chẳng hề tồn tại ngôi chùa nào xứng với tên gọi này ở nơi ông tới. Ở miền Đông Nga thời hậu Xô Viết đang rã rời này, trong khi ở phía Tây một nước Nga mới đang được xây dựng, bí ẩn của tôn giáo thế chỗ cho nỗi sợ chính quyền. Giờ đây, khi các tôn giáo không còn là ma túy của dân chúng và đã sống sót qua được những nỗ lực xóa bỏ thời Bolshevik, các tu sĩ đã lại trở thành nhóm người thiêng liêng mà số đông những kẻ trần tục, nhất là những ai mặc đồng phục, luôn lưu tâm để không động chạm đến. Vì mê tín.

Tuyến đường sắt không được điện khí hóa và đoàn tàu ì ạch bò tới Krasnokamensk qua một quang cảnh như vào ngày hôm sau cuộc chiến. Yeruldelgger nhanh chóng không thể rời mắt khỏi cảnh hoang tàn này. Những đồng bằng và những khu rừng bị tàn phá, ngạt thở vì xỉ thải. Những nhà máy mọc lên ở bất cứ chỗ nào, như lũ côn trùng khổng lồ quái gở gặm xé mặt đất lở loét. Việc xây dựng thành phố đã được quyết định vào cuối những năm một chín sáu mươi, trong khi giới trẻ phương Tây khám phá lại bãi cát dưới các vỉa hè[1], và được thực hiện bởi các đội cộng sản tình nguyện được phái đi để xây dựng Thành phố Đỏ của Uranium. Tiếp theo là những đoàn tàu kỷ luật chở các quân nhân cứng đầu cứng cổ, rồi đến những tù nhân cam chịu. Và thành phố, cấm cửa với người lạ, kể cả người lạ tới từ trong nước, nhân danh bí mật chiến lược, bị che kín hoàn toàn dưới nắp vung kiểm duyệt. Yeruldelgger kinh hoàng ngắm nhìn thứ mà quê hương Mông cổ của ông có thể trở thành. Trong những khu rừng bị chặt hạ, ông hình dung ra thảo nguyên quê mình chi chít những khu mỏ lộ thiên. Trong những khu nhà dựng bằng gỗ tạp là chỗ sinh sống của lớp người cùng khổ trắng tay, ông nhận ra cư dân của các khu lều tại Oulan-Bator, nơi những người bà già nua ngày một héo hon trong khi cánh du mục già chìm nghỉm trong vodka lậu của Trung Quốc. Và cũng vẫn là những khối nhà kiểu Xô Viết đang tàn tạ dần giữa những con đường xập xệ và những con phố lổn nhổn ổ gà. Ông cảm thấy tâm hồn mình căng lên vì một nỗi chán chường khủng khiếp.

Đột nhiên đoàn tàu rung lắc khiến ông va vào cửa kính. Đoàn tàu tròng trành chạy chậm lại và rít lên ken két trên nhánh ray đổi hướng. Những đường ray chạy tỏa ra theo hình nan quạt nằm lẫn giữa cây cỏ để chạy tới tận bức tường kín mít của khu nhà xưởng bỏ hoang. Ông đang cố hiểu xem vì sao họ đi vào thành phố từ phía Bắc thì đoàn tàu đột ngột dừng khựng lại. Nó không đi xa hơn nơi mà ông cho là một nhà kho bỏ hoang, mà kỳ thực chính là ga cuối. Một cảm giác bị bỏ rơi nặng nề hẳn đã nhận chìm trái tim của anh chàng Khodorkovski nọ khi anh ta phát hiện ra mình đã bị đày tới nơi nào, sau năm ngày bị bí mật đưa đi trong một toa tàu không có cửa kính.

“Xéo về nhà mày đi, thằng Trung Quốc!” một người đàn ông vội vã vừa xô đẩy ông vừa gắt lên.

“Cút đi!” Yeruldelgger đáp lại bằng tiếng Nga.

Ông trấn tĩnh lại rồi băng qua các tuyến đường ray không có ke ga cho đến khi tới một nơi rốt cuộc cũng giống một nhà ga thời Xô Viết. Ông băng qua và tìm một chiếc taxi. Người đàn ông đề nghị đưa ông đi khẳng định là ông ta lái taxi và Yeruldelgger chấp nhận tin như vậy vì ông ta đi xe Toyota.

“Tôi đã mua nó mới tinh!” người lái chiếc xe hai cầu không có đồng hồ tính tiền tự hào tuyên bố. “Tôi đã rời bỏ khu mỏ từ lâu rồi. Tôi không giống đám người u mê này! Tôi bán gỗ. Tôi bán gỗ cho đám Trung Quốc. Ở bên họ, họ cần gỗ để đóng đồ vì đã chặt trụi hết cả cây trong nước. Gỗ cho phép kiếm khá. Hơn nữa ông sẽ không ngỏm khi mới bốn mươi vì nhiễm xạ như đám làm việc ở khu mỏ!”

“Tôi tưởng ở đây buôn bán gỗ là chuyện độc quyền của mafia?” Yeruldelgger ngạc nhiên hỏi trong khi nhìn chăm chăm vào người đàn ông qua gương chiếu hậu.

Người đàn ông đón nhận ánh nhìn của ông với ánh mắt đột nhiên đầy ngờ vực và cứng rắn.

“Ông là ai hả?”

“Ông không cần phải biết. Đưa tôi đến nơi tôi đã bảo ông và thôi ba hoa đi.”

Họ đi qua một thành phố Xô Viết tàn tạ, với những tòa nhà được trang hoàng bằng mấy bức tranh tường to tướng kiêu hãnh đầy giả tạo, vinh danh những thợ mỏ đang chết dần mòn dưới các hầm mỏ.

“Ông chắc địa chỉ đúng chứ?” người lái xe hỏi.

Họ rời khỏi thành phố qua những khu đất trống, hướng về phía một khu nhà gỗ.

“Tôi hy vọng ông không tới đây vì Khu Tám đấy chứ?”

“Khu Tám là gì vậy?”

“Ông không biết như vậy thì tốt hơn.”

“Đó là nơi Khodorkovski bị giam à?”

“Mẹ kiếp, ông đến đây vì ông ta sao?”

“Tôi mặc xác gã đó cũng như chính trị của các người. Tôi đến vì các nhà sư, tôi đã nói với ông rồi.”

“Chẳng có thiền viện Phật giáo nào ở Krasnokamensk cả. Ở đây có một siêu thị tiện ích, ba quán cà phê Internet, một máy ATM, nhưng chẳng có thiền viện nào.”

“Chính vì thế mà tôi có mặt ở đây. Oulan-Oude dự kiến xây dựng một thiền viện.”

“Và tại sao Oulan-Oude lại mời một người Mông Cổ để xây dựng thiền viện tại Krasnokamensk vậy?”

“Bởi vì ở Mông Cổ tôi thuộc cộng đồng Đệ thất Thiền viện, và chúng tôi dự kiến tham gia tài chính và giảng đạo.”

“Không biết Đệ thất Thiền viện.”

“Càng tốt cho ông.”

Chẳng mấy chốc họ đã tới khu vực hẳn là giống với trung tâm một thành phố cũ của cánh thợ săn. Tài xế chỉ cho ông lối đi hẹp ở phía bên kia bãi trống lầy lội, rồi giải thích rằng ông ta không muốn mạo hiểm chạy chiếc Toyota của mình vào đó. Yeruldelgger băng qua bãi trống rồi tiến vào con hẻm. Khi quay lại nhìn, ông trông thấy tay lái xe ở phía bên kia bãi trống. Ông ta không hề rời mắt khỏi ông trong khi trao đổi tiền với một tay đàn ông khác mà ông ta đã gọi từ trong xe của mình, điện thoại di động kề sát tai kẹp vào vai.

Người đàn ông tới đón Yeruldelgger đã nhận được yêu cầu từ một vị sư có địa vị quan trọng tại ngôi chùa ở Oulan-Oude. Người này sẵn sàng tuân theo ý muốn của ông, đầy sợ sệt và kính cẩn. Yeruldelgger hiểu rằng đây không phải là một nhà hoạt động hay một chiến binh. Chỉ là người chủ nhà trọ. Ông lấy phòng, chẳng tiện nghi hơn một buồng giam là bao, rửa ráy bằng nước lạnh, rồi cho phép mình hai giờ nghỉ ngơi trước khi bắt tay vào tìm kiếm Ganshü trong thành phố đang hấp hối này

❀ ❀ ❀

[1] [^b19]: Ám chỉ câu khẩu hiệu “Sous les pavés, la plage!” (Dưới các vỉa hè, bãi cát!) của thanh niên Pháp khi xuống đường biểu tình tháng Năm năm 1968.

Lê Đình Chi dịch • Les Temps Sauvages • (Yeruldelgger, #2)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Ian Manook

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.