Thời Hoang Dã

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
# 25 … hãy tới Sở Cảnh sát gặp ông ấy.

❊ ❊ ❊

“Giữ chó của chị lại đi!”

Solongo quay lại. Saraa đang đứng trước cửa lều.

“Bố em có đây không?” cô gái hỏi.

“Không, ông ấy ra ngoài rồi.”

“Chị biết khi nào bố em về không?”

“Em biết Yeruldelgger mà!” Solongo vừa đáp vừa nhướng mày. “Không có gì nghiêm trọng chứ?”

“Em có vài thứ cho bố em. Chị có kết nối Internet không?”

“Đương nhiên, lại đây nào.”

Saraa bước qua ngưỡng cửa rồi đóng cửa lại. Cô thích căn lều này cũng như cách Solongo trang hoàng nó. Vị trí đặt mỗi món đồ đều tôn trọng truyền thống, và mỗi đồ vật đều được bố trí để không mạo phạm tới linh hồn những người từng sống ở đây. Cho dù nó quá rộng để có thể là lều của một gia đình du mục. Các bức vách được ghép từ mười hai tấm lưới mắt cáo thay vì năm tấm như thường lệ. Nhờ đó bên trong rộng một trăm hai mươi hai mét vuông mặt sàn có thể sử dụng và nói chung thường được dùng làm nhà hàng, nhất là từ khi xuất hiện luồng khách du lịch phương Tây. Phải dùng tới một trăm sáu mươi hai tấm ván, gấp đôi so với một căn lều bình thường, để chống đỡ lớp vải và dạ của nóc lều. Bếp được bố trí ở đúng trung tâm, giữa hai cây trụ chống cho vòng nóc lều bằng gỗ sơn chạm trổ đóng vai trò gánh đỡ cả mái. Những tấm ván sơn màu cam sáng rực rỡ từ hình tròn trên nóc lều tới tận các vạt tường, như thể một mặt trời sưởi ấm và chiếu sáng bên trong căn lều.

Ở lối vào, Solongo treo túi da đựng sữa ngựa cũng như mấy cái muôi và rây dùng để chế biến sữa và lên men món sữa chua ngựa. Ở góc trong cùng, đối diện với cửa vào về hướng chính Nam, là chiếc giường của chủ nhà. Một chiếc giường kiêm rương đựng đồ bằng gỗ sơn được trang trí cầu kỳ, cao và đồ sộ, bọc vải màu sáng, và được dùng như trường kỷ vào ban ngày. Từ cửa vào, toàn bộ phần bên trái được dành cho khách, với một chiếc giường khác tương đương về mọi mặt với chiếc giường thứ nhất. Sự sai khác duy nhất so với truyền thống mà Solongo đã chấp nhận, đó là việc bố trí ở phần bên phải một phòng tắm đằng sau tấm bình phong, và một bàn làm việc ở bên phải cửa vào. Nhưng tất cả đồ đạc, kể cả bàn làm việc và tấm bình phong, đều bằng gỗ sơn màu cam chủ đạo và trang trí những họa tiết hình học truyền thống. Lớp vải căng trên trần để mộc không họa tiết, nhưng bức vách vòng quanh lều được căng vải xanh lục như màu của thảo nguyên. Sàn lều cũng bằng gỗ sơn như ván nóc, và một sai biệt nữa so với truyền thống là việc trải ba tấm thảm nhỏ theo phong cách Kazakh bên dưới cái bàn thấp to kê trước bếp.

“Em sẽ cho chị xem một thứ,” Saraa vừa nói vừa ngồi xuống trước màn hình rộng của chiếc Mac Pro của Solongo.

Cô gõ bàn phím như múa và cho hiện lên trang blog Ovooïd của mình.

“Bố em đã kể với chị về blog của em rồi,” Solongo nói và tựa người vào lưng ghế. “Chị tin là em đã gây ấn tượng cho ông ấy với cái này đấy.”

“Bố em không hề nói với em như thế.”

“Bố em là thế mà, em biết quá còn gì!”

“Nếu ông ấy chẳng bao giờ để lộ chút cảm xúc nào, hẳn ông ấy là một người tình nhạt nhẽo phải không?”

Solongo vừa mỉm cười vừa khẽ cốc lên đầu cô gái.

“Người ta không nói như vậy về bố mình!”

“Với em ấy à, trong những khoảnh khắc đó, Steeve nói chung lại khá là biểu cảm!” Saraa khiêu khích.

“Nghe này, chúng ta có thể nói mấy chuyện phụ nữ riêng tư này vào một ngày khác. Còn hiện tại, nếu được, tốt hơn em hãy để phức cảm Oedipus của em sang một bên để cho chị biết em tới vì cái gì.”

“Đó là vì Ganshü. Bọn em đã nhận được những bức ảnh này. Chị nhìn xem…”

Saraa gõ vài từ khóa tìm kiếm lên bàn phím và nhiều bức ảnh chụp xuất hiện chồng lên nhau trên màn hình.

“Ganshü, đó có phải là cậu con trai của Colette không?”

“Phải, cậu nhóc đã biến mất. Chị nhìn xem, cậu ấy đây…”

Solongo quan sát bức ảnh, có vẻ được chụp trong một quán cà phê bài trí tồi tàn. Trong ảnh là một cậu thiếu niên được chụp thẳng mặt, đang ngồi tại bàn trước món đồ uống hẳn là một cốc trà, hai bàn tay ôm cái tách vẫn còn bốc hơi. Không thể đoán biết điều gì về người đàn ông đang nói chuyện với cậu và ngồi quay lưng về phía ống kính, song cậu thiếu niên lắng nghe ông ta rất chăm chú. Không có chút sợ hãi nào trong ánh mắt. Ngược lại, đó là vẻ ngưỡng mộ háo hức. Saraa bấm vào các ô chọn ở phía trên mỗi bức ảnh rồi cho chúng hiển thị trên màn hình. Hai bức ảnh nữa chụp trong một nơi hóa ra là quán trà. Trong bức ảnh thứ hai, cậu thiếu niên đang ngơ ngẩn trước chiếc ấm xa mô va to đánh bóng sáng loáng ngự trên quầy. Trong bức ảnh thứ ba, cậu ta cười hình phản chiếu méo mó của mình trên lớp kim loại ánh đồng. Những bức ảnh khác được chụp ngoài đường, trước hoặc sau khi Ganshü và người đàn ông đi vào và ra khỏi quán trà. Không có bức ảnh nào trong đó cậu nhóc có vẻ bị người đàn ông đi cùng mà họ không bao giờ thấy mặt khống chế hay đe dọa.

“Mấy bức ảnh này chụp khi nào vậy?” Solongo hỏi. “Trông cậu nhóc có vẻ thoải mái và vui vẻ!”

Saraa bấm cùng lúc hai phím trên bàn phím và cho hiển thị các thông tin liên quan tới một bức ảnh.

“Bức này chụp được mười lăm hôm rồi,” Saraa vừa giải thích vừa chỉ lên ngày tháng hiển thị trên màn hình.

“Và chúng ta biết được nó đã được chụp ở đâu à?”

“Vâng. Trong thông tin về bức ảnh mà em thu thập được, có các thông số tọa độ GPS của thiết bị chụp. Khi chị nhập những thông số này vào Google Maps, chị sẽ gặp cái này…”

Saraa gõ một chuỗi con số vào chương trình tìm kiếm và trên màn hình hiển thị một bản đồ phía Bắc đất nước. Con trỏ chỉ vào một thành phố nằm về phía Bắc biên giới, trong lãnh thổ Nga.

“Krasnokamensk?”

“Phải, chị biết thành phố này sao?”

“Không hẳn. Đó là nơi giam giữ Khodorkovski, nhà tài phiệt đã kiểm soát nguồn khí đốt của Nga trước đó. Đó là tất cả những gì chị biết. Dù thế nào đi nữa bức ảnh này chứng tỏ rằng Ganshü còn sống, phải không?

“Nó chỉ chứng tỏ là cậu nhóc vẫn còn sống một tuần sau khi mất tích, nhưng ai biết được từ khi đó tới giờ đã có thể xảy ra chuyện gì.”

“Có thể chẳng có gì.”

“Nếu thế vì sao ta lại không có tin tức gì về cậu ấy? Cả về Gantulga nữa?”

Solongo ngồi xổm xuống cạnh Saraa, cầm lấy hai bàn tay cô gái trẻ trong tay mình, buộc cô gái phải nhìn thẳng vào mắt cô.

“Nghe này, Saraa, nếu em nói cho chị biết mọi điều em biết về Ganshü, Gantulga và Ovooïd, có thể điều đó sẽ giúp ích được chúng ta.”

Saraa nhìn thẳng vào mắt cô và do dự hồi lâu trước khi thú thực.

“Ganshü muốn ra đi. Em ấy muốn sống ở nơi nào khác ngoài Mông Cổ. Steeve và em đã quyết định biến việc này thành một chủ đề cho Ovooïd. Tại sao một cậu bé lại nghĩ mình không có tương lai ở đây? Tại sao cậu ấy lại mơ tới một Thiên đường ở nơi khác? Tại sao tình yêu thương của Colette vẫn là chưa đủ với cậu ấy? Làm thế nào cậu ấy có thể tin mình có thể ra đi thành công? Ovooïd là thế đấy, một blog về những gì đang làm Mông Cổ suy sụp.”

“Vậy thì sao?”

“Thế là bọn em nhận ra rằng Ganshü không chỉ mơ về điều đó. Em ấy đã sẵn sàng ra đi. Một buổi tối, em ấy có nói với bọn em là sẽ làm thế nhưng không muốn bọn em quay phim mình nữa. Em nghĩ em ấy đã liên hệ được với một đường dây đưa người di cư bất hợp pháp. Từ hôm đó, Ganshü đã thay đổi và lẩn tránh bọn em.”

“Em có biết gì thêm về đường dây này không?”

“Không. Em biết em ấy muốn đi Pháp. Em đoán rằng Colette đã vẽ nên một viễn cảnh hấp dẫn về đất nước này. Bọn em đã nhận diện được một hai gã mà em ấy ngày càng hay gặp gỡ. Những kẻ buôn bán ma túy lậu ở khu em ấy sống. Một gã người Touva và một người Nga…”

“Một người Nga?”

“Vâng, hay chí ít em tin là thế…”

“Còn Gantulga, cậu ta liên quan gì đến chuyện này?”

“Ban đầu, chính cậu ấy đã giới thiệu Ganshü với Colette. Ganshü là thành viên ít tuổi nhất trong nhóm của Gantulga khi cậu ấy còn lang thang ở các quận phía Bắc trước lúc gặp Oyun. Em đoán bố Yeruldelgger hẳn đã kể với cậu ấy về Colette và việc cô này muốn có con. Cậu ấy muốn lấp đầy sự trống trải của Colette, đồng thời đem đến cơ hội cho cậu nhóc. Ganshü sống vạ vật ở sảnh các tòa nhà tập thể và các cống ngầm của thành phố. Gantulga chắc đã nghĩ cậu nhóc sẽ hạnh phúc hơn khi sống với Colette.”

“Và không phải thế à?”

“Em không biết. Có lẽ cô ấy đã nói quá nhiều với cậu nhóc về nước Pháp chăng?”

“Còn Gantulga, cậu ta làm gì trong thành phố vậy? Chị cứ nghĩ Yeruldelgger đã gửi cậu ta tới theo học tại Đệ thất Thiền viện rồi chứ?”

“Vâng, nhưng cậu ấy cứ mười lăm ngày lại về thành phố hai hôm. Em nghĩ cậu ấy muốn cứu giúp vài đứa trong nhóm bạn cũ.”

“Gantulga mất tích bao lâu rồi?”

“Gần như cùng lúc với Ganshü, chỉ cách nhau có vài ngày. Chính em đã báo cho cậu ấy biết. Cậu ấy muốn xem tất cả những đoạn phim bọn em đã quay về Ganshü, rồi rời đi không hỏi gì. Đó là lần cuối cùng chúng em gặp cậu ấy.”

“Đáng lẽ em phải báo ngay cho bố em.”

“Đúng thế, em biết ông ấy còn quan tâm tới Gantulga hơn cả em và thế nào cũng sẽ bực em.”

“Đừng nói thế. Rồi có ngày em sẽ hiểu ông ấy yêu em đến mức nào và đã chịu đựng những gì vì em. Khi mẹ Uyunga của em bị mất trí sau cái chết của Kushi, em gái em, ông ấy chỉ còn lại một mình chống lại tất cả…”

“Đừng có nhắc lại với em về những chiến công gần đây của bố em nữa, xin chị đấy!” Saraa khó chịu.

“Không chỉ có vậy đâu. Có cả triệu bằng chứng khác về tình yêu bố em dành cho em mà một ngày kia em sẽ hiểu. Trong lúc chờ đợi, em cần cho ông ấy xem những bức ảnh này càng sớm càng tốt. Nhưng đừng làm cho mọi thứ quá riêng tư, hãy tới Sở Cảnh sát gặp ông ấy.”

Lê Đình Chi dịch • Les Temps Sauvages • (Yeruldelgger, #2)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Ian Manook

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.