Thời Hoang Dã

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
# 8 … cho vị thanh tra Yeruldelgger kỳ dị kia.

❊ ❊ ❊

Giáo sư Boyadjian đã chứng kiến ba người đàn ông giải Yeruldelgger đi. Có điều gì đó ở họ khiến ông không ưa. Khi cả đám đi khuất, cái lạnh lại bao trùm ông và ông quay vào trong bảo tàng uống một hơi artz nữa. Ông nghĩ tới viên cảnh sát mà mới hôm qua ông còn chưa biết, và ngay từ đầu đã tỏ ra rất dễ mến. Ông còn thấy có cảm tình với ông ta hơn từ khi mấy tay cảnh sát khác tới tìm ông ta để giải đi chẳng khác gì một băng du đãng hẳn sẽ làm với một đồng bọn chỉ điểm hay phản bội. Boyadjian vốn là người gốc Armenia. Gia đình ông đã bị Stalin trục xuất tới Siberia. Bố ông, người duy nhất sống sót trong cả gia đình, đã trốn khỏi goulag tới tị nạn ở Mông cổ, rồi sau đó bị đẩy tới tận phía Nam đất nước mênh mông này để thoát khỏi sự truy lùng của Chế độ Trước. Nhưng thay vì dạt tới chỗ những người ủng hộ Mao ở Trung Hoa, bố ông đã quyết định làm mình bị lãng quên bằng cách tới sống dưới chân dãy núi Gurvan Saikhan. Chính tại đó, Agop Boyadjian đã chào đời, từ tình yêu nồng cháy giữa một cô gái trẻ Mông cổ với người cha già nhưng vẫn còn mạnh mẽ của ông. Vì Chế độ Trước cấm mang họ, bố ông và ông phải ẩn mình sau cái tên riêng Mông cổ cho tới khi nền dân chủ hình thành vào những năm 1990. Khi bố ông qua đời, ông đã lấy lại họ tên Armenia của mình và chưa từng có ai đặt dấu hỏi về quốc tịch Mông Cổ của ông.

Nhưng ông đã chọn ngọn núi khác để bắt đầu cuộc đời của một kẻ sống sót.

Ông ngả lưng xuống chiếc phô tơi cũ bọc nhung, trong không gian ấm cúng giữa những bức tường đầy ắp sách và hiện vật. Anh chàng Yeruldelgger kia rồi sẽ ra sao? Điều gì đó không thể cứu vãn chăng? Anh ta khiến ông nhớ tới bố mình, tự hào chết trong kiêu hãnh, được tôn trọng và cô độc, chỉ có một mình, không gia đình, không tổ quốc. Bố ông đang trong một chuyến đi ở châu Âu khi bị tuổi tác đoạt mất phần đời còn lại.

Cuộc sống chỉ là một chuỗi dài mất đi tất cả những gì ta yêu quý, Hugo đã viết như thế. Yeruldelgger sẽ còn mất gì nữa? Liệu chuyện này có liên quan gì tới cái xác trên núi không? Ông đã nói dối để rút ngắn chuyến đi tới hiện trường của họ. Tới chỗ cái xác không phải là việc bất khả thi. Suốt thời tuổi trẻ của mình trên các ngọn núi ở Gurvan Saikhan, rồi sau đó ở châu Âu trong thời gian đi học, người đàn ông Armenia này đã leo lên nhiều sườn núi và vách đá. Ông không phải là vận động viên leo núi, ông không leo núi: ông trèo. Vách đá đó không đem đến chút cuốn hút nào cho một người đam mê. Kể cả một người nghiệp dư. Chỉ có điều kiện thời tiết khiến việc leo lên đó trở nên khó khăn, song ông đã nói dối Yeruldelgger và thấy hối tiếc về điều đó. Sẽ chẳng mấy khó khăn để tới được chỗ cái xác. Ông uống cạn một ly artz khác rồi đứng dậy đi tới tận cửa sổ. Trăng tròn tỏa ngập thứ ánh sáng trắng lóa ra khắp đường chân trời phủ đầy tuyết, vẻ đẹp siêu nhiên của quang cảnh làm trái tim ông xúc động. Mỗi con người, trong đêm tối của mình, đều hướng tới ánh sáng của anh ta! Ông yêu biết chừng nào câu thơ này của Hugo, và hôm nay cuối cùng ông cũng sắp được trải nghiệm nó! Ông đặt cái ly xuống một chiếc giá rồi đi về phía kho xép nơi ông cất giữ đồ.

Ông đi bộ hơn một giờ đồng hồ, được tháp tùng bởi con bò Tây Tạng trầm mặc, đối tượng được ông tìm cách chứng tỏ cho thấy triết học của các nhà Khai sáng bắt nguồn từ một chủ nghĩa nhân đạo thế tục. Dưới ánh trăng huyền diệu, hơi thở của cả người lẫn bò hòa vào nhau thành những vòng hơi nước mong manh, ông giải thích với con vật điềm tĩnh rằng không được trông chờ gì từ con người, như Voltaire đã viết, mà chỉ đơn giản là làm cho họ tất cả những gì tốt đẹp trong khả năng của chúng ta.

Ông tới chân mỏm đá và vừa đeo trang thiết bị lên người vừa tiếp tục triết lý với con bò. Rồi ông vừa leo lên vách núi vừa tạ ơn thiên thể đang soi sáng lên lớp băng phản chiếu ánh sáng của nó. Trong cái rét cắt da, những nhát bổ gậy cuốc của ông lên đinh khuy leo núi vang lên chan chát không hề có tiếng vọng. Ông đột nhiên chìm trong cơn say của một cuộc leo núi tuyệt vời và tự chúc mừng mình vì đã không chờ tới sáng. Âm hai mươi lăm độ thay vì âm ba mươi lăm độ sẽ chẳng có gì là khác biệt. Và thứ mặt trời trắng sữa trên nền trời xanh lấp lánh nào có thể sánh nổi với sự huyền diệu của thiên thể như viên ngọc mắt mèo này giữa đêm tối vô tận chứ?

Ông phải mất đến hai giờ đồng hồ để lên tới chỗ cái xác. Ông đu mình lên đứng thăng bằng trên một sống đá nhọn rồi lấy từ trong áo ra một chiếc đèn. Cái xác vẫn mặc chiếc áo trượt tuyết, còn cái đầu vỡ nát thì đội mũ vải bông màu xanh như các thủy thủ hay binh lính thường đội. Quần áo nạn nhân khiến người ta nghĩ tới một bộ đồ quân nhân, song lại không hề giống quân phục thực sự. Có lẽ là tay thợ săn đi rình con mồi hay một thợ ảnh chụp động vật đang ẩn nấp. Nhưng dù có phải là quân phục hay không, người này cũng không mặc đủ ấm để sống sót nổi dù chỉ một đêm trong mùa đông này. Tất cả tứ chi nạn nhân đã bị gãy do va vào đá, và cái chân bị Voltaire giật mất xương đùi thõng xuống, cứng đơ và rắn chắc, ở đầu một búi cơ đóng băng. Trong những mảnh quần áo còn lại, ông chỉ tìm thấy một chiếc bật lửa nên nhét vào túi bộ áo liền quần của mình. Rồi ông ngẫm nghĩ xem nên đưa cái xác xuống bằng cách nào. Ông không thể quyết định ném cái xác xuống rồi nhặt nó dưới chân vách đá được. Ông tìm thấy một khe đá ở khá cao phía trên đầu, liền cắm vào đó một cái móc có khoen. Ông tròng dây an toàn vào đó để tụt xuống vài mét ở bên cạnh rồi luồn một sợi thừng vào dưới cái xác. Ông lặp lại nhiều lần việc này rồi ngồi nghỉ sau nỗ lực của mình. Lúc này, những đám mây tụ lại quanh mặt trăng và ông phải gồng mình lên để không buông xuôi chiêm ngưỡng phong cảnh. Ông cảm thấy say sưa trước sự táo tợn của mình và những muốn tận hưởng lâu hơn, nhưng lúc này thời gian đang thúc giục và điều kiện thực tế sẽ nhanh chóng thay đổi. Ông buộc tất cả các sợi thừng vào một sợi thừng khác, dài hơn, rồi móc nó qua khoen và dồn sức kéo để lôi cái xác lên khỏi kẽ nứt. Ông phải nỗ lực nhiều lần để phá vỡ lớp băng gắn chặt cái xác vào nền đá. Giờ ông sẽ có thể đẩy cái xác cho nó treo ở đầu dây, rồi dồn sức vào hai cánh tay để hạ xuống từ từ. Nhưng một đám mây đột nhiên che kín mặt trăng và tất cả những gì vừa thật huyền diệu lập tức trở nên tối tăm và ghê rợn. Một cơn gió lốc cuộn tuyết tung lên quay cuồng xoáy ốc xung quanh ông, và gió bắt đầu gào rít. Khi ông nhận ra tiếng ồn chói tai của động cơ, chiếc trực thăng chẳng biết từ đâu hiện ra và rọi thẳng đèn pha vào ông khiến ông lóa mắt. Trong cử chỉ đưa tay lên bảo vệ mắt, ông giáo sư mất thăng bằng và ngã nhào ra ngoài khoảng không đúng lúc ba lính đặc công dùng dây tụt xuống từ trực thăng. Hai người đầu tiên khéo léo tiếp đất trên rìa vách đá. Người thứ ba chìm trong bóng tối như thể muốn đuổi theo người đàn ông gốc Armenia đang rơi. Nhưng Agop đã chộp được sợi dây của ông vào khoảnh khắc cuối cùng và người lính đặc công, bị bất ngờ, đã tuột qua ông đúng lúc y xả vào ông một tràng tiểu liên. Sợi dây ông giáo sư đang bám lấy bị kéo căng ra và lôi bật cái xác lên tận chỗ cái móc cài khoen được cắm vào vách đá phía trên ông, làm mất thăng bằng một trong hai tay lính đang đứng trên rìa đá, khiến tay này ngã lộn xuống dưới. Bị treo lơ lửng, một tay nắm chặt sợi dây không ngừng xoay tròn, Agop vùng vẫy để tránh kẻ lặng lẽ rơi sượt qua rồi đập vào gã thứ nhất vẫn đang loay hoay tìm cách lấy lại thăng bằng dưới ông năm mét để một lần nữa xả đạn vào ông. Loạt đạn xé toạc không trung, va đập vào vách đá và thân chiếc trực thăng. Trên rìa vách đá, tay lính thứ ba vẫn chưa đứng vững được còn sợi dây khiến chiếc trực thăng khó bề xoay xở. Ông giáo sư tận dụng cơ hội này để buông mình trượt xuống theo sợi dây đã thả, khiến đôi găng tay ông đang đi rách đến trơ sợi. Ông lao bừa xuống mặt đất, ngã ngửa trên xác gã lính thứ nhất khiến cú tiếp đất của ông êm ái hơn.

Gã lính còn sống sót đã móc được một chiếc khoen vào những sợi dây Agop buộc quanh cái xác mà gã thứ tư tòi lên bằng cách điều chỉnh sợi dây cáp cửa hông mở rộng của trực thăng. Chiếc trực thăng đã có thể di chuyển, và luồng sáng của đèn pha thoạt đầu chiếu vào gã lính bất động quay tròn ở đầu sợi dây, rồi chiếu sang gã lính nát bấy dưới đất. Gã thứ ba lúc này treo mình bên dưới trực thăng, khẩu tiểu liên Kalachnikov bên hông, tìm kiếm Agop. Rồi gã ra hiệu cho phi công thả mình xuống đất để thực hiện việc tời xác hai đồng đội lên. Trong suốt quá trình ấy, đèn pha tiếp tục soi tìm trong màn đêm. Trực thăng hạ dần xuống dọc vách đá và gã lính cuối cùng đu người lên càng đáp để leo vào chiếc máy bay đang lắc lư dữ dội. Đột nhiên, luồng sáng dừng lại.

“Đằng kia!” ai đó kêu lên.

“Cái gì vậy?”

“Tôi không biết. Hình như là một con trâu!”

“Đó là con bò Tây Tạng.”

Trong ánh sáng vằn vện do tuyết bị cánh quạt máy bay cuộn lên, con bò Tây Tạng nằm ngủ ẩn dưới một tảng đá lớn. Nằm dài trên bốn chân gập lại, nó chỉ hơi ngẩng đầu lên khi luồng sáng chĩa vào mình. Nó giữ nguyên bộ dạng đó vài giây, bất động, cố hiểu xem thứ gì khiến nó lóa mắt, rồi rụt đầu lại giữa hai vai để bảo vệ bản thân khỏi cái lạnh và ngủ tiếp.

“Nó làm cái quái gì ở đó vậy, chúng ta bắn nó chứ?”

“Mày không nghĩ thế này là chúng ta đã đủ thất bại thảm hại rồi sao hả? Phải tìm ra gã ở trên rìa đá lúc trước.”

“Quá muộn rồi. Quá nguy hiểm. Chúng ta sẽ trở lại sau.”

“Mẹ kiếp, thằng khốn đó đã giết hai người của ta!”

“Hắn sẽ phải trả giá cho việc đó.”

Tiếng động cơ rít lên gắt hơn và luồng sáng nhấc dần lên cao. Chiếc trực thăng tròng trành bay lên cao cho tới khi lên quá vách đá, xoay vòng bay tại chỗ, quay phần mũi có sơn hình hàm răng cá mập ra trước, rồi nhanh chóng biến mất trong màn đêm đã trở lại tối đen.

Giáo sư chờ lâu hết mức có thể trước khi nhúc nhích. Ông chạy tới chỗ Họng To với ý nghĩ cưỡi lên nó để chạy trốn, song nếu làm thế đám người kia hẳn sẽ phát hiện ra ông. Thay vì vậy, ông quyết định nằm dán xuống giữa tảng đá và con bò Tây Tạng, kéo nó lại gần để nó nằm xuống bên cạnh ông. Con vật gần như đè ông bẹp gí vào tảng đá, và ông những tưởng mình sẽ chết ngạt, song mẹo lừa đã thành công. Agop tin chắc con vật hiểu tình hình và nó đã diễn tròn vai một con bò Tây Tạng hoang bị đánh thức giữa giấc ngủ đông. Ngay khi Agop lách ra khỏi chỗ trốn, con bò Tây Tạng cũng nhổm dậy và gí cái mõm phì hơi của nó vào bụng ông. Ông giáo sư choàng tay ôm lấy cái đầu to tướng của nó rồi áp má vào lớp lông dày. Rồi ông xin lỗi, giải thích về cơn mệt mỏi của mình cũng như cú sốc của vụ tấn công, và ông nắm lấy những túm lông dài của con bò để leo lên lưng nó, không cần nói gì thêm để con bò quay trở về bảo tàng bằng những bước chân chậm rãi và chắc chắn.

“Voltaire, là người thực ấy chứ không phải con chim,” ông giáo sư thì thầm vào tai Họng To, “hắn sẽ nói rằng ta vừa tiệm cận khoảnh khắc các triết gia và đám ngu ngốc cùng có chung định mệnh. Nhưng mày biết gì về cái chết chứ, con vật tốt bụng? Chúng ta muốn trở lại trang của số mệnh nơi ta yêu, và trang nơi ta chết thì đã ở dưới các ngón tay ta, mày biết ai đã viết thế không? Không, tất nhiên rồi, mày đâu có biết Lamartine! Vậy để tao giải thích cho mày: Lamartine…”

Họ phải mất nhiều giờ vừa đi đường vừa giảng giải về chủ nghĩa lãng mạn Pháp để về tới bảo tàng. Ông giáo sư rất cần tới tinh thần của các nhà Khai sáng cùng sự lắng nghe của Họng To để xua đi nỗi sợ. Ông buông mình trượt theo bộ lông thô ráp dính đầy sương giá, tay vẫn ôm lấy cổ con bò Tây Tạng, rồi nhìn nó biến mất vào màn đêm với bước đi hờ hững song không hề do dự. Nó đang quay về nhà, và với nó nhà là bất cứ nơi nào trên thảo nguyên. Khi con vật đi khuất, ông giáo sư cũng quay về nhà mình. Ông buông mình xuống chiếc phô tơi cũ và nỗi kinh hoàng của những gì ông vừa trải qua khiến ông đột ngột nức nở run lên bần bật.

Khi đã trấn tĩnh lại được, sau một ngụm lớn artz, ông tìm điện thoại di động và gửi một tin nhắn cho viên thanh tra Yeruldelgger kỳ dị kia.

Lê Đình Chi dịch • Les Temps Sauvages • (Yeruldelgger, #2)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Ian Manook

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.